Thứ Tư, 10 tháng 7, 2019

SÁNG TÁC CỦA NGỌC GIAO TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

Văn học sinh thái được hình thành dựa trên cơ sở những biến đổi theo chiều hướng xấu đi của môi trường sinh thái. Các nguy cơ sinh thái của con người không chỉ là thảm họa thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nước, không khí, tiếng ồn, thức ăn...; mà cả những điều kiện bất lợi cho đời sống tinh thần. Khảo cứu văn học Việt Nam hiện đại, chúng tôi nhận thấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, những tiếng kêu cứu cho con người đã khẩn thiết cất lên xuất phát từ những nhìn nhận sâu sắc về bản chất con người và các nguy cơ sinh thái đe dọa sự sống của họ. Ngọc Giao là một trong số đó.
Nhà văn Ngọc Giao

Trong bối cảnh các thảm họa môi trường diễn ra ngày một dày đặc hơn, sự sống tự nhiên bị tàn phá dẫn tới nhiều biến đối khí hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống của con người như hiện nay, việc “phát động” một cuộc “ra quân” nghiên cứu văn học từ lý thuyết sinh thái là một sự “phản ứng” kịp thời và có ý nghĩa thiết thực. Ở lĩnh vực sáng tác, vấn đề sinh thái không phải đến bây giờ mới được đặt ra. Từ trong cảm thức, nhiều nhà văn Việt Nam, trong những bối cảnh sinh thái nhất định, đã ít nhiều lên tiếng về điều này. Do vậy, việc dùng quan điểm của phê bình sinh thái để nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam cũng là có cơ sở. Trong phạm vi quan sát của mình, chúng tôi chọn nói về Ngọc Giao – nhà văn có một hành trình sáng tác bền bỉ, khỏe khoắn, trải dài gần hết thế kỷ XX với nhiều băn khoăn về môi trường sinh thái của con người.

Trước hết, phải nói ngay rằng, những sáng tác của Ngọc Giao mà chúng tôi nói đến ở đây phần lớn xuất hiện từ khi nhân loại còn chưa bước vào thời đại văn học sinh thái. Bởi vậy, sẽ thật khiên cưỡng nếu vận dụng lý thuyết mới mẻ này vào nghiên cứu các tác phẩm của ông. Trên tinh thần của phê bình sinh thái, chúng tôi chỉ xin nêu một vài luận điểm xung quanh vấn đề sinh thái và lấy đó làm định hướng để nghiên cứu trường hợp này.

Môi trường sinh thái được hiểu là môi trường mà ở đó các sinh vật được sống như là chính nó. Giản dị nhất để có thể hình dung, là cách nói của nhà thơ Tố Hữu: “Con ong làm mật, yêu hoa/ Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời” (Tiếng ru). Từ cách hiểu này, có thể thấy, trong vũ trụ, con người là sinh vật phức tạp nhất. Ngoài đời sống tự nhiên, con người còn có phần đời sống xã hội, đời sống tâm linh vô cùng phức tạp, phong phú. Bởi vậy, môi trường sinh thái để con người sống cho ra con người không chỉ bao gồm những điều kiện tự nhiên, mà còn cả các điều kiện xã hội, văn hóa, tinh thần.

Văn học sinh thái được hình thành dựa trên cơ sở những biến đổi theo chiều hướng xấu đi của môi trường sinh thái. Các nguy cơ sinh thái của con người không chỉ là thảm họa thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nước, không khí, tiếng ồn, thức ăn...; mà cả những điều kiện bất lợi cho đời sống tinh thần. Từ hình dung này, có thể thấy, có vô vàn nguy cơ sinh thái tinh thần khác trong sự sống của con người, chẳng hạn: sự thay đổi môi trường sống, chiến tranh, ly tán, mất người thân, bị hắt hủi/ngược đãi, bị đọa đày, bị xúc phạm nhân phẩm, bị ép buộc, cấm đoán... Tuy vậy, lâu nay, những nguy cơ về sinh thái tự nhiên vẫn được quan tâm hơn, được xem như là yếu tố quan trọng nhất, có những ảnh hưởng mang tính chất quyết định đối với sự sống của con người. Có lẽ vì thế mà thời đại văn học sinh thái của nhân loại mãi đến nửa sau thế kỷ XX mới chính thức hình thành[1]. Nhưng rõ ràng, từ nhiều thế kỷ trước, nhiều nhà tư tưởng, nhà văn đã thức tỉnh điều này. Khảo cứu văn học Việt Nam hiện đại, chúng tôi nhận thấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, những tiếng kêu cứu cho con người đã khẩn thiết cất lên xuất phát từ những nhìn nhận sâu sắc về bản chất con người và các nguy cơ sinh thái đe dọa sự sống của họ. Ngọc Giao là một trong số đó.

Ngọc Giao sinh năm 1911, mất năm 1997, thuộc trong số những nhà văn hiện đại được Vũ Ngọc Phan giới thiệu trong công trình nổi tiếng xuất bản lần đầu năm 1944: Nhà văn hiện đại. Khởi nghiệp từ chức thư ký tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy, Ngọc Giao được biết đến đầu tiên là nhà văn của những truyện ngắn đậm chất trữ tình. Hơn ba trăm truyện ngắn của Ngọc Giao, phần lớn ra đời trước cách mạng tháng Tám, đã được in trong ba tập truyện nổi tiếng là Một đêm vui (1937), Phấn hương (1939) và Cô gái làng Sơn Hạ (1942). Truyện ngắn của Ngọc Giao thường được cấu trúc như là những tiếng nói của cái tôi trữ tình giàu lòng trắc ẩn. Ông tỏ ra không quan tâm đến cốt truyện. Bởi vậy, cốt truyện thường lỏng lẻo, mờ nhạt, khó xâu chuỗi. Dấu ấn tình cảm, cảm xúc và trạng thái tinh thần của người kể chuyện thường đậm hơn, chiếm phần nhiều hơn so với các biến cố, sự kiện. Quan tâm đến lớp người dưới đáy xã hội, những người không may mắn/chịu nhiều thiệt thòi, bị ruồng rẫy/bỏ rơi, Ngọc Giao đã viết về họ bằng tất cả tình cảm của một nhà văn hiểu sâu sắc thế nào là giá trị con người. Do vậy, truyện của Ngọc Giao có thể không ngay lập tức tạo ra ở người đọc những trạng thái cảm xúc dữ dội, bất ngờ, nhưng mỗi câu chuyện đều để lại một dư vị sâu lắng, da diết. Các tiểu thuyết của Ngọc Giao như Nhà quê (1944), Quán gió (1948), Đất (1950), Xã Bèo(?), Cầu sương (1953), Xóm Rá (1957)... đã cho thấy sự đa dạng về đề tài. Không chỉ thể hiện nỗ lực của nhà văn trong việc chiếm lĩnh một thể loại mới và khó là tiểu thuyết, các sáng tác này của Ngọc Giao còn thể hiện những góc nhìn rất mới về hiện thực và con người.
Qua sáng tác của Ngọc Giao, nhất là hai tiểu thuyết Nhà quê và Đất, dù chưa thấy ông nhắc đến hai chữ “sinh thái”, người đọc vẫn nhận thấy một cảm thức sinh thái hiện ra thật rõ. Với tinh thần đọc lại người xưa để tìm ra những ý nghĩa sinh thái từng bị che lấp, từ góc độ phê bình sinh thái, chúng tôi nhận thấy mấy luận điểm cơ bản trong sáng tác của Ngọc Giao như sau:

1. Không gian thôn quê là một không gian đáng sống

Nhà quê là tiểu thuyết đầu tay, thể hiện sự nỗ lực vượt lên chính mình sau nhiều truyện ngắn đã được người đọc ít nhiều biết đến của Ngọc Giao. Tác phẩm được viết theo cách không trực tiếp tác động vào thị hiếu thiên về giải trí của phần đông độc giả là thị dân đầu thế kỷ XX. Nó là cuốn tiểu thuyết chọn người đọc. Vào thời điểm ấy, phải là người đọc có năng lực thẩm mỹ và tình yêu văn chương nhất định, hay nói như cách của Thạch Lam, phải là “hạng độc giả thích suy nghĩ, thích tìm trong sách những trạng thái tâm lí giống tâm hồn mình”, mới tìm đọc tác phẩm này. Điều dễ nhận thấy trong Nhà quê là Ngọc Giao đã miêu tả thiên nhiên như một phần rất quan trọng trong cuộc sống của con người. Thái – nhân vật chính của tiểu thuyết – rất lâu rồi mới trở về quê, định dứt khoát bán nốt phần đất đai còn lại của gia đình rồi sẽ ra ngay Hà Nội. Nhưng không gian thôn quê, nhất là ngôi nhà nhiều cảnh vật quen thuộc, đã khơi dậy trong lòng Thái những kỷ niệm cũ gắn liền với tuổi thơ và những người yêu dấu, đặc biệt là người mẹ.

Đầu tiên là “Chiếc cổng gạch rêu phong cũ kỹ anh vừa qua đã sụt nửa mái trông rõ cả một mảnh trời và một bên tường nứt vỡ chờ ụp hẳn. Thái thấy nao nao trong tâm trạng của kẻ đã lâu ngày xa bỏ đất cát cha ông để rồi có một buổi trở về[2]. Sự hoang tàn của “căn nhà xưa yêu dấu” tiếp tục lên tiếng khi Thái được ông già Bút – người quản gia già của gia đình – đưa vào buồng ngủ: “Mùi ẩm hôi hám của chân tường, gậm phản, bàn ghế cũ nát xông lên khó chịu. Ngả lưng xuống lá chiếu do ông Bút mới thay, Thái hoang mang nhớ xưa kia bà mẹ đã sinh anh ở gian phòng này, và ngày ốm, bà đã nằm, đã chết ở đây[3]. Cảnh ấy nhắc Thái về hơi ấm của người, về một bàn tay chăm sóc khi còn chưa quá muộn. Cùng với đó, bao nhiêu kỷ niệm gắn với những người thân yêu của gia đình đã lần lượt hiện ra. Là chiếc nồi đất chứa rau của mẹ khi sinh Thái đã tình cờ bị ông Bút cuốc phải. Lời nhắc nhở của người quản gia khiến Thái bùi ngùi, khổ sở: “Anh nhặt những mảnh nồi đất vụn cầm lên mâm mê và ngửi. Mùi đất, mùi đất thơm. Thái tưởng như thịt máu cha mẹ, thịt máu mình, lại lẫn vào đó cả một thứ cỏ gì quý hiếm[4]. Là chiếc túi gấm đựng quân cờ của cha mà có lần hai mẹ con từ làng lên huyện, đi bộ mất nửa ngày trời chỉ có mỗi việc đưa ông thân chiếc túi ấy thôi. Là chiếc gối xứ tàu xưa kia cha Thái đã đặt mái tóc sương ngày lui về...

Thiên nhiên làng quê và cách sinh hoạt của người dân quê cũng đem đến cho Thái nhiều cảm giác thật dễ chịu. Khi là làn gió mát ở ao sau lùa vào song cửa, thoảng mùi hoa chanh. Khi là mùi hương đất khiến Thái có cảm tưởng hơi đất thơm chuyển vận mạch máu anh mạnh hơn. Khi là cây sung già “thân đã khô quặn lại, nhưng quả lớp này tiếp theo lớp khác vẫn còn xanh mọng và lớp lá dầy tươi tốt đang reo rào rào trên đầu Thái[5]. Khi là chậu nước mưa trong vắt, mát rượi làm dịu vầng trán nóng. Rồi chiếc lược chải tóc bằng gỗ của Dậu, bữa cơm gạo đỏ với canh mướp nấu cua, sung muối, cháo khoai, bún đậu... Tất cả đều tạo nên ở Thái những cảm xúc mới mẻ, khác hoàn toàn với bát cơm gạo tám trắng như bông, những món thịt xào hạnh nhân, gà rán, canh nấm Chapa, bóng thủ, giò lụa; những đôi đũa bịt bạc, bát mẫu Giang Tây bày trên chiếc mâm đồng đánh bóng... của vợ Thái.

Nhưng điều làm cho Thái thực sự cảm động là sự nâng niu, trân quý, gìn giữ của ông Bút đối với những kỷ vật của gia đình: “Bức hoành phi nền gấm, những đôi câu đối vàng son nước sơn tuy đã cũ, nhưng nét chữ do ông thân Thái viết vẫn còn lưu giữ cái tài và cái tình của một ông chủ khoa lỗi lạc. Chiếc túi gấm đựng quân cờ của ông thân anh do tay bà mẹ anh khâu, ông Bút vẫn còn kính cẩn treo bên cái quang xách làm bằng trúc[6]. Ngay cả chiếc mâm vuông chân quỳ sơn non và chiếc lồng bàn thép cũ do mẹ Thái sắm ngày xưa vẫn được ông Bút giữ gìn, chưa hề hư hỏng.

