Thứ Tư, 24 tháng 4, 2019

NHÀ VĂN LẠI VĂN LONG: VIẾT TIỂU THUYẾT NHƯ “LÊN ĐỒNG”?

Sau 15 năm “biến mất” khỏi văn đàn, Lại Văn Long tái xuất hiện và liên tục trình làng tác phẩm mới, đặc biệt là các bộ tiểu thuyết được chuyển thể thành kịch bản phim hình sự nhiều tập. Vì sao tác giả của “Kẻ sát nhân lương thiện” im hơi lặng tiếng một thời gian dài rồi quay trở lại với một sức viết như “lên đồng” mà chủ yếu là tiểu thuyết?
Nhà văn Lại Văn Long

Tốt nghiệp cử nhân triết học nhưng say mê sáng tác văn chương, Lại Văn Long là cây bút đáng chú ý thuộc thế hệ 6x, chuyên viết về đề tài hậu chiến với tinh thần nhân ái, hoà hợp hoà giải, hàn gắn những vết đau thương của dân tộc do chiến tranh gây ra. Sau tập truyện ngắn “Thuỷ cơ” và tiểu thuyết “Thạch Đế”, mới đây anh lại trình làng tiểu thuyết “Đứa con thời hậu chiến” do NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành, cùng 4 tiểu thuyết khác sắp xuất bản năm 2017.

- Anh là nhà văn đi làm báo, rồi là nhà báo tranh thủ viết văn. Nhiều người ngạc nhiên chẳng hiểu vì sao tác giả “Kẻ sát nhân lương thiện” đột ngột biến mất trên văn đàn một thời gian dài, rồi lại bất ngờ xuất hiện trở lại với sức viết mạnh mẽ. Đằng sau những sự đột ngột ấy là gì, thưa nhà văn?

+ Sau khi nhận giải thưởng của Báo Văn nghệ cho cuộc thi truyện ngắn năm 1990 - 1991, tôi rất muốn tiếp tục với văn chương, nhưng phải rẽ sang làm báo để nuôi thân và giúp đỡ gia đình. Đã lao vào làm báo thì viết văn rất khó. 15 năm tiếp theo tôi chẳng sáng tác được gì ngoài một, hai truyện ngắn dù đã được đăng báo vẫn không muốn đọc lại.

Thế nhưng vài năm gần đây tôi viết rất sung sức, bạn bè gọi là “viết như lên đồng”, một cuốn tiểu thuyết cỡ 200- 300 trang chỉ viết dưới 3 tháng là xong. Đó là chưa kể vừa viết thêm truyện ngắn, các bài báo để… lấy ngắn nuôi dài. Riêng trong năm 2016 này, tôi đã viết gần xong 2 tiểu thuyết với độ dày từ nghìn trang trở lên. Cuốn thứ nhất là “Mật danh Đ.9”, đã đưa vào dựng phim 45 tập trong series “Hồ sơ lửa” gồm 1.100 tập, và cuốn thứ hai “Gia tộc tướng cướp” đã viết được  hơn một nửa trong 60 chương (mỗi chương tương đương 1 tập phim 45 phút). Tôi hạ quyết tâm 2 tháng nữa là hoàn thành bộ tiểu thuyết mà nhà biên kịch Phạm Thuỳ Nhân đọc xong 15 tập đầu đánh giá là “có tính chất sử thi”.

-  Anh thường dành thời gian cho sáng tác vào lúc nào? Từ kinh nghiệm của mình, anh thấy có mối quan hệ ra sao giữa báo chí và văn chương?

+ Ban ngày đi làm báo, đưa đón hai con đi học, 8 giờ tối coi thời sự xong, tôi ngủ đến 12 giờ hoặc 1 giờ rồi dậy viết luôn đến 5 giờ, tập thể dục, sau đó đưa con đi học và vô cơ quan làm việc.

Nhiều người và bản thân tôi trước đây cũng nghĩ viết báo làm hư văn, nhưng thật ra nghề báo sẽ cho nguyên liệu dồi dào, phong phú và những cảm xúc rất mãnh liệt cho sáng tác văn học. Tôi có thể viết tiểu thuyết hay kịch bản phim hình sự rất nhanh (2 ngày có thể được 1 tập đủ chất lượng như các đạo diễn đánh giá) là nhờ vốn liếng, cảm xúc từ 25 năm làm Báo Công an TP Hồ Chí Minh.
Bìa tiểu thuyết “Đứa con thời hậu chiến”.