Tất cả những điều này đã tạo nên một cảnh giới khác hoàn toàn với môi trường Thái vẫn sống lâu nay. Nó khiến Thái đi đến một quyết định gây bất ngờ cho ông Bút và cả vợ Thái là ở lại nhà: “Không những sửa chữa lại nhà cửa, tôi còn chung sức với ông bón xới những miếng đất còn bỏ không kia để trồng các thứ rau[7]. Bằng quyết định này, Thái đã tự điều chỉnh lại vị thế của bản thân. Nước da với những đường gân xanh nổi rõ dần chuyển sang màu dám nắng khỏe khoắn. Trong mắt ông Bút, Thái không còn là một cậu chủ bội bạc và vô dụng, “chỉ về để phá hoại mảnh đất này”, mà trở thành người kế thừa và tiếp tục tạo dựng gia tài cha mẹ để lại. Vợ Thái và ba đứa con trai ở thành phố cũng không còn giữ vị trí trung tâm của gia đình như trước đây, mà chỉ sau ít lâu đã phải chủ động về quê thăm Thái. Trong cuộc tìm lại chính mình của Thái, sinh thái thôn quê giữ vai trò quyết định.

Cũng ở môi trường nhà quê, Thái có điều kiện để nhìn nhận một cách bình đẳng về mọi người xung quanh. Thái thấy giữa vợ mình và những người quê như ông Bút, cô Dậu, có nhiều điểm khác biệt. Ông Bút sống ở nhà quê, hiền lành đến nỗi “với ai, ông cũng nhịn. Nhịn từ con chó đến đứa trẻ trong xóm, ngoài làng”. Thái thường thấy ông điềm đạm “dạ” khẽ hay “nín lặng” ngay cả khi vợ Thái đay nghiến những điều không đáng. Ông yêu đất đai, ruộng vườn bằng một tình yêu máu thịt. Ông đã đổ ra biết bao nhiêu công sức để từ đất, sự sống được sinh sôi: “Những ngọn cau sai buồng, những cây bưởi, cây cam trĩu quả... cả một khu trại lá xanh reo sự sống. Chính ông đã gây sự sống cho cây cối, chính ông đã gây màu cho đất cát. Chính ông từ ba mươi nhăm năm nay đã trần lực ra khai nhát cuốc đầu tiên, biến một khu đất cỏ đầy ra một mảnh đất phì nhiêu, cây cối tốt tươi như ngày nay[8]. Dậu – con gái ông Bút – vừa hồn nhiên, tươi trẻ, như cái cây tràn đầy nhựa sống; vừa ý tứ, tế nhị. Tuy chênh lệch về tuổi tác, trình độ, địa vị, nhưng giữa Thái và Dậu có sự đồng điệu trong tâm hồn, cùng hướng đến và trân trọng những giá trị đích thực của đời sống, những điều chỉ có thể hiểu và cảm nhận bằng tâm hồn trong sáng, tình nghĩa, vượt lên trên những giá trị vật chất tầm thường. Trong khi đó, Nghĩa – vợ Thái – luôn sẵn lời mắng mỏ, miệt thị, khinh khi. Đức thực thà, nhẫn nhịn, trung thành của ông Bút, Nghĩa không biết đến. Trong mắt Nghĩa, Dậu chỉ là một đứa đầy tớ, hay con của một kẻ đày tớ mà thôi. Đối với Nghĩa, việc hưởng thụ những vật chất đủ đầy và sang trọng là lạc thú lớn nhất của cuộc đời. Thái biết rõ căn nguyên của nó: “Người đàn bà ấy xuất thân ở một gia đình cổ, cha ông khởi nghiệp bằng hai bàn tay trắng trong nghề buôn bán. Cô gái, bé bắt đầu lẫy, bò, rồi ngồi, rồi đi trên đống bạc; nhớn, đi học qua quít vài ba năm cho đến hăm hai tuổi lấy chồng, cô gái con buôn suốt ngày chỉ nghe đến chuyện thêm cân bớt lạng, thề gian hứa dối; suốt tháng chỉ nhìn những cái hạng người, hạng vật thuộc về sự lờ lãi, thiệt hơn, thì làm gì còn có tình cảm tế nhị, làm gì còn có lòng nhân hậu, nhân ái nữa.”[9]. Với “người đàn bà của số kiếp” ấy, cuộc sống của Thái là một chuỗi những tháng ngày u tối, quằn quại, cách biệt... Vậy nên, việc quyết định ở lại nhà, ngoài mục đích giữ gìn di sản cha mẹ để lại, Thái còn muốn được trở về sống là chính mình, trong cái bầu khí quyển mà Thái đã từng sống (một gia đình mà ông bố làm quan nhưng nhà vẫn túng nghèo, bà mẹ vợ quan mà không bao giờ nghĩ đến sự hưởng thụ cuộc đời trưởng giả, không hề sống một ngày ở huyện với chồng), để không phải “hằn học sống, điên cuồng sống” trong sự bất công, ích kỷ và thói trưởng giả kiêu bạc. Cuối cùng, chính trong cảnh giới làng quê, sau khi đã cảm nhận thật sâu những vẻ đẹp nguyên sơ, trong trẻo cùng những uẩn ức, nỗi u buồn của nó, Thái với tư cách một trí thức, đã cân bằng được mối quan hệ giữa mình với thế giới, đã tìm thấy được sức mạnh tư tưởng của mình: “Thái nghĩ đến một quyển sách, ước ao có ngày viết được. Cuốn sách sẽ không là váng nước, bọt mưa lâu nay Thái thấy rất nhiều ở các thư quán. Cuốn sách phải là xương máu những cuộc đời[10].
Tương tự như gia cảnh hiện tại của Thái, Vĩnh – bạn thân Thái, có một “gia đình lộng lẫy” ở Hà Nội với một “ông bố chỉ khoái ngồi ngắm đôn Tàu, chóe cổ; mẹ thì chỉ thích xếp bằng tròn như đụn rạ trên sập gụ khảm để cho vay và khoe bằng cấp của anh con trai nhỏ, cơ nghiệp của anh con trai lớn; còn người chị thì tự nhiên rẫy chồng chê là đào mỏ để bây giờ về ngự xe nhà giúp bà mẹ đi thúc nợ, ngồi vắt vẻo ở sa lông để phê bình quần áo của lũ giai gái lượn qua trước cửa.”[11]. Nhưng cuộc sống đó không hề làm cho Vĩnh thấy hạnh phúc, trái lại, nhiều khi vì nó mà Vĩnh phát xấu hổ và phải trốn chạy. Trong mắt Vĩnh, cuộc đời Diễm – người bạn nghèo khổ về vật chất mà giàu có về tư tưởng, tâm hồn – mới là cuộc đời đáng sống: “Thằng Diễm như ốc bể trôi dạt trên bãi cát, bé nhỏ thế thôi, mà trong lòng nó chứa đựng cả sóng gió của biển”; “Nó mới đáng là một con người đúng nghĩa. Cơm rau áo vải, học lực cao, kiến thức rộng, từng trải lại nhiều. Nó sống như cây thông. Mình là lau, là sậy![12].

Khác với Thái và Vĩnh, cha Thái ngay từ khi còn ở chốn quan trường, đã nhận thấy nó chẳng có gì vui cả, “chẳng ra làm sao cả”. Gặp vợ con từ làng lên huyện thăm chồng, ông chỉ hỏi han và dặn dò: “Cái gốc mai bên tường hoa, bà nhớ dặn ông Bút bón tưới luôn mới được. Cái bụi trúc ao sau nữa, trận bão vừa rồi có bị hại không? Bụi trúc Nga my hiếm lắm đấy, tôi chỉ lo bờ ao lâu ngày sụt lở, hỏng mất thì đáng tiếc[13]. Còn mẹ Thái, trước đề nghị của chồng là để con ở lại với mình cho vui, bà trả lời: “Nên cho con nó ở làng, ông ạ. Cái sinh khí ở đây tôi nghe không thuận cho sự giáo huấn con trẻ”.

Có thể thấy, ngữ cảnh sinh thái trong tiểu thuyết này của Ngọc Giao chính là thời hiện đại, là bối cảnh đô thị hóa, tư sản hóa đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đã tiến hành khai thác thuộc địa. Lối sống tư sản với tinh thần hưởng thụ và chủ nghĩa tiêu dùng đã hình thành tại các đô thị lớn. Nhiều người đã nghe theo tiếng gọi của đời sống vật chất thường thấy nơi thành thị mà quên mất cuộc sống bình dị, mộc mạc, gần gũi với tự nhiên ở nhà quê. Trong môi trường đô thị, trở thành những kẻ nghiện hưởng thụ tầm thường, con người cũng mất luôn những căn tính sơ khởi của tâm hồn. Vợ Thái và những người như bà Vĩnh Thịnh, bà Tham Chương, bà Quảng Phát, cha mẹ Vĩnh... thuộc vào loại “con người không thể độ qua u nhã được nữa, con người mất đi sức mạnh cổ điển và siêu việt về tinh thần, con người chỉ là dã thú có cái đầu văn minh thục mạng trong thế giới tham vọng vật chất[14]. Trong ngữ cảnh ấy, Nhà quê có ý nghĩa phản tỉnh một xu thế nổi lên khá rõ đầu thế kỷ XX là tập trung về đô thị - nơi mà phần đông những người thất nghiệp, đói ăn cho rằng họ có thể dễ dàng kiếm sống và phần đông trí thức tiểu tư sản cho rằng họ sẽ có điều kiện để phát huy hết những năng lực nhân tính của mình. Như thế, tuy không trực diện bàn tới các vấn đề dễ nhận thấy của văn học sinh thái, nhưng tác phẩm của Ngọc Giao đã thể hiện một trí tuệ sinh thái, một tư duy sinh thái ở chiều sâu.

2. Chiến tranh không chỉ tàn phá sinh thái tự nhiên, mà còn hủy diệt cả sinh thái tinh thần của con người
Ngữ cảnh sinh thái trong tiểu thuyết Đất của Ngọc Giao lại là cuộc xâm lược lần thứ 2 của thực dân Pháp vào đất nước ta. Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết là Xã Bèo – một người nông dân cần cù, lam lũ và yêu đất hơn cả sự sống của chính mình. Xã Bèo xuất thân nghèo túng, nhờ chăm chỉ và ra sức dành dụm, chắt bóp, lại thêm “được mồ được mả ra sao” mà mới có một năm trời trở lại đã tậu được vài sào ruộng tốt, mua được con trâu, ngâm bè tre và nay lại mới tậu được thêm mảnh vườn bương nữa. Nhưng niềm vui rửa nhục vì lời nguyền của Trương Dần năm nào chưa kịp hưởng, Xã Bèo đã nhìn thấy lửa chiến tranh cháy đến làng mình. Cảnh tượng ấy làm cho Xã Bèo vô cùng khiếp sợ, đau đớn. Ngay lập tức, Xã Bèo hình dung ra một tương lai của sự hủy diệt, tất cả mọi sinh mệnh rồi sẽ chết:

... “Anh ngao ngán thấy rằng binh lửa rồi sẽ tới, thui trụi, tàn phá hết, huống hồ là mấy chiếc măng non.”
Về đến cổng, con Mực chạy ra đón, anh đứng lại. Tự nhiên anh thấy thương con vật, bởi vì anh mang mang nghĩ đến cái chết chóc sẽ chẳng tha từ mạng con chó đến con người”.

Anh Xã không vào sân vội, đi tắt qua vườn sau nhà đến chuồng trâu. Anh lại đứng vững nhìn con vật thân yêu của mình, và lo sợ nghĩ đến một sớm mai người ta sẽ bắt nó đem đi mổ thịt hay nó sẽ ngã xuống vì một viên đạn trong những viên đạn vừa xuyên qua bao nhiêu mạng con người vô tội[15].
Xã Bèo lủi thủi dạo quanh vườn. Mấy luống rau cải tốt xanh trên mảnh đất xốp tươi, vợ chồng anh đã dầy công tưới bón thế mà chưa chắc kịp ăn. Những buồng chuối tiêu đang mẫm quả, anh vẫn để dành chưa chịu ngả. Mấy cây na, cam, hồng bì được chăm bón phân gio, năm nay bói quả, thế mà một sớm mai đây, những gót giày “khách lạ” sẽ đạp séo tan tành[16].

Có thể nhận thấy ở nhiều trang mở đầu tiểu thuyết một cảm xúc gần như là tột cùng của sự đau đớn. Nỗi đau của Xã Bèo không chỉ xuất phát từ niềm tiếc của hoài công vì thành quả lao động bao năm của mình, của gia đình bỗng chốc thành mây khói, mà còn từ cả niềm tiếc thương cho những sự sống đang xanh tươi mơm mởm bỗng tan tành, chết chóc. Trong lý thuyết phê bình sinh thái, thái độ đó gọi là “sự đối xử công bằng với tất cả các sinh mạng”, thuộc phạm trù “luân lí học tôn trọng sinh mạng”. Càng nâng niu, trân trọng sinh mạng, Xã Bèo càng đau đớn khi nguy cơ sự sống bị hủy diệt hiển hiện trước mắt. Rất nhiều từ ngữ đã được dùng để chỉ trạng thái đau đớn cùng cực đó của Xã Bèo: “khiếp hoảng”, “rùng mình”, “quặn đau”, “mặt nhợt nhạt, miệng há hốc”, “lảo đảo bước ra sân”... Sợ đến nỗi, Xã Bèo gần như không còn thiết sống: “Tôi chẳng còn thiết gì đời nữa. Tình cảnh này, không chết nay cũng chết mai thôi”. Niềm xót thương dành cho tất cả các sinh mạng ấy, cũng chính là tình yêu sự sống thiết tha của Xã Bèo. Cũng bởi tình cảm ấy mà ngay cả việc đi phá đường mỗi đêm, với Xã Bèo, cũng là một sự cực chẳng đã, khổ sở vô cùng.

Nhưng bấy nhiêu vẫn còn chưa đủ, lệnh tiêu thổ kháng chiến và di cư mới thực sự là cú trời giáng. Xã Bèo, Lý Còng và bao nhiêu người đàn ông ở làng Nguyệt Đức đã gần như điên dại khi phải tự tay phá dỡ, tiêu hủy những căn nhà từng được dựng nên bởi mồ hôi nước mắt của mình: “Xã Bèo khổ não kêu trong cuống họng nghẹn uất, tiếng kêu giời xoáy nghiến trong đầu óc đang bốc cháy, anh vùng đứng lên như điên dại: - Cho nó mất cả đi, thế là xong hết”, Lý Còng thét to: “- Này tôi đốt đây này, bà con làng nước ôi, tôi đốt nhà tôi đây này![17]... Theo đó là biết bao nhiêu nước mắt đã nhỏ xuống. Biết bao nhiêu thứ tiếng khóc của đàn ông, đàn bà, người già, trẻ nhỏ, khi nghẹn ngào, khi nức nở... đã cất lên: Chị Xã “khóc sưng cả mắt, khóc suốt đêm qua”, “bác Lý gái khóc rống lên như nhà có đám tang”, “Lý Còng ngồi thừ ra nhìn lửa cháy trên đất nhà mình, nước mắt ròng ròng rơi xuống má”...

Sự tàn phá, hủy diệt các sinh mệnh đã dẫn tới một sự phá vỡ nghiêm trọng môi trường sống của con người. Xã Bèo sau khi tiêu thổ đã dắt díu mẹ già, vợ ốm, con thơ đem theo bu gà, con trâu, ba bốn gánh gồng nồi niêu chăn chiếu, tìm nơi lánh nạn. Bước chân rời khỏi làng Nguyệt Đức, lòng chị Xã đầy lưu luyến: “Chị Xã một bước một ngừng. Cứ mỗi lần đổi vai gánh nặng, chị lại quay nhìn mấy ngọn cau vườn nhà chị nhô lên khỏi rậu tre làng phơ phất trong sương gió sớm[18]. Trong cuộc thiên di đầm đìa nước mắt, vợ chồng Xã Bèo đã chứng kiến một cảnh tượng loạn lạc, hoang tàn chưa từng thấy: “bốn bề cây đổ, nhà hoang, tường xiêu, mái rỡ”, “người chạy loạn từng toán một đi rải rác, áo tơi nón lá, trẻ già, thơ dại dắt díu như những đàn kiến chạy nước to”... Mặc cảm bơ vơ, lạc lõng, sợ sệt in hằn trên mỗi dấu chân đặt lên đất khác và vỡ oà thành tiếng khóc nhớ nhà, nhớ quê nức nở trong lòng: “anh muốn khóc lên, khóc rõ to cho vợi cái đau buồn tha hương đất khách lúc này”. Nhưng điều làm cho Xã Bèo khổ sở nhất là nỗi nhớ đất: “Ngày ngày đi đẵn củi rừng làm cái nghiệp chú tiều, tối về nằm co nhớ nhà, nhớ đất, - chao ôi đất! - đất là xương là máu của đời anh[19]. Không chỉ Xã Bèo nhớ đất, anh hình dung cả con trâu cũng thèm đất. Vợ con anh nữa, từ lâu đã bỏ luống cày, gốc mạ, hương lúa chín...

Hơn một năm trời ở miền rừng sâu núi thẳm, không chịu đựng nổi bệnh tật, đói khát, cộng thêm nỗi nhớ quê nhớ đất cồn cào, gia đình Xã Bèo lại dắt díu nhau hồi cư. Trở về làng khi Nguyệt Đức đã chuyển thành vùng tề, Xã Bèo đau xót chứng kiến cảnh hoang tàn đổ nát: “Ruộng đất của vợ chồng anh đã thành bờ bãi cho cỏ mọc tung hoành, lại ngổn ngang mồ mả[20]; rồi: “Bước chân qua cổng cái, Xã Bèo thấy lạnh người vì quang cảnh tiêu điều của xóm làng. Anh đứng sững nhìn bức tường nhà Hội Đồng lỗ chỗ nhiều vết đạn tròn như lỗ đáo[21]. Cuộc sống ở vùng tề vừa đói khát, thiếu thốn, vừa sợ hãi đến nghẹt thở vì súng đạn, bắt bớ, cướp bóc... khiến sự sống của con người thường xuyên bị đe dọa. Nhưng vì yêu đất, vì muốn gắn bó với đất, Xã Bèo cam chịu sống trong kìm kẹp. Cuối cùng thì con trâu – con vật mà Xã Bèo “sống vì nó, với nó, cũng như anh ham sống, cần sống với cha mẹ, vợ con” – cũng bị lính tề cướp mất, vợ chồng Xã Bèo đau đớn đến phát dại. Lại phải bỏ làng đi, nhưng không thể rời xa đất, Xã Bèo xót xa nhìn vợ thay trâu rỏ nước mắt vào lòng đất mà không khóc nổi, bởi không còn nước mắt.
Từ tiểu thuyết này có thể thấy, chiến tranh chính là một loại căn nguyên của thảm họa sinh thái. Chiến tranh không chỉ tàn phá sinh thái tự nhiên, mà còn hủy diệt nghiêm trọng sinh thái tinh thần của con người. Quá nhiều nước mắt của vợ chồng Xã Bèo đã rớt xuống. Nói cách khác, đọc tác phẩm, chỉ cần thống kê những tiếng khóc của Xã Bèo là đủ thấy chiến tranh đã đày đọa sự sống của người ta khủng khiếp thế nào. Xã Bèo thấm thía hơn ai hết nỗi thống khổ mà chiến tranh đã đưa tới. Bởi vậy, tác phẩm cảnh báo con người về một đạo đức sinh thái: Vì sự sống bình yên của các sinh mạng, hãy chấm dứt mọi sự hủy diệt, nhất là hủy diệt bằng bom đạn chiến tranh. 

Nhìn chung, hai cuốn tiểu thuyết của Ngọc Giao bàn đến hai ngữ cảnh và những nguy cơ sinh thái khác nhau, nhưng cả hai đều có chung một xuất phát điểm: coi trọng sự sống trong môi trường sinh thái đích thực của nó. Từ xuất phát đó, có thể nhận thấy hai khía cạnh cơ bản trong tinh thần sinh thái của Ngọc Giao là tôn trọng mọi sự sống và để cho mỗi sinh mạng được sống đời sống của chính mình. Không có chủ nghĩa nhân loại trung tâm trong cảm thức sinh thái của Ngọc Giao. Với những luận điểm cơ bản như vậy, từ góc nhìn văn hóa sinh thái, tác phẩm của Ngọc Giao có khả năng đánh thức nhân tính trong ứng xử với môi trường, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhất là trong bối cảnh tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa vẫn chưa có dấu hiệu chậm lại và nhiều cuộc chiến tranh vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt như hiện nay.

LÊ TÚ ANH
 (Bài in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế
Phê bình sinh thái: Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2017)


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Lê Tú Anh – Vũ Thị Thủy, Đóng góp của Ngọc Giao vào thành tựu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Hồng Đức, Số 16, 2013, tr.5-10.
2.  Ngọc Giao, Nhà quê, tiểu thuyết, Nxb Hà Nội (tái bản), Hà Nội, 2011.
3.  Ngọc Giao, Đất, tiểu thuyết, Nxb Cây thông, Hà Nội, 1950.
4.  Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái, Đỗ Văn Hiểu dịch từ cuốn Đương đại Tây phương tối tân văn luận giáo trình của Vương Nhạc Xuyên, Nxb Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 2008. Nguồn: http://www.dovanhieu.net/2015/08/van-hoc-sinh-thai-va-li-luan-phe-binh.html


[1] Các nhà nghiên cứu sinh thái cho rằng, tác phẩm Mùa xuân im lặng (1962) của nhà sinh vật hải dương học người Mỹ – R.Carson (1907-1964) là công trình mở đầu cho thời đại văn học sinh thái.
[2] Ngọc Giao, Nhà quê, tiểu thuyết, Nxb Hà Nội (tái bản), Hà Nội, 2011, tr.18.
[3] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.21.
[4] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.28.
[5] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.31.
[6] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.35.
[7] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.40.
[8] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.24-25.
[9] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.54.
[10] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.189.
[11] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.70.
[12] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.70.
[13] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.36.
[14] Vương Nhạc Xuyên, Đương đại Tây phương tối tân văn luận giáo trình Nxb Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 2008. Dẫn theo Đỗ Văn Hiểu.
[15] Ngọc Giao, Đất, tiểu thuyết, Nxb Cây thông, Hà Nội, 1950, tr.13-14.
[16] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr. 22-23.
[17] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.53-54.
[18] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.111.
[19] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.197.
[20] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.326.
[21] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.329.


ĐẶNG TƯỜNG VY - NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỘC BƯỚC

Đặng Tường Vy có hai bài “dính” đến hai từ “độc bước”. Ấy là câu Ta độc bước… tìm ta trong “Ta – tìm – ta” và Độc bước tình rêu phong tình trong “Rêu phong cuộc tình”. Đó là hai gợi ý để tôi đặt tên bài viết ngắn này...
Nhà thơ Đặng Tường Vy

Thời chống Pháp, tứ thơ “Đồng chí” của Chính Hữu sẽ không bay lên được nếu không có câu kết: Đầu súng trăng treo. Thời chống Mỹ, tứ thơ “Tiếng bom ở Seng Phan” của Phạm Tiến Duật sẽ không đứng được nếu không có hai câu kết: Thế đấy ở chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ. Tất nhiên, để có mấy câu để kết, cả “Đồng chí” lẫn “Tiếng bom ở Seng Phan” đều phải có một đoạn dẫn dắt. Trong “Đồng chí” là 19 câu. Trong “Tiếng bom ở Seng Phan” là 12 câu. Đoạn dẫn dắt này giống như một sợi dây cháy chậm, sợi dây dẫn đến điểm nổ.
   
Nửa đầu thế kỷ 20, nhà thơ lớn người Đức B. Brecht có tứ thơ “Nếu hòn sỏi nói” (do Mai Lược chuyển ngữ) nổi tiếng:

Khi bạn tung hòn sỏi lên trời
Hòn sỏi nói: Tôi sẽ rơi về đất
Bạn tin hòn sỏi kia nói thật.

Nếu có ai ném bạn xuống nước
Chắc chắn bạn sẽ bị ướt.

Nếu có cô gái viết thư và hẹn giờ đến gặp
Thì bạn chớ vội tin
Vì đó không phải là tất yếu của tự nhiên.
   
Ít nhất, bài thơ cũng phải có 7 câu ở cả ba khổ đặt ra 3 giả định để rồi đi đến kết luận: Tất yếu của xã hội khác với tất yếu của tự nhiên bằng câu kết: Vì đó không phải là tất yếu của tự nhiên.
  
Tuy vậy, bên cạnh đó, vẫn có những tứ thơ tràn ra khỏi mọi khuôn phép và có khi chỉ cần có một câu thơ thôi, đã mang giá trị như một bài thơ hoàn chỉnh.
  
Chúa cũng tự tìm mình trong sáng tạo trong “Không đề” của Tagore là ví dụ thứ nhất.
  
Làm người ác vất vả vô cùng trong “Mặt nạ kẻ ác” của B. Brecht là ví dụ thứ hai.
  
Có những buổi chiều không biết cất vào đâu trong trường ca “Gọi nhau qua vách núi” của Thi Hoàng là ví dụ thứ ba.
  