- Khởi đầu viết truyện ngắn, anh chuyển sang viết tiểu thuyết. Trong lời tựa “Đứa con thời hậu chiến”, anh cũng cho biết tiểu thuyết này lẫn tiểu thuyết “Người khổng lồ đội mồ kể chuyện” sắp xuất bản, lúc đầu anh chỉ dự định viết thành truyện ngắn nhưng rồi không thoả mãn nên viết luôn tiểu thuyết. Vậy phải chăng tiểu thuyết là sự kéo dài của truyện ngắn? Và theo anh, đâu là cái khó để dựng nên một tiểu thuyết thành công?

+ Tôi đã có 3 tiểu thuyết được phát triển từ truyện ngắn là “Thạch Đế”, “Người khổng lồ đội mồ kể chuyện” và “Đứa con thời hậu chiến”… Lúc đầu, mỗi tác phẩm tôi tính viết 5.000 chữ trở lại, song càng viết càng say sưa, bút không dừng được nên tôi cho cảm xúc tuôn chảy tự do, để mình “nửa mê nửa tỉnh” với giấc mơ ngọt ngào kéo dài suốt cả trăm ngày đêm luôn… Tôi thích viết tay bằng bút kim mực đỏ, trên giấy đã in một mặt mà toà soạn báo thải ra. Mấy nghìn trang bản thảo trong 10 năm gần đây của tôi đều được viết như vậy, dù con cháu và bạn bè chê cười là “lạc hậu”.

Tôi chẳng được học một ngày về văn chương, báo chí, viết theo ý thích riêng của mình nên giờ hỏi lý thuyết về sáng tác văn hay viết báo tôi… “bó tay”! Hiện tôi có hơn hai chục giải thưởng báo chí, kể cả giải nhất, giải nhì báo chí TP Hồ Chí Minh, báo chí quốc gia và từng được mời thỉnh giảng các môn nghiệp vụ phóng viên, phóng sự điều tra ở nhiều lớp báo chí đại học.

Với văn chương tôi đã viết được bốn chục truyện ngắn, cùng 6 tiểu thuyết và một nửa số đó đều trên nghìn trang sách in một cách nhanh, gọn như vậy… Sáng tác văn hay viết báo đòi hỏi nỗ lực học tập ghê lắm. Cái gì còn lơ mơ phải đọc nhiều, đọc kỹ thì mới “thấu”, mới tuôn chữ được. Sợ nhất là viết ra bị người ta chê cười vì kém, vì lười, vì u mê…

- Điều anh bày tỏ cũng đúng với nhiều trường hợp trong giới văn chương. Có những người khởi đầu cầm bút có dấu hiệu tài năng, được ưu ái đưa đi đào tạo ở trường viết văn Nguyễn Du hay Gorki trở về không viết được cái gì ra hồn nữa. Vốn học triết nhưng được biết thời sinh viên anh rất mê đọc tiểu thuyết, vậy những nhà tiểu thuyết nào của Việt Nam và thế giới mà anh mến mộ?

+  Hồi nhỏ tôi đọc sách rất nhiều, thời sinh viên suốt ngày rỗi “ngồi đồng” trong Thư viện Quốc gia, Thư viện Khoa học xã hội và Thư viện Trường đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. Khi bắt đầu viết văn, tôi không đọc nữa vì sợ bị ảnh hưởng hoặc vô tình thành “đạo văn”. Tôi thích những bộ tiểu thuyết như: “Nhà thờ Đức Bà Paris”, “Những người khốn khổ” của văn chương Pháp; “Sông Đông êm đềm” của Nga; “Tam quốc chí”, “Thủy hử”, “Tây du ký” của Trung Quốc; “Đèn không hắt bóng” của Nhật Bản; “Bố già” của Mỹ… Tiểu thuyết Việt Nam tôi đọc nhiều nhưng không có tác phẩm đạt tầm như những cuốn tôi vừa kể. Đó là điều mà các nhà văn Việt Nam rất trăn trở, còn với tôi là nỗi buồn.