Và còn nhiều ví dụ nữa.
  
Những suy nghĩ này bất chợt đến với tôi khi đọc xong tập thơ “Sóng ngầm” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, quý 3 năm 2017) của nhà thơ trẻ Đặng Tường Vy.  

Cũng không mất công nhiều lắm, độc giả có thể tìm ngay được những đơn vị câu ấn tượng đủ sức đứng độc lập của Đặng Tường Vy. Có thể tạm thống kê những cặp trên sáu dưới tám thật đáng nhớ: Nhẹ nhàng thương, nhẹ nhàng đau/ Nhẹ nhàng quay gót chào nhau nhẹ nhàng; Tình mẹ tựa đóa Ưu đàm/ Đưa con ra khỏi vũng chàm thế gian; Không rào chắn, không tường thành/ Trăm năm không kẻ thế chân một lần; Bao lần mật rót môi mềm/ Nghe lòng kiêu hãnh êm đềm rụng rơi; Tử, sanh cơn gió thổi vù/ Nước đục ao tù gắng nở hồng sen; Trời mưa ngập bến sông Tương/ Có bốn chân giường sao gãy được đây?; Đông nay là mấy đông rồi/ Bao lần di trú sao trời vẫn mây?; Đàn bà một chút rồi xem/ Cây cao bóng cả đổ rèm em qua; Xin anh một chút thật thà/ Để cho em được đàn bà với anh; Gập ghềnh chân bước nhiêu khê/ Mong manh phận bạc bốn bề hoang vu; Trách ai sao quá non gan/ Để em cất bước sang ngang theo chồng
Tập thơ “Sóng ngầm” của Đặng Tường Vy, NXB Hội Nhà văn, 2017

Qua đây, có thể thấy Đặng Tường Vy là người có sở trường viết thơ lục bát. Và cũng vì thế mà chị trở thành chủ sở hữu đích thực của những câu lục bát trên. Ở một chừng mực đáng kể, Đặng Tường Vy đã bộc lộ chất nữ tính đa chiều và đa dạng của chị. Có lúc thì đụng chạm đến sự nhẹ nhàng như đụng chạm vào nỗi đau. Có lúc thì đụng chạm đến sự sinh tử như đụng chạm vào sự bứt phá. Có lúc thì đụng chạm đến sự mạnh mẽ như đụng chạm vào sự thách đố. Có lúc thì đụng chạm vào lòng kiêu hãnh như đụng chạm vào sự vị tha, nuông chiều, không chấp nhặt. Có lúc thì như đụng chạm vào sự thắc mắc như đụng chạm vào một thế giới bất khả tri. Có lúc thì đụng chạm vào nỗi khổ đau như đụng chạm vào thế giới bất khả tín. Có lúc thì đụng chạm vào sự xác tín như chỉ để tự mình khẳng định. Cũng có lúc thì đụng chạm đến những gì không dễ nói, đầy ẩn ý, có sắc màu ngờ vực, nghi hoặc đáng yêu:

Trời mưa ngập bến sông Tương
Có bốn chân giường sao gãy được đây?
   
Và dù có như thế nào thì những cặp lúc bát trên đều sinh thành một cách diễn đạt, cách triển khai rất đàn bà và có lẽ chỉ có đàn bà mới viết được.

Riêng khi đọc hai câu: Không rào chắn, không tường thành/ Trăm năm không kẻ thế chân một lần, tự dưng tôi liên hệ đến một câu nói của triết gia người Đức Nietzsche: “Trong tình yêu, nếu nàng hỏi chàng, chàng trả lời “chàng muốn”; còn nếu chàng hỏi nàng, nàng vẫn trả lời “chàng muốn”. Một tình yêu mà tận hiến đến thế, chắc chỉ có ở người đàn bà.
   
Trong “Sóng ngầm”, Đặng Tường Vy không chỉ có thơ lục bát. Ngoài những câu lục và câu bát rời rạc như Nắng mưa chơi oản tù tì hay Ta rượt chơi rượt bắt cho vừa lòng nhau, chị còn có những câu ở thể loại khác về tình yêu cũng đáng nhớ: Hai đứa mình đừng vội/ Mùa dậy thì còn xanh; Xin một đời không sửa
   
Đặng Tường Vy có hai bài “dính” đến hai từ “độc bước”. Ấy là câu Ta độc bước… tìm tatrong “Ta – tìm – ta” và Độc bước tình rêu phong tình trong “Rêu phong cuộc tình”. Đó là hai gợi ý để tôi đặt tên bài viết ngắn này.
  
Và dù lạnh giá như băng hay nóng bức như lửa, thì trong hành trình độc bước ấy, mong sao những bước đi của Đặng Tường Vy là những bước đi có nhận biết.
   
 ĐẶNG HUY GIANG
Nguồn: NVTPHCM/VCPN



Thứ Hai, 8 tháng 7, 2019

PHÊ BÌNH SINH THÁI - VÀI NÉT PHÁC THẢO

Thế kỉ 21 là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất.

Trong xã hội hiện đại, cùng với tốc độ đô thị hóa và sự ỷ lại vào khoa học kỹ thuật, con người đang ngày càng khai thác tự nhiên quá mức, khiến cho tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Thiên nhiên trả thù con người không phải chỉ bằng các thảm họa, thiên tai, các bệnh hiểm nghèo… mà đáng sợ hơn, trả thù bằng sự biến mất của chính nó. Cái “dây chuyền sống” huyền diệu của tạo hóa đang ngày càng bị phá hủy. Phê bình sinh thái (Ecocriticism) nổi lên khi vấn đề biến đổi khí hậu, sự xuống cấp về môi trường không còn là vấn đề của mỗi quốc gia dân tộc nữa, mà đã ảnh hưởng đến toàn bộ sự sống trên trái đất. Văn học quan tâm đến sự sống cho nên xét đến cùng, phê bình sinh thái lại liên quan đến bản thể của văn học.
TS. Trần Thị Ánh Nguyệt

1. Khái niệm phê bình sinh thái

Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Hy Lạp cổ là nhà ở, nơi cư trú, bất kì một sinh vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình. Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học).

Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học người Đức Ernst Haecker đưa ra. Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học sinh thái về mối tương quan giữa động vật với các thành phần môi trường vô sinh. Trải qua hàng trăm năm phát triển, sinh thái học đã có rất nhiều định nghĩa nhưng chung nhất vẫn là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, mối tương tác giữa cơ thể sinh vật sống và môi trường xung quanh. Ngày nay, sinh thái học không chỉ tồn tại trong sinh học mà nó còn là khoa học của nhiều ngành khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn. Nếu như ở Anh người ta thường sử dụng thuật ngữ “phê bình xanh” (green criticism) thì ở Mỹ lại thích sử dụng thuật ngữ “phê bình sinh thái” (ecocritism). Nhiều thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng như “thi pháp sinh thái” (ecopoetics), “phê bình văn học môi trường” (environmental literary criticism), “nghiên cứu xanh” (green study) hay “nghiên cứu (văn hóa) xanh” (green (cultural) studies), sáng tác tự nhiên (nature writing), sinh thái học lãng mạn (Romantic Ecology)…

Với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học, phê bình sinh thái được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ XX, đã hấp thu tư tưởng cơ bản của sinh thái học vào nghiên cứu văn học “dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học”. Trong các định nghĩa về phê bình sinh thái, định nghĩa của Cheryll Glotfelty được xem là ngắn gọn và dễ hiểu hơn cả:

Nói đơn giản, phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Cũng giống như phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính, phê bình Marxist mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế để đọc văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm (earth-centered approach) để nghiên cứu văn học [4, 89].

Để hiểu rõ hơn định nghĩa này, chúng ta cần hiểu quan niệm của phê bình sinh thái về con người/ tự nhiên, tự nhiên/ văn hóa, những vấn đề làm nên tư tưởng đặc thù của phê bình sinh thái. Về mặt từ nguyên, tự nhiên (nature) mà gốc Latin của nó là “natura”, nghĩa là “đặc điểm thuộc về tự nhiên, vũ trụ” hay “nat” (sự sinh ra, được sinh ra)… để phân biệt với thế giới được chế tạo, như các đồ vật được làm bởi con người. Dẫu vậy, “tự nhiên” đã trở thành một diễn ngôn mơ hồ, luôn biến đổi, tồn tại mặc nhiên từ buổi hoang sơ, nhưng cũng là cái đã bị con người sở hữu và chiếm hữu theo nhiều cách. “Tự nhiên” do đó đã không còn là nó một cách nguyên thủy, mà các yếu tố cấu thành nó ít nhiều đều bị quy định bởi con người. Theo sự biến thiên này, cặp từ tự nhiên (nature)/ văn hóa (culture) không còn là sự đối lập đơn giản mà có sự xuyên thấm lẫn nhau. Thật khó có một thứ gì đó có thể phân loại rành mạch rõ ràng, nhất là cặp đôi “phiền phức” văn hóa/ tự nhiên. Peter Barry đã chứng minh bằng cách lấy thí dụ, cái chúng ta gọi là ‘môi trường bên ngoài’ là một chuỗi các khu vực xâm nhập, sấn chéo lên nhau và dịch chuyển dần dần từ khu vực tự nhiên sang khu vực văn hóa, theo trật tự như sau: Khu vực một: cái hoang dã (the wilderness). Thí dụ sa mạc, đại dương, những lục địa không có người sinh sống. Khu vực hai: Cảnh trí hiểm trở (the scenic sublime). Thí dụ rừng, hồ, núi, thác nước… Khu vực ba: vùng nông thôn (the countryside). Thí dụ đồi, cánh đồng, rừng cây… Khu vực bốn: cảnh trí nhân tạo quanh nhà (the domestic picturesque). Thí dụ công viên, vườn, đường… Khi chúng ta di chuyển (trong suy nghĩ) giữa các khu vực này, rõ ràng chúng ta đã di chuyển từ khu vực thứ nhất - “thuần túy” tự nhiên sang khu vực thứ tư - phần lớn là “văn hóa”. Dĩ nhiên, cái hoang dã bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng nhà kính - vốn là do văn hóa tạo ra, và các khu vườn thì tồn tại phụ thuộc vào ánh nắng - vốn thuộc lực lượng tự nhiên [1, 252]. Do vậy, các nhà phê bình sinh thái sử dụng thuật ngữ human/nonhuman khi chỉ mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên. Karen Thornber giải thích “sử dụng thuật ngữ “nonhuman” (thế giới phi nhân loại) để chỉ sinh học (nghĩa là, các sinh vật không phải con người) và vô sinh (có nghĩa là để nói, yếu tố vật chất không sống như không khí, nước và đất). Tôi sử dụng thuật ngữ “human” (nhân loại) để chỉ con người và công trình xây dựng của con người cả về vật chất và trí tuệ, bao gồm cả công nghệ” [10]. Phê bình sinh thái khẳng định tầm quan trọng của việc nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa nhân loại (human) và phinhân-loại (nonhuman) trong các diễn ngôn văn hóa. Phê bình sinh thái trở thành một giải pháp khôi phục ý nghĩa và tầm quan trọng của tự nhiên với con người cũng như khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc định hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên như lời khẳng định của Glotfelty:

Toàn bộ phê bình sinh thái chia sẻ những giả thuyết cơ bản mà văn hóa con người kết nối với tự nhiên, ảnh hưởng tới nó và chịu ảnh hưởng của nó. Phê bình sinh thái đặt vấn đề quan hệ nối kết giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là sự tạo tác văn hóa của ngôn ngữ và văn học. Như một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đặt một chân ở văn học và chân kia trên mặt đất, như là một diễn ngôn lí thuyết, phê bình sinh thái dàn xếp giữa con người (human) và (thế giới) phi nhân loại (nonhuman) [5, 89].

Manh nha từ những năm bảy mươi của thế kỉ XX nhưng đến những năm 1990, phê bình sinh thái mới thực sự phát triển. Các hội nghị khoa học về vấn đề môi trường và văn học được tổ chức hằng năm. Năm 1992 ASLE (the Association for the Study of Literature and Environment) - Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường được sáng lập. Hiệp hội này trở thành tổ chức có hàng nghìn thành viên ở Mỹ, sau đó các chi nhánh mới thành lập ở Anh và tiếp theo là nhiều nước châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Ấn Độ, Đông Nam Á… Năm 1993, Patrick Murphy đã xuất bản tạp chí mới, là ISLE: Interdisciplinary Studies in Literature and Environment (Nghiên cứu Liên ngành Văn học và Môi trường) để cung cấp một diễn đàn nghiên cứu phê bình văn học quan tâm tới lí do môi trường. Đồng thời phong trào này cũng lan ra các trường đại học, một vài trường đã đưa vào trong các khóa văn học chương trình giảng dạy về nghiên cứu môi trường; một số học viện về tự nhiên và văn hóa được thành lập; một số khoa tiếng Anh yêu cầu những chương trình nhỏ về văn học môi trường. Nhờ đó, phê bình sinh thái đã chính thức trở thành một phong trào nghiên cứu hàn lâm. Hiện tại phê bình sinh thái đang là một trào lưu phê bình năng động trên thế giới, thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều hơn các nước ngoài phương Tây.

2. “Phê bình sinh thái đảo lộn truyền thống phê bình”

Đây là nhận định của Peter Barry, trong tuyển tập giới thiệu những lí thuyết văn học Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural Theory, phần đánh giá của ông về phê bình sinh thái [1]. Ông cho rằng phê bình văn học trước đây quá chú tâm vào con người - khai thác tính cách, tâm lí, tình cảm, hành động, nội tâm… Quả thật, nghiên cứu văn học sau khi “trở về chính mình” với những lí thuyết như chủ nghĩa hình thức, phê bình mới, chủ nghĩa cấu trúc… chủ yếu quan tâm đến những phương diện nội tại của tác phẩm, dường như nhiều khi trở nên tự thu hẹp, khó tiếp cận với những vấn đề đương đại rộng lớn. Mặt khác, các trường phái nghiên cứu văn học hiện nay với những mối bận tâm về con người: phê bình phân tâm học, phê bình Marxist, lí thuyết tiếp nhận… trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu nhưng có lẽ “đang trong giai đoạn thác ghềnh và thỉnh thoảng mất phương hướng” [4, 92]. Hiện nay, bên cạnh những hướng nghiên cứu văn học trước đó vẫn đang có những tìm tòi mới mẻ và đạt được nhiều thành tựu, thì cũng xuất hiện sự chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học, xuyên qua văn học để quan sát sự đổi thay văn hóa, nghiên cứu ý thức văn hóa, xã hội được thể hiện như thế nào trong văn học, là một hướng đi mới, giúp văn học nhập cuộc với những vấn đề đang xảy ra trong đời sống đương đại, trong đó có vấn đề môi trường.

Phê bình sinh thái truy tìm căn nguyên của khủng hoảng môi trường hiện tại, phê phán thuyết con người là trung tâm (anthropocentrism). Quan điểm này vấp phải một rào cản đã tồn tại một cách thâm căn cố đế trong tư tưởng truyền thống coi con người là tinh hoa “Con người là kiểu mẫu của muôn loài”. Văn học từ xưa đến nay ngợi ca bao nhân vật mang vị thế chúa tể muôn loài bằng khát vọng chinh phục tự nhiên: từ Prômêtê, Hecquyn, Uylitxơ đến Hậu Nghệ, Nữ Oa, Ngu công, Sơn Tinh… Vậy nên văn học cũng có lỗi trong việc khiến cho trái đất đang ngày một kiệt quệ. Bởi vậy, sự thay đổi trong suy nghĩ liên quan đến con người với môi trường cần được đổi thay từ chính văn học, nơi thích hợp để phản biện lại những thói quen của tư duy. Phê bình sinh thái đã thay đổi một cách cơ bản cách nhìn nhận, tiếp cận đối tượng. Các phong trào nghiên cứu văn học từ trước đến nay đều lấy “con người làm trung tâm” (humancentred), còn phê bình sinh thái quan niệm đặt trái đất lên trước hết (Putting the Earth first). Bởi vậy, phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm (earth-centered approach) để nghiên cứu văn học của phê bình sinh thái đã chỉ trích lí tưởng đề cao cá nhân, từ đó tạo ra một phản đề đối với tư tưởng đã ăn sâu cắm rễ vào tư duy nhân loại, để đề xuất quan niệm đề cao tính tương quan giữa cá nhân và môi trường. Và như vậy phê bình sinh thái cũng mong muốn chấm dứt tình trạng li khai hàng nghìn năm nay giữa văn hóa và tự nhiên. Chủ nghĩa nhân văn sinh thái do phê bình sinh thái đề xuất không tách rời thiên nhiên và văn hóa mà nối lại mạch sống ngàn đời của con người với tự nhiên, coi con người là một phần cộng sinh của tạo hóa.

Cân bằng tự nhiên cũng đảm bảo cho cân bằng xã hội. Đó là lí do vì sao phê bình sinh thái tích hợp với các vấn đề xã hội: giới tính (sinh thái nữ quyền (ecofeminism), chủng tộc, giai cấp, xã hội (sinh thái hậu thực dân, sinh thái xã hội (social ecology), sinh thái chủ nghĩa Mác (eco-Marxism)...). Các học giả sinh thái thế giới rất lưu tâm tìm về với văn học lãng mạn (sinh thái học lãng mạn) vì văn học lãng mạn gắn liền với quá trình đô thị, khi văn minh xâm lấn, nhiều tác giả đã quay lưng bằng cách trốn vào thiên nhiên. Nhưng về sau, các tác phẩm quan tâm hơn đến các vấn đề xã hội, hướng về đô thị, những vấn đề nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa…

Như vậy, phê bình sinh thái làm đảo lộn truyền thống phê bình ở nhiều khía cạnh. Điểm thứ nhất, chuyển hướng trung tâm từ con người ra nghiên cứu bối cảnh xung quanh con người, cái nền tảng làm nên chân dung của nhân vật. Điểm thứ hai, là từ cái nhìn “sinh thái trung tâm”, phạm vi thế giới sẽ được mở rộng, không phải chỉ là phạm vi xã hội mà toàn bộ sinh quyển “Lí thuyết văn học, nhìn chung, nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà văn, văn bản và thế giới. Trong hầu hết các lí thuyết văn học, “thế giới” đồng nghĩa với xã hội - phạm vi xã hội. Phê bình sinh thái mở rộng khái niệm “thế giới” bao gồm toàn bộ sinh quyển” [4, 90]. Thứ ba, “Tái kết nối tính xã hội và tính sinh thái” phê bình sinh thái giao cắt với chính trị, do vậy nó không hề “trong trẻo” mà kì thực rất nhạy cảm. Cũng nhờ vậy mà nó tiếp cận được với nhiều vấn đề đương đại rộng lớn.

Tính liên ngành cần được nhấn mạnh, ngoài các văn bản hư cấu, cần tìm hiểu các văn bản phi hư cấu, các loại hình nghệ thuật khác khá năng động như âm nhạc, điện ảnh, kiến trúc… trong việc phản ứng với trào lưu sinh thái. Văn học cũng như điện ảnh, âm nhạc, kiến trúc, hội họa… là những loại hình nghệ thuật để đưa ra thông điệp của sự phản tỉnh. Vậy các loại hình nghệ thuật khác khá năng động phản ứng với các trào lưu sinh thái ra sao? Việc sử dụng phương pháp liên ngành, kết hợp văn học với khoa học, phân tích tác phẩm văn chương để rút ra những cảnh báo môi trường. Vận dụng những kiến thức của các ngành khoa học (sinh thái học, dân tộc học, sử học, triết học, chính trị học, đạo đức học, tôn giáo học, tâm lí học...) để hiểu và lý giải các tác phẩm, thì việc tìm hiểu các ngành khác cũng giúp nhìn ra nhiều vấn đề, nhiều phương thức giải quyết cho vấn đề sinh thái hiện nay. Do vậy, phê bình sinh thái đề xuất những khái niệm mà thông qua đó nhìn nhận thấy sinh thái có một mối liên hệ liên ngành, liên loài, xuyên hành tinh… trong việc nghiên cứu các vấn đề sinh thái toàn cầu như Cheryll Glotfelty mong đợi “Trong tương lai, chúng ta có thể mong rằng phê bình sinh thái trở thành liên ngành, đa văn hóa và mang tính quốc tế chưa từng thấy từ trước tới nay. Công tác liên ngành cũng được tiến hành và có thể được tạo điều kiện hơn nữa bằng cách mời các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực để làm diễn giả tại các hội nghị văn học và bằng việc đăng cai nhiều hơn những hội thảo liên ngành về các vấn đề môi trường” [4, 92].

3. Phê bình sinh thái - những khởi đầu mới mẻ ở Việt Nam

Cần có sự phân biệt giữa văn học sinh thái và phê bình sinh thái. Phê bình sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứu mà dựa vào đó, nhà nghiên cứu có thể nghiên cứu văn học từ cổ đại đến nay, thông qua các tư tưởng truyền thống có thể rút ra các yếu tố sinh thái, ý tưởng sinh thái... còn văn học sinh thái xuất hiện cùng với những cảnh báo môi trường trong thời đại mà khủng hoảng sinh thái trở thành một vấn đề nghiêm trọng, do vậy, văn học sinh thái xuất hiện tương đối muộn. Theo Lawrence Buell, một tác phẩm được cho là viết theo định hướng môi trường sẽ mang những nội dung chính như sau:

1. Môi trường phi nhân không còn chỉ được nhìn đơn thuần như là một thứ công cụ làm khung nền cho sự xuất hiện của con người, ngược lại, sự hiện diện của nó cho thấy lịch sử nhân loại bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với lịch sử tự nhiên. (…)

2. Quyền lợi của loài người không phải là quyền lợi chính đáng duy nhất.

3. Mức độ quan tâm của con người đối với môi trường là một phần thuộc giá trị đạo đức của mỗi văn bản. (…)

4. Theo một nghĩa nào đó, môi trường được nhìn như một quá trình, chứ không phải là một hằng số bất biến hay ít nhất, được cho là một thông điệp ẩn giấu đằng sau tác phẩm (...) [2, p 7-8].

Tác phẩm sinh thái được nhận diện ở dấu hiệu: khi tác phẩm từ bỏ cái nhìn mang tính ẩn dụ về tự nhiên để viết với ý thức sinh thái. Văn học sinh thái chống lại sự nhân hóa tự nhiên. Khác với các truyện truyền thống về thế giới tự nhiên, chỉ có một nhân vật xuyên suốt câu chuyện, chỉ có một tiếng nói cất lên sau hình tượng đó, tiếng nói mà con người phú cho. Ngược lại, trong các truyện sinh thái, bên cạnh thế giới con người là thế giới muông thú với những tình cảm, tính cách, cá tính… rất riêng. Tự nhiên có sinh mệnh độc lập, có địa vị bên ngoài mọi quan niệm của con người. Mặt khác, “Văn học sinh thái lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để khảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái” [8]. Thực chất, mối quan hệ giữa con người và sinh thái là mối quan hệ cộng sinh, do vậy tác phẩm viết về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên phải có quan điểm sinh thái. Lấy tư tưởng “sinh thái là trung tâm” không phải là tư tưởng hạ thấp con người mà thực ra lợi ích của sinh thái suy cho cùng chính là lợi ích bền vững của nhân loại. Vấn đề biến đổi khí hậu, nguy cơ sinh thái là vấn đề của toàn cầu chứ không phải là vấn đề riêng lẻ của mỗi quốc gia dân tộc. Văn học sinh thái chú trọng đến trách nhiệm của con người đối với tự nhiên, khẩn thiết kêu gọi bảo vệ vạn vật trong tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái.

Như vậy, mặc dù trước khi xuất hiện phê bình sinh thái, vấn đề con người trong mối quan hệ với tự nhiên đã được nghiên cứu. Trong lịch sử, con người đã trải qua nhiều cảm thức trong mối quan hệ với tự nhiên. Cảm thức kính sợ tôn sùng tự nhiên trong văn học cổ đại (thần thoại, sử thi). Trong văn học dân gian, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên biểu hiện ở những công trình nghiên cứu về các loài vật, cây cỏ… Trong văn học trung đại, đó là cảm thức hòa điệu: sự ca tụng thiên nhiên, xem thiên nhiên là nơi lánh trú của tâm hồn, lí tưởng hóa sự tương tác giữa con người và môi trường (thơ sơn thủy, điền viên, thơ haiku, thể loại mục ca…). Văn học lãng mạn cũng đã có những quan tâm đến mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đặc biệt đã có những nghiên cứu thể hiện sự mất dần những giá trị cổ truyền tốt đẹp vì sự xâm lấn của đô thị như trong các nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính, thơ Bàng Bá Lân, thơ Anh Thơ… Tuy nhiên, những vấn đề mà các nghiên cứu đưa ra chưa thực sự là vấn đề của sinh thái hiện đại.

Từ năm 2011 đến nay, phê bình sinh thái bắt đầu được chuyển dịch, giới thiệu và thực hành nghiên cứu ngày một nhiều hơn ở Việt Nam. Điều đó, xuất phát từ nhu cầu bức thiết của dân tộc, nó cũng chứng tỏ sự hòa chung vào xu hướng toàn cầu hóa trong nghiên cứu văn học Việt Nam.