- Vâng, nỗi buồn đầy tự trọng của một cây bút có trách nhiệm. Đối với hai tiểu thuyết đã xuất bản của anh, ở góc độ tác giả anh nhận thấy có sự khác biệt lớn giữa “Thạch Đế” với “Đứa con thời hậu chiến”?

+ Tôi viết tiểu thuyết “Thạch Đế” từ năm 1991 đến 2009 mới xong, dù chỉ 200 trang mà mất 18 năm. “Đứa con thời hậu chiến” cũng dày cỡ đó nhưng viết xong chỉ trong 9 tuần. Hai cuốn là hai phương pháp kể chuyện khác nhau. “Thạch Đế” nhiều “tham vọng” về triết, sử, thời cuộc và là cuốn tiểu thuyết đầu tay nên rất khó viết, khi phát hành, nhiều người đọc cũng cho là “khó nuốt” vì ẩn dụ nhiều quá, triết học nhiều quá, kể cả “khô” quá. “Đứa con thời hậu chiến” tôi viết theo kiểu “giảm duy lý, tăng cảm xúc” nên viết cũng dễ mà độc giả phản hồi cũng tích cực hơn. Thậm chí là lấy nước mắt của nhiều chị em. Nhưng với giới sáng tác và phê bình thì họ vẫn thích “Thạch Đế” hơn!.

- Chưa tới 200 trang sách nhưng thông qua câu chuyện số phận nghiệt ngã của hai mẹ con của Lê và Hoài, một bức tranh sống động sau ngày đất nước thống nhất năm 1975 đã được anh dựng lên trong “Đứa con thời hậu chiến”. Người đọc bất ngờ với cái kết mang tính thời sự hoà hợp, hoà giải. Hình như đây cũng là một thông điệp mà anh muốn gửi gắm?

+ Đúng như vậy. Từ thời mở cửa đến nay, nhất là từ khi Việt Nam có Internet, tôi có cái nhìn đa diện hơn về cuộc chiến 1954 - 1975. Nói như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Ở miền Nam dòng họ nào, gia đình nào cũng có người ở bên này, bên kia”. Tôi cũng như bất kỳ người Việt nào, đều khát vọng hoà hợp hoà giải dân tộc.

Trong những bài báo được giải thưởng của tôi, trong nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết đã viết, tôi đều tập trung cho khát vọng này dưới nhiều cách mô tả, kể cả cách viết huyền ảo như trong “Thạch Đế”, “Thánh Thi”, “Người khổng lồ đội mồ kể chuyện”; trong các truyện ngắn tôi đã in trên các báo như “Thằng Mới”, “Bố với Ba”, “Hồ Vạn Kiếp”, “Trường xưa”…, tôi đều nhắc đến hòa hợp hoà giải dân tộc với cách thức mềm mại, dễ cảm nhất. Thường thì khi viết về vấn đề này tôi rất cảm xúc, thậm chí vừa viết vừa khóc vì… thương cả hai bên! Tôi sẽ còn đeo đuổi đề tài này trong các sáng tác tiếp theo của mình.

Năm 2017, tôi định sẽ xuất bản 4 cuốn tiểu thuyết dày, nhưng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, khó nói trước!

- Xin cảm ơn nhà văn. Mong sớm đón đọc những tác phẩm mới của anh!

HÙNG PHAN
BÁO VNCA



Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019

HIỆN TƯỢNG LÊ MINH KHUÊ

Trong số các nhà văn đương đại Việt Nam, nếu có thể nói, Lê Minh Khuê là một hiện tượng văn chương đáng quan tâm vì nhiều lẽ.
Nhà văn Lê Minh Khuê

ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong số các nhà văn đương đại Việt Nam, nếu có thể nói, Lê Minh Khuê là một hiện tượng văn chương đáng quan tâm vì nhiều lẽ. Trước hết bà là một nhà văn “trụ hạng” được với truyện ngắn, một thể loại vốn rất khắt khe với những ai dễ dãi trong sáng tác. Đã có không ít người lầm tưởng truyện ngắn chỉ là “bài tập”, chỉ là “giấy thông hành” để bước vào làng văn. Thậm chí có người còn nói quá lên rằng truyện ngắn chỉ là “dao găm súng lục”, đánh gần mà không đánh xa được. Tinh thần trụ hạng này là nhờ chủ yếu vào sức bền của ngòi bút, phẩm tính này giúp bà chung thủy chỉ với truyện ngắn và thành danh nhờ nó. Sự nghiệp văn chương của Lê Minh Khuê gắn với những thành công, thành tựu về truyện ngắn. Cho đến nay bà đã sở hữu 12 tập truyện ngắn, mỗi tập đánh dấu một bước đi vững chắc trong nghề văn: Những ngôi sao xa xôi (1973), Cao điểm mùa hạ (1978), Đoạn kết (1980), Một chiều xa thành phố(1986), Bi kịch nhỏ (1993), Lê Minh Khuê - Truyện ngắn (1994), Trong làn gió heo may (2000), Những dòng sông buổi chiều cơn mưa (2001), Màu xanh man trá (2005), Một mình qua đường (2007), Những ngôi sao, trái đất, dòng sông(2008), Nhiệt đới gió mùa (2012).
         
Trong thời buổi hội nhập, toàn cầu hóa sôi động, văn chương Việt Nam đang cố gắng thoát khỏi tình trạng “nhập siêu” để tiến đến một sự cân đối khi có thể “xuất khẩu” ra thế giới với ý nghĩa là một thị trường khó tính. Theo thời gian, các tác phẩm của các nhà văn đương đại Việt Nam đã có cơ may “đổ bộ” vào lãnh thổ các nước có truyền thống văn chương lớn như Pháp, Mỹ, Anh,…Truyện ngắn Lê Minh Khuê đã được dịch sang tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Tập truyện ngắn Những bi kịch nhỏ đã được dịch ra tiếng Đức, đoạt giải thưởng xuất bản sách tại Hội chợ sách Frankfurt. Nhờ truyện ngắn mà Lê Minh Khuê đã đặt chân được đến nước Mỹ. Báo chí Mỹ nhận xét khá tinh về tác phẩm của bà: “Độc giả Mỹ của ngày hôm nay đã đến mức đòi hỏi tính ẩn dụ tinh tế. Lê Minh Khuê thực sự làm chủ được phép so sánh chính xác. Dưới ngòi bút của bà, lối so sánh này không gì khác hơn là mang tính giản dị…Từng truyện ngắn khuấy động để người đọc nghĩ ngợi xa hơn, đưa con người đến một tương lai mà nhà văn hàm ý hơn là nói trực diện” (Báo Tin Sáng Dallas), “Đây là những truyện nên được dạy trong những giờ văn học và lịch sử trên toàn nước Mỹ, cả ở trường trung học phổ thông lẫn đại học” (Báo The Pilot), “Qua bản dịch, hiện lên hình ảnh tác giả, một người có văn phong đẹp, nghiêm trang, cùng với sự châm biếm tinh tường, đồng thời có khả năng trong những nhận xét đầy sức khơi gợi” (Thời báo New York).
         
Những cống hiến của Lê Minh Khuê trong lĩnh vực văn chương đã giúp bà nhận được những giải thưởng trong nước và quốc tế: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1987 cho tác phẩm Một chiều xa thành phố, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001 cho tác phẩm Trong làn gió heo may, Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2012. Năm 2008 Lê Minh Khuê đã nhận được Giải thưởng văn học quốc tế mang tên Byeong Ju Lee (nhà văn lớn Hàn Quốc, 1921-1992) cho tập truyện ngắn Những ngôi sao, trái đất, dòng sông.
         
Lê Minh Khuê thuộc số ít các nhà văn đương đại Việt Nam có tác phẩm được chọn đưa vào chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn lớp 9 (truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi). Giả sử nếu chỉ được phép chọn năm tác giả truyện ngắn thời kì đổi mới văn chương rất có thể Lê Minh Khuê sẽ nằm trong “top” đó: Nguyễn Minh Châu – Nguyễn Huy Thiệp – Lê Minh Khuê – Trần Thùy Mai – Phan Thị Vàng Anh.
         