Năm 2011, Viện Văn học tổ chức buổi thuyết trình về vấn đề phê bình sinh thái. Karen Thronber sang Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế 2011 “Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội”. Tại Viện Văn học, bà cũng đã có buổi giảng về Ecocriticism giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích 6 điểm cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm. Từ đó, phê bình sinh thái đã được giới thiệu, ứng dụng nghiên cứu tại Việt Nam với các tác giả như Đỗ Văn Hiểu, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trần Thị Ánh Nguyệt, Đặng Thị Thái Hà… Hiện tại, có hai cuốn sách về phê bình sinh thái đã được xuất bản: Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (Trần Ánh Nguyệt và Lê Lưu Oanh, 2016), Rừng khô suối cạn, biển độc... và văn chương (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017). Các trường đại học, các Viện nghiên cứu cũng đã quan tâm đến phê bình sinh thái nhiều hơn, bằng chứng là tại các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, phê bình sinh thái đã xuất hiện trên diễn đàn trao đổi, đó cũng là khuynh hướng mà nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh lựa chọn.

Thành tựu về dịch thuật phê bình sinh thái còn khá khiêm tốn. Bài Phê bình sinh thái - cội nguồn và sự phát triển (2012) của Đỗ Văn Hiểu đã tổng hợp, giới thiệu phong trào phê bình sinh thái trên thế giới, đồng thời chỉ ra cội nguồn tư tưởng của các nhà triết học phương Tây làm tiền đề xuất hiện phê bình sinh thái. Trần Ngọc Hiếu với bản dịch Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học (Karen Thornber, 2013) đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn nhiều gợi ý về triển vọng của phong trào. Các bản dịch của Đặng Thị Thái Hà (Phê bình sinh thái, Kate Rigby, 2014), Trần Thị Ánh Nguyệt (Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường, Cheryll Glotfelty, 2014) từ những văn bản khá quan trọng của phê bình sinh thái thể hiện sự nỗ lực giới thiệu phê bình sinh thái ở Việt Nam. Gần đây là cuốn Phê bình sinh thái là gì? Viện Văn học chủ trì dịch, Hoàng Tố Mai chủ biên. Tuy nhiên, thành tựu dịch thuật mới chỉ dừng lại ở những bài viết, bài tổng thuật, cần có những công trình dịch dài hơi hơn về phê bình sinh thái.

Cuối năm 2017, đầu 2018 có 3 hội thảo về phê bình sinh thái: Hội thảo khoa học quốc tế “Phê bình sinh thái: tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu” của Viện Văn học tổ chức (12/2017); Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 2 “Sinh thái học trong văn học Đông Nam Á: Lịch sử, Huyền thoại và Xã hội” của Hiệp hội nghiên cứu liên ngành Văn học và Môi trường Đông Nam Á (ASLE ASEAN) diễn ra tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (01/ 2018); Hội thảo khoa học “Phê bình sinh thái: Lí thuyết và ứng dụng” của Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (01/2018) chứng tỏ sự quan tâm ngày càng nhiều hơn với phê bình sinh thái của giới nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng phê bình sinh thái cần được dịch thuật, giới thiệu và nghiên cứu một cách nghiêm túc, bài bản và toàn diện hơn nữa; các nhà văn cần có nhiều tác phẩm viết về đề tài này để thúc đẩy tương lai sinh thái trong văn học. Văn học quan tâm đến sự sống, sự khủng hoảng sinh thái ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, vậy nên văn học cần có những tiếng nói mạnh mẽ hơn để bảo vệ sự sống trên Trái đất.

TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT
Nguồn: SÔNG HƯƠNG 04-2018

Tài liệu tham khảo:

1. Peter Barry (2002). “Ecocriticism”, Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural Theory, London, Manchester University.
2. Lawrence Buell (1995), The Environmental Imagination: Thoreau, Nature Writing, and the Formation of American Culture, Harvard University Press, p 7-8.
3. Nguyễn Đăng Điệp (2014), “Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa”, Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng, Nxb. Văn học, Hà Nội.
4. Cheryll Glotfelty (1996), “Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường”, Trần Thị Ánh Nguyệt dịch, Tạp chí Sông Hương, số 305 tháng 7.
5. Đặng Thị Thái Hà (2014), Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình sinh thái (Qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư), Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội.
6. Đỗ Văn Hiểu (2012), “Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân”, Tạp chí Phát triển Nghiên cứu và khoa học. Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, số15 (X2).
7. Nguyễn Thị Tịnh Thy (2013), “Phê bình sinh thái - nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc”, Văn học hậu hiện đại - lí thuyết và thực tiễn, Lê Huy Bắc chủ biên, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Tịnh Thy (2014), “Sáng tác và phê bình sinh thái - tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam”, Hội thảo khoa học Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, Viện Văn học.
9. Thornber K. (2014), Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học (Hải Ngọc dịch). http:// hieutn1979.wordpress.com
10. Thornber K., (2011). Ecocriticism and Japanese Literature of the Avant-Garde. http://interlitq. org/issue8/karen_thornber/job.php




Thứ Năm, 4 tháng 7, 2019

TÁI KẾT NỐI NHỮNG CỘI RỄ PHI NHÂN NHƯ MỘT HÌNH THỨC THỨC NHẬN BẠO LỰC

(Đọc Người ăn chay của Han Kang)  

Bất cứ điều gì chúng ta có thể làm với những con vật chúng ta cũng có thể làm với nhau, chỉ là chúng ta đã thực hành trên chúng trước mà thôi
            (Surfacing, Margaret Atwood, 121)

1. Sống và sự đứt lìa bạo lực khỏi sự sống 

Đúng như nhận định của nhà nữ quyền luận Luce Irigaray, ngày nay, sinh thái đã trở thành một bước ngoặt thời thượng: “Nếu như con người từng dối trá rằng mình có thể thống trị tự nhiên, đặt khả năng dùng văn hóa để khuất phục tự nhiên vào một vị trí cao trên thang bậc giá trị, thì ngày nay, con người có xu hướng quay sang bảo vệ gìn giữ tự nhiên”1. Dù vậy, bằng sự nhạy cảm của mình, bà nhận ra một sự bất ổn nghiêm trọng vẫn tiềm ẩn đằng sau khuynh hướng tưởng chừng như không có gì phải bàn cãi này, bởi “dù rằng hành vi này nghe qua có vẻ như thiên về đạo đức, thực chất lại vẫn nảy sinh từ cảm thức về một quyền lực tuyệt đối chế ngự sự sống thay vì một thái độ trân trọng sự sống […], vẫn còn sự sống là một cái gì nằm bên ngoài bản thân chúng ta, trong tương quan với sự sống của chính chúng ta” (Irigaray 101). Nói cách khác, nguy cơ nằm ở chỗ chúng ta vẫn không ngừng hướng mối quan tâm của mình tới một “thế giới tự nhiên bên ngoài”, tới các loài động vật và thực vật, tới một “môi trường sống xung quanh”, trong khi lại không xem bản thân mình cũng là những tồn tại sống (living beings). Như thế, hành vi sinh thái đầu tiên chính là suy ngẫm và định vị lại tình trạng sinh tồn của bản thể, đặt ra một câu hỏi mang tính phản tư về việc “liệu có phải chúng ta đang thực sự sống không, hay làm thế nào để chúng ta có thể là hoặc có thể trở thành một tồn tại sống”, để biết “sống và coi chính mình như là một tồn tại sống giữa các tồn tại sống khác, trong một môi trường cho phép sự sống tồn tại và nảy nở sinh sôi” (Irigaray 101). Con người, tóm lại, phải không ngừng hoài nghi bản ngã, hoài nghi lại chính trạng thái sinh tồn của mình bởi nó, ngay từ khi ra đời, đã luôn đứng trước nguy cơ bị cắt gọt và khuôn đúc để trở thành một sản phẩm xã hội chuẩn mực: “văn hóa cắt rời chúng ta khỏi những cội rễ tự nhiên của mình thay vì góp phần hướng đến dung dưỡng chúng ta trong tư cách là những tồn tại tự nhiên”. Theo cách đó, văn hóa “khiến chúng ta trở nên xa lạ với nhau trong tư cách là những tồn tại sống, không những thế, khiến chúng ta trở nên càng lúc càng xa lạ với chính mình” (Irigaray 101). Con người xã hội, từ đó, không là gì khác ngoài những tồn tại vong cội, thiếu sót, bị chia cắt khỏi phần tồn tại bản nguyên được định danh là “phần tự nhiên không được giáo dưỡng” (uneducated nature) vốn vận hành theo những luật tắc trừu tượng và tùy tiện của sự sống tự nhiên. Bị đứt lìa khỏi cội rễ ấy, như một đứa trẻ bị cắt lìa dây rốn khi vừa chào đời, chúng ta loay hoay tìm một cách thức “phi-tự nhiên” để gắn kết với kẻ khác và với thế giới thông qua việc học để làm chủ các mã văn hóa thay vì “bắt đầu từ những xung lực căn rễ, những hấp lực hay những đồng cảm hướng đến tôn trọng sự sống của chính mình, của môi trường mình sống, cũng như của các tồn tại sống khác” (Irigaray 101). Cứ thế, theo thời gian, năng lượng sống của chúng ta “bị tê liệt và hư hỏng nặng”, và thế chỗ cho nó là thứ “lực cơ học” máy móc, cứng nhắc, không còn tìm được sự chia sẻ hài hòa nào với năng lượng vũ trụ và năng lượng của những sự sống khác. Ngược lại, “nó bành trướng và lợi dụng những nguồn lực vật chất hay tinh thần, rồi kết thúc bằng việc phá vỡ sự hài hòa toàn diện của thân thể, của thế giới tự nhiên, của cộng đồng sinh thể sống, hay hành động một cách bạo lực chống lại, ngay cả khi có ý chăm sóc bảo vệ những đời sống ấy”. Tất cả những gì con người đã làm chỉ là “chinh phục thế giới tự nhiên ở bên trong cũng như bên ngoài mình”. Đó là nguyên nhân khiến cho ngay cả khi cố gắng kiếm tìm sự sống, chúng ta thực chất vẫn đang “không ngừng khuất phục sự sống ấy theo hoạch định và sự chế tác của mình thay vì để cho nó được tồn tại, tăng trưởng và sinh sôi theo cách của riêng nó. Chúng ta không dễ dàng từ bỏ vai trò của Đấng sáng tạo, ngay cả trong những kì vọng sinh thái gần đây, bởi chúng ta không bắt đầu từ chính mình như một tồn tại sống” (Irigaray 102).

Với Người ăn chay2, Han Kang đã trực tiếp đặt vấn đề về sự hủy hoại và tự hủy hoại này từ chính những gì con người tiêu thụ thực phẩm và lựa chọn thức ăn. Những phản ứng kinh sợ thân thể nhất của nhân vật nữ trước các thực phẩm thịt cũng như việc ăn thịt mà với kẻ khác là nghiễm nhiên khiến tác phẩm như một sự phơi bày, một nỗi hãi hùng nhạy bén khi thức nhận thứ bạo lực được ‘bình thường hóa’ trong đời sống. Tất cả phơi bày hiện trạng được Simon Estok định danh là “sự đứt gãy giữa những gì chúng ta ăn và môi trường”3.

2. Kết nối căn tính động vật: sự thức tỉnh về một thân thể chịu bạo lực 

Ngay từ những trang viết mở đầu, Han Kang đã phô diễn một lựa chọn nam giới - anh chồng - chủ động lựa chọn một kẻ phi cá tính. Nhân vật nữ chính (người vợ) - kẻ được lựa chọn - hiện lên như một kẻ tật nguyền thiếu sót với một thân thể phi sức sống hay bị cắt gọt và tách rời khỏi nguồn sống nguyên thủy: “chiều cao vừa phải, đầu cắt vuông không ngắn cũng không dài, nước da vàng nhợt đôi chỗ bị khô, gò má hơi nhô ra trên đôi mắt một mí, kiểu ăn mặc không chút màu mè như thể sợ bị coi là người có cá tính… cô tiến gần đến bàn tôi ngồi đợi với nhịp bước không nhanh không chậm, không mạnh mẽ quá mà cũng không nhẹ nhàng quá”, đến cả “bộ ngực gần như không có gì”. Thân thể cô được trình hiện trọn vẹn như một sản phẩm hứng chịu bạo lực - một thứ bạo lực khuôn đúc mọi thứ vào khuôn khổ của cái “bình thường”, kháng cự lại mọi dòng mạch khó nắm bắt và đôi khi khó kiểm soát của xung lực tự nhiên. Nói cách khác, từ sự miêu tả rất bình thường ấy, Han Kang như không muốn tiếp tục che đậy tình trạng phi sự sống của một thân thể bị xã hội kiến tạo. Hay, mượn nhận xét của Pierre Bourdieu, thân thể lúc này trở thành “khuôn đúc của những khái niệm phổ biến, phải chịu một sự kiến tạo của xã hội”, trở thành một tồn tại bị cắt lìa khỏi chính nó, bị bóp méo, biến dạng, một thứ thân thể bị quy phục.4

Ở bên cạnh một thân thể nữ đã “hội nhập sự thống trị” một cách cam chịu và ngoan ngoãn như thế gần như là cách để người đàn ông né tránh cho mình khỏi mọi áp lực của “đặc quyền nam giới”: “Nếu như phụ nữ, vốn phải chịu đựng một công cuộc xã hội hóa nhằm giảm giá trị của họ, phủ định họ, thường học tập những đức tính tiêu cực của sự hi sinh, sự nhẫn nhục, và sự thinh lặng, thì đàn ông cũng là tù binh, và là nạn nhân một cách âm hiểm, của hình dung thống trị” (Bourdieu). Người chồng gần như là một kẻ thất bại hoàn toàn trong nỗ lực vươn tới chuẩn mực nam tính thống trị (bụng dưới bắt đầu có từ khi ngoài hai mươi tuổi, bắp tay bắp chân gầy nhẵng chẳng có tí cơ bắp dù đã cố tập tành, cái “của quý” bé tí từng là nguyên nhân của nỗi tự ti…). Nếu như “đặc quyền nam giới cũng là một cái bẫy và đặc quyền này tìm thấy phức bản đối chiếu của nó ở trạng thái căng thẳng và gắng sức thường trực, đôi khi bị đẩy lên đến phi lí” (Bourdieu) thì việc tự so sánh với hình ảnh của “đám đàn ông trong catalogue thời trang” phơi bày cách một hình dung tưởng tượng, một huyền thoại nam tính được kiến tạo và áp đặt, trở thành sức ép với mọi người đàn ông trên các thang bậc xã hội. Bởi vậy, để hòa nhập vào xã hội, sau những nỗ lực vươn tới một huyền thoại chuẩn mẫu về thân thể, là việc chấp nhận thân thể và từ đó tìm cách xếp đặt thân thể ấy vào những vị trí xã hội phù hợp với nó, tìm kiếm những không gian xã hội mà thân thể ấy vừa vặn và có khả năng thích nghi. Bạo lực, theo đó, là thứ được chịu đựng và thích nghi thay vì kháng cự. Điều ấy khiến trưởng thành giống như một quá trình kiếm tìm những vị trí thích hợp trong sơ đồ xã hội, tự đặt mình vào một sự vận hành cơ học hóa thay vì lắng nghe những ham muốn bản năng của thân thể: anh chồng khi nhỏ thì cầm đầu đám trẻ con bé hơn mình hai ba tuổi - lớn thì đăng kí vào trường đại học có học bổng kha khá - rồi vào làm ở một công ti nhỏ nhỏ biết quý cái năng lực vừa phải của mình - và thỏa mãn với mức lương bình bình nhận đều đặn hàng tháng.

Tồn tại xã hội, do vậy, là chấp nhận và duy trì một trạng thái “bình thường” để đảm bảo sự vận hành của bộ máy xã hội ấy. Trạng thái hiện tồn ấy đem đến một sự dễ chịu bởi nó vừa thừa nhận những chuẩn mực và sự phân cấp vừa học cách định vị để tồn tại vừa vặn bên trong nó. Người ăn chay phơi bày nghịch lí ngay từ những gì nhỏ nhặt nhất: danh dự nam giới có nguy cơ bị tổn tại khi người vợ không chịu mặc áo lót: “thà rằng cô ấy mặc áo ngực dầy lên thì tôi có cái mà sĩ diện với bạn bè”. Thân thể nữ, như thế, không ngừng bị ngụy tạo, bị sử dụng, bị coi như một thứ vật chất được lợi dụng để khẳng định năng lực chiếm đoạt và đem lại danh dự cho người đàn ông. Cô gái trong truyện có thể không có tiếng nói nhưng thân thể của cô không câm tiếng. Cô “khó chịu khi mặc vào vì nó cứ thít lấy bộ ngực của cô”. Cô tháo bỏ áo ngực như muốn cởi bỏ sự bó buộc nguồn sống. Thế mà riêng điều này thôi đã là đi ra ngoài địa hạt của cái bình thường.

Tóm lại, ham muốn và bản năng của chủ thể dục tình (sexuate subjects) gần như bị lãng quên tuyệt đối để đánh đổi lấy sự bình thường: “mọi thứ đều bình thường… Năm nay là năm thứ năm kể từ khi chúng tôi kết hôn, ngay từ đầu tình yêu cũng không lấy làm cuồng nhiệt cho lắm nên đến giờ cũng không có gì đặc biệt nhàm chán”. Việc có thai như một việc làm được lên kế hoạch. Và trong mọi việc được lên kế hoạch mang tính vĩnh viễn như thế, cách hành xử của người vợ đột ngột chệch khỏi đường ray: “Tôi cũng không thể tưởng tượng được rằng có một ngày cuộc sống vợ chồng của chúng tôi lại thay đổi”.

Việc cô khước từ ăn thịt bắt đầu từ những ám ảnh vô thức. Những cơn mơ đột ngột, sự mất ngủ trong sợ hãi, nhìn chằm chằm vào cái tủ lạnh 400 lít màu trắng đục mà không hiểu vì sao, muốn nằm nằm co quắp như một bào thai,… tất cả bắt nguồn từ sự khủng hoảng trong việc “nhận thức lại” chính những gì cô và chồng vẫn ăn hàng ngày - “những túi nilon trắng, đen và cả những hộp kín bằng nhựa để đầy trên sàn nhà đến nỗi không còn chỗ len chân. Thịt bò để nấu lẩu, thịt lợn ba chỉ, hai đôi xương chân bò to đùng, những con mực trong túi nilon, những cái bánh bao nhân thịt”, rồi: “thịt bò, thịt lợn, thịt gà chặt thành miếng”,… Sự ngụy tạo của văn hóa tiềm ẩn trong ngay từ những cách gọi tên, những cách đóng bọc - ngôn ngữ cũng chẳng khác gì túi nilon hay như lớp vỏ bánh bao bọc bên ngoài những phiến/miếng thịt. Không thể chối cãi, đó chỉ là một cách che giấu sự thật, một cách đánh tráo khái niệm, một cách “thực phẩm hóa” mọi thứ trước đó đã từng là những con vật sống. Nhưng nếu như ý thức cố tìm cách giấu giếm đi những sự thật tàn sát thì vô thức nhắc nhở cô. Căn nguyên tiên khởi dẫn tới hành động của cô là những giấc mơ - một sự trỗi dậy của vô thức, dẫn đến một nhận thức đánh động vào da thịt, một sự đồng cảm từ-dưới-lên.

Song song với việc loại trừ thịt ra khỏi lựa chọn thực phẩm là việc cô dần dần phá vỡ việc duy trì hình ảnh một người vợ lí tưởng theo tiêu chuẩn “bình thường”: không giặt áo, không chuẩn bị đồ đạc cho chồng, cũng không tiễn chân chồng đi làm (lần đầu tiên kể từ năm năm sau ngày cưới). Sự bất bình thường khiến người chồng sợ hãi. Tỉnh dậy giữa đêm, cô như một miếng thịt đông lạnh câm tiếng được bao bọc trong túi nilon được nhét trong tủ - “không nhúc nhích”, “khuôn mặt chìm trong bóng tối nhưng có cái gì đó rất ghê rợn”, là người sợ lạnh nhưng lần này chấp nhận cái lạnh (chân không, áo ngủ mỏng mặc mùa xuân thu), “đứng đờ ra như tượng đá”,… Trong cô như đang diễn ra “sự trở thành người khác” (becoming other) với minh chứng đầu tiên là trở thành dạng thức tồn tại khiến mình bị ám ảnh - một tảng thịt động vật đông lạnh - một thứ cũng bị cắt rời khỏi chỉnh thể sống vốn có của nó, khỏi nguồn sống gốc rễ của nó và được cố giữ cho tươi (hay đúng hơn là được bảo quản để có thể giữ được giá trị sử dụng). Thức nhận này giống như một sự thức tỉnh lại hiện trạng sinh tồn của bản thể, nhận thức lại sự vô tri giác và cứng đờ của bản ngã thì hiện tại, nhưng đồng thời lại là sản phẩm của một quá trình bạo lực diễn ra trước đó.

Trong giấc mơ, cô lạc vào một “nhà kho bỏ hoang” - một biến thể của lò sát sinh với “hàng trăm tảng thịt to đùng, đỏ ối treo trên những thanh gậy to dài. Có những tảng thịt còn chưa kịp khô, tiết đỏ vẫn chảy xuống ròng ròng… Chiếc áo trắng đang mặc đã bị dính máu đỏ tươi”. Lúc này, những tảng thịt không còn là những vật vô tri, mà hiện nguyên hình là những thân thể chịu bạo lực. Sự xuất hiện của máu và thịt - nhắc nhở rằng những miếng thịt trong tủ lạnh kia từng thuộc về một thân thể, từng sở hữu một “gương mặt”, từng bị trải qua một quá trình tàn bạo tước đoạt sự sống, và từng đau đớn. Con vật được trả về đúng xác thịt ban đầu của nó: máu, xương và thịt. Và nhìn từ khía cạnh này, chúng không còn là ‘kẻ khác xa lạ’ với chúng ta. Han Kang đề xuất một sự tương đồng vừa theo nghĩa đen vừa theo nghĩa biểu tượng: thân thể người thực chất chỉ là một thứ bị xã hội và những định kiến ăn sâu cắt gọt, bị tước đoạt sự sống và nguồn sống. Chiếc áo trắng tưởng như có thể là cách để con người cố che đậy đi thân xác da thịt, cách để con người tìm kiếm một sự phân biệt hẳn với những tồn tại động vật phi nhân, và cũng là cách để con người tự đặt mình vào vị trí vô can, không nhuốm tội lỗi; giờ đây nhuốm máu. Con người không né tránh được tồn tại thực sự của mình, cũng không thể chối bỏ được tội lỗi mình gây ra cho những con vật và của chính mình, cũng như của những người khác - con người không vô can với tự nhiên, cũng không vô can với chính mình.

Phản ứng khước từ của cô trọn vẹn từ không ngủ, không muốn ăn, đến từ chối quan hệ tình dục. Câu trả lời của cô với chồng mình là vì ‘Mùi’ - ‘Mùi thịt bốc ra từ người anh’. Không gì khác, đó là một ý thức về thể xác: con người không thể né tránh việc mình mang thể xác của động vật. Nếu như câu trả lời của người chồng “Anh vừa tắm xong. Mùi thịt ở đâu ra” giống như một sự đứt gãy, khăng khăng khẳng định ‘mùi thịt’ là một cái gì đó ở bên ngoài mình, không thuộc về mình; thì ngược lại, cô vợ khẳng định đó là mùi từ-bên-trong, một thứ mùi có thể được coi là bằng chứng cho bản chất động vật của con người. Nó tỏa ra từ “từng lỗ chân lông” mà không ai có thể che giấu. Sự nhạy cảm khiến cô bị lệch ra khỏi khuôn khổ xã hội mà cô buộc phải và vốn vẫn cố gắng vừa vặn: “Mỗi khi thấy vợ lo lắng chuyện không hay, tôi lại nghĩ, bố mẹ vợ làm xưởng mộc và có cửa hàng ở một thành phố nhỏ, vợ chồng chị gái và em trai đều là người tốt như thế, còn cô ấy thì không hợp tí nào với một gia đình như thế cả”. Việc từ bỏ ăn thịt không chỉ đặt cô ra bên ngoài những bữa ăn, nó khiến cô lệch khỏi những bình thường được nâng lên làm chuẩn mà tất cả mọi người trong gia đình dường như đều đáp ứng được. Ăn thịt cũng bằng với mở được xưởng mộc, cũng bằng với quản lý một cửa hàng, cũng bằng với làm người tốt. Có một logic ngầm kết nối những gì không liên quan ấy lại với nhau - logic của cái bình thường, logic của sự hài lòng với khả năng đạt được độ trung bình trong mọi thứ, một mức sống trung lưu “bình thường nhất” để tồn tại và vận hành tốt nhất có thể, không va chạm, không gây khó chịu.