Sở dĩ nói Lê Minh Khuê là một hiện tượng còn vì sáng tác của bà thường hay “chia đôi dư luận” (ví dụ như Bi kịch nhỏ, Đồng đô la vĩ đại, Những kẻ chờ sung, Anh lính To-ny D, Nhiệt đới gió mùa, Ráp Việt…). Sáng tác của Lê Minh Khuê là đối tượng nghiên của nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ ở các trường đại học, viện nhiên cứu văn học. Truyện ngắn Lê Minh Khuê có nhiều độc giả, đặc biệt nhiều độc giả trung thành với nhà văn mấy chục năm qua, kể cả những người thích đọc nhanh hoặc đọc chậm. Điều đặc biệt đáng nói hơn là sáng tác của nhà văn thường “gây hấn cảm xúc”, tạo nên những cuộc tranh luận thú vị (chẳng hạn xung quanh Bi kịch nhỏ xuất hiện vào đầu những năm chín mươi thế kỉ trước, đã có rất nhiều ý kiến trái chiều nhau). Gần đây nhất tập truyện Nhiệt đới gió mùa(2012) sau buổi giới thiệu sách ở Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội lập tức hâm nóng dư luận.

CẢM HỨNG THẾ SỰ
         
Có thể nói cảm hứng thế sự là cảm hứng chủ đạo trong sáng tác  truyện ngắn của Lê Minh Khuê. Cảm hứng thế sự trong sáng tác của nhà văn thể hiện ở tinh thần dấn thân, nhập cuộc; ở cái cách “áp sát đời sống”, biết lắng nghe, biết quan sát tất cả mọi diễn biến phức tạp của nhân tình thế thái. Trong truyện ngắn Một ngày đi trên đườngnhân vật Tôi (người kể chuyện) vừa ở chiến trường ra Hà Nội, đến thăm một người bạn tên Đức “Không khí chiến trường còn chế ngự toàn bộ con người tôi. Tôi tới nhà Đức rất mong thấy một cái gì mới mẻ ở anh. Nhưng tôi thấy anh đang ngồi ở hàng hiên có treo nhiều phong lan. Con rùa tha thẩn gần anh (…). Mình ở chiến trường về cứ tưởng ở đâu cũng bốc lửa. Thì ra đây là cái góc bé nhỏ của Hà Nội và tiếng súng ở chiến trường rất xa, ở đây không nghe thấy được. Anh lấy chân đẩy con rùa ra xa. Con rùa rụt cổ vào mai nhưng rất nhanh, nó thò cổ ra ngay và đi vào phòng Đức. Cũng như con rùa, Đức đủng đỉnh đi vào nhà (…). Tôi bất giác lật một cuốn sách của anh, thấy một câu của ai đó, được anh ghi vào lề cuốn sách: “Chúng ta biết những sự bất hạnh tồi tệ và trước hết là sự bất hạnh phải sống”.
         
Cũng trong truyện ngắn này độc giả chứng kiến cái nhìn “áp sát đời sống” của Lê Minh Khuê khi nhà văn miêu tả cái cảnh sống nhếch nhác của những thị dân của một thành phố lớn “Khu nhà tôi ở rất đông người, phải ngăn, phải chia ra nhiều khu vực, nhiều phòng tạm. Ban đêm chuột hoành hành dữ dội. Nó bò cả lên chân, nó lách qua người đang ngủ để tìm lối đi, giấc ngủ cứ bị ngắt quãng luôn. Sáng dậy đã nghe tiếng cãi nhau. Mang chậu quần áo xuống nhà làm vệ sinh thì gặp quá đông người. Ai cũng vội, ai cũng cần, có hôm chỉ rửa mặt qua loa rồi lên thôi còn phải nhường người khác vì nước trong máy chảy nhỏ ra nhỏ như cái đũa…”. Cái cảnh sống tập thể nhếch nhác sau này còn được nhà văn tả rất kĩ trong truyện Nhiệt đới gió mùa “Suốt ngày lối đi lênh láng nước. Nhiều gia đình chứa đồ bằng cách đóng đinh chi chít lên tường loại tường phải khoan bằng máy để treo bị treo túi đựng quần áo sách vở”. Sự nhếch nhác hình như cứ đeo bám những con người ở phố thị trong truyện Những kẻ chờ sung “Hơn chục năm sau, đám người mới đến đã sinh sôi nảy nở như ruồi, biến cái  nhà này thành một cái