Một gia đình ‘bình thường nhất’ được xác quyết thông qua việc ăn uống: “Nghĩ đến người nhà cô ấy, tự nhiên mùi tỏi nướng và khói ngào ngạt hiện ra trong đầu tôi. Những chén soju nâng lên đặt xuống, mỡ thịt cháy bốc lên, đám phụ nữ nói chuyện ríu rít trong bếp… mẹ vợ biết làm gỏi cá sống, ông anh đồng hao và vợ là những người có thể chặt một con gà thành những miếng vuông vức bằng dao chuyên dùng ở cửa hàng thịt. Tôi cũng từng thích sự mạnh mẽ của vợ khi thấy cô ấy có thể lấy bàn tay đập mấy con gián một lúc. Chẳng phải cô ấy là người đàn bà bình thường nhất thế gian mà tôi đã chọn đấy sao…”. Những mô tả này có khác gì một chuẩn mực bình yên hạnh phúc gắn với những bữa ăn gia đình vẫn thường được ca ngợi?

Dù vậy, Han Kang dám để cho nhân vật của mình kháng cự lại, để cho nó dám đơn độc tra vấn về bản chất ngụy tạo của văn hóa, về trật tự nhân loại/ phi nhân vốn được đặt trong tổng thể cái trật tự được gán cho là “tự nhiên” và “vĩnh viễn” của sự vật vẫn không ngừng “xã hội hóa cái mang tính sinh học và sinh học hóa cái mang tính xã hội” để ban cho con người những đặc quyền phi lý (Pierre Bourdieu).

ĐẶNG THỊ THÁI HÀ
Nguồn: TCSH350/04-2018

_______________

1. Luce Irigaray, Starting from Ourselves as Living Being, Journal of the British Society for Phenomenology, 46:2, 2015, 101-108.
2. Người ăn chay, Han Kang (Giải thưởng Man Booker International 2016), Nxb. Trẻ, 2011.
3. Simon C. Estok, Theorizing the Disconnect Between What we Eat and the Environment, Literature and Environment, Vol 10., No 2., 2011.12 (241-257).
4. Pierre Bourdieu, Sự thống trị của nam giới, Nxb. Tri thức, 2010.  




Thứ Ba, 2 tháng 7, 2019

VĂN CHƯƠNG THỜI MỞ CỬA

Chúng ta cứ quen nghĩ những danh hiệu thế giới là vĩ đại. Thời nay, chỉ có Liên Hiệp Quốc và các tổ chức trực thuộc nó là có tính chất thế giới mà thôi. Ngoài ra chỉ là do một nhóm, một đơn vị hoặc vài nhóm liên kết đứng ra trong một phạm vi hạn chế. Ngay cả cuộc bầu chọn những kỳ quan thiên nhiên đẹp nhất thế giới cũng là do một tổ chức đứng ra vì một lợi ích nào đó chứ đâu có tư cách thế giới, đâu có được UNESCO công nhận.

Hình bóng cơ sở hạ tầng

Nhiều người yêu văn chương có lương tri lo lắng về nền văn chương Việt Nam hiện nay. Bộ mặt của nó vô cùng phức tạp, muôn hình vạn trạng, những đường nét tươi sáng xen lẫn những gam màu xám tối. Thực ra, không có gì phải quá lo lắng cả. Văn chương Việt Nam đang sinh sôi và phát triển tương đối bình thường trên một nền kinh tế thị trường. Tất nhiên nó có những điều thái quá cần phải ngăn chặn, phải uốn nắn.

Hàng nghìn năm văn chương nước nhà được xây dựng trên nền tảng đạo lý và nhân nghĩa bởi nền sản xuất kinh tế tự cung tự cấp là chính. Nền tảng này được đúc kết trong câu mở đầu bài Cáo bình Ngô do Nguyễn Trãi soạn thảo để đức vua Lê Lợi đọc: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Nền văn chương Việt Nam hàng nghìn năm đều thấm nhuần đạo lý ấy. Cho đến cách đây hơn nửa thế kỷ nhà thơ Tố Hữu viết: "Có gì đẹp trên đời hơn thế/ Người yêu người sống để yêu nhau". Cả nghìn năm, con người sống coi trọng tình nghĩa, và văn chương thì thể hiện tình nghĩa của con người. Sự tích trầu cau, Phạm Tải Ngọc Hoa, Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên... đều lấy tình nghĩa làm nền tảng. Đi đôi với nội dung ấy, hình thức văn chương cũng đơn thuần và sáng rõ.

Nhưng hơn ba thập niên nay, nền kinh tế thị trường và cơn lốc toàn cầu hóa đã làm thay đổi tất cả. Nội dung của cơ chế thị trường là lợi ích của cá nhân, lợi ích nhóm, bộ phận; còn toàn cầu hóa là lợi ích của mỗi dân tộc. Nền tảng tình nghĩa quyết định nền văn chương trong sáng. Nền tảng lợi ích quyết định nền văn chương phức tạp. Có gì đâu mà lạ. Đó là một quy luật. Đó là sự tất yếu. Đã chấp nhận nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, mà đây là con đường duy nhất không thể có sự lựa chọn nào khác, thì tất nhiên phải chấp nhận nền văn chương hiện nay mà thôi.

Người viết bài này từ khi còn là sinh viên khoa Văn Trường đại học Sư phạm Hà Nội cách đây bốn thập niên khi đọc truyện ngắn Sêkhốp và truyện ngắn Nam Cao đã nói với thầy giáo rằng: "Thầy ạ, em thấy Sêkhốp được đề cao hơn có lẽ vì ông là người Nga, bây giờ thuộc Liên bang Xô viết". Nói thế để khẳng định nền văn chương Việt Nam hiện nay cũng sánh vai cùng với văn chương các nước, những tác phẩm hàng đầu thì cũng không thua kém gì ai! Có điều cái đỉnh thì như thế, nhưng cái nền thì lại rất bùng nhùng nên toàn thân không thể lớn cao và vững chắc được.

Sự bùng nhùng của nền văn chương Việt Nam hiện nay một phần do cơ chế quản lý. Nếu cứ để cho nhân dân tự lựa chọn thì còn nói làm gì. Sản xuất văn chương hiện nay có rất nhiều máy thủ công và gia công đã bơm ra thị trường ồ ạt nhiều sản phẩm kém chất lượng. Chỉ chú ý nội dung không vi phạm những điều cấm, còn không chú ý đến chất lượng nghệ thuật là một sai lầm. Văn chương là món ăn tinh thần, còn thực phẩm và dược phẩm là món ăn vật chất. Thuốc dởm, thực phẩm không an toàn thì mọi người la ó, cả xã hội phản ứng. Còn văn chương dởm, văn chương kém chất lượng thì sao các nhà quản lý lại quá thờ ơ?

Vẫn biết, theo cụ Các Mác, cơ sở hạ tầng thế nào thì kiến trúc thượng tầng thế ấy. Nền văn chương Việt Nam hiện nay vốn có như nó phải có. Đó là một quy luật khách quan. Nhưng nắm được quy luật để tác động cho nó phát triển mạnh hơn, hoàn thiện và tốt đẹp hơn vẫn là điều có thể. Thế thì mới cần định hướng và đề cương chiến lược. Chúng ta đã có mục tiêu đúng: Phấn đấu xây dựng nền văn chương Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng chúng ta chưa có được một bộ máy quản lý ngang tầm với nhiệm vụ được đặt ra.

Nhưng những người yêu văn chương có lương tri vẫn có thể hy vọng vào sức sống của nền văn hóa Việt Nam, của nền văn chương Việt Nam có kháng thể miễn dịch, tự biết điều chỉnh thích ứng để tồn tại và phát triển. Giai đoạn đầu nó có thể bị tấn công, bị yếu thế, phải phòng ngự, lui một vài bước để xây dựng phòng tuyến, rồi sẽ phản công. Hình dáng dân tộc trong chiến tranh giữ nước cũng là hình dáng nền văn hóa Việt Nam, nền văn chương Việt Nam trong quá trình tồn tại và phát triển.

Dòng đời có đục có trong

Một thời chúng ta quen với tư duy thẳng. Cứ nghĩ thứ bậc càng cao thì càng vĩ đại. Phải tuần tự như tiến chứ không quen chấp nhận vượt cấp... Thế rồi, thế giới cho chúng ta những bài học: Nhiều vị Tổng thống, Thủ tướng của những nước lớn, tuổi chỉ ngoài ba mươi, rồi nhiều vị Tổng thống, Thủ tướng phải ra hầu tòa... Sự vĩ đại và sự nhỏ bé chỉ cách nhau sợi tóc. Đấy là sự bình thường của thế giới hiện đại trong cơn lốc toàn cầu hóa. Không có gì là thần tượng mãi mãi, cũng không có gì là không thể.

Mới đây có cô người mẫu Việt Nam tự đi thi hoa hậu do một nhóm nào đó ở nước ngoài tổ chức. Thế rồi báo chí cũng làm rùm beng lên. Nào là tự đi thi là không đúng, mà phải được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định cử đi! Rồi có người còn bảo tự đi không xin phép Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì phải xem xét kỷ luật. Sao lại kỷ luật? Cái nơi đăng cai tổ chức người ta chỉ cần ai tham gia thì nộp lệ phí, chứ người ta có yêu cầu người thi phải do Nhà nước cử đâu!

Chúng ta cứ quen nghĩ những danh hiệu thế giới là vĩ đại. Thời nay, chỉ có Liên Hiệp Quốc và các tổ chức trực thuộc nó là có tính chất thế giới mà thôi. Ngoài ra chỉ là do một nhóm, một đơn vị hoặc vài nhóm liên kết đứng ra trong một phạm vi hạn chế. Ngay cả cuộc bầu chọn những kỳ quan thiên nhiên đẹp nhất thế giới cũng là do một tổ chức đứng ra vì một lợi ích nào đó chứ đâu có tư cách thế giới, đâu có được UNESCO công nhận. Nhưng những ai đó muốn quảng bá cho du lịch thì cứ tham gia cũng tốt. Rồi còn chuyện một tổ chức nào đó muốn đứng ra làm tập sách về các danh nhân của thế giới, nhưng muốn có mặt trong tập sách mỗi người phải đóng 300 USD. Ở Việt Nam có người viết văn chẳng có tên tuổi gì cũng được tham gia đấy thôi. Còn những tổ chức mang tên thế giới nghe rất oách, nhưng thực ra chỉ có tên thôi chứ có đại diện cho ai? Nhưng người được tham gia cũng phô phang lắm lắm, vì có lợi ích mà. Tôi đã được tham dự một hội nghị thơ quốc tế. Người làm thơ đến hội nghị thơ của một nước khác thì đương nhiên là khách quốc tế. Hội nghị thơ mà có người làm thơ ở các nước đến dự thì được gọi là hội nghị thơ quốc tế (?). Nhưng những nhà thơ tầm cỡ như Hữu Thỉnh, Lò Ngân Sủn được giới thiệu ở một hội nghị thơ quốc tế của Đài Loan mấy năm trước đây thì rất hiếm. Cũng có người làm thơ từ các nước đến chỉ tầm cỡ thơ phường, thơ xã, thơ câu lạc bộ như ở nước ta tham dự thì cũng không phải là hiếm. Có tổ chức quốc tế thơ đâu! Ban tổ chức có mối liên hệ với ai, với tổ chức nào thì mời người ấy, tổ chức ấy. Có những tổ chức chân chính thì không có tiền đi dự. Còn có người của một nhóm nào đó có tiền để mua vé máy bay và chi phí sinh hoạt thì lại không có mấy năng lực thơ... Nhưng mà rồi cũng vui vẻ cả... Vì ai cũng được lợi, người tổ chức cũng như người tham dự. Tất cả là từ cơ chế lợi ích. Rồi còn có tác phẩm ở trong nước bị trượt không được giải thưởng, mà lại được giải thưởng khu vực (cũng có thể gọi là giải quốc tế thì cũng không còn lạ gì).

Lại nghĩ đến cuộc trao đổi trên các trang mạng thời gian qua, rằng văn chương có sang trọng, có cao quý không, xuất phát từ một bài viết của Giáo sư -Tiến sĩ Trần Đình Sử. Loại trừ những chuyện “ông nói gà bà nói vịt”, còn ai cũng có cái lý của riêng mình. Nhưng theo tôi thì văn chương cũng như mọi sản phẩm đang được sản xuất khác đều có ích cho xã hội. Những sản phẩm có chất lượng cao thì là cao quý, mang lại sự sang trọng cho chính sản phẩm và người làm ra nó. Còn những sản phẩm dở, kể cả những sản phẩm thuộc văn chương nghệ thuật, thì chỉ làm cho lĩnh vực đó xấu hổ, thấp hèn mà thôi. Mấy trăm năm trước, danh nhân Nguyễn Văn Siêu đã nói rất đúng rằng: “Văn chương có loại đáng thờ, có loại không đáng thờ”. Thì lĩnh vực nào mà chả thế! Những tinh hoa của lĩnh vực nào trong cuộc sống con người cũng cao quý và sang trọng, chứ tự thân lĩnh vực nào đó thì đâu đã nói lên được điều gì.

ĐINH QUANG TỐN
Nguồn: Tinh hoa Việt


BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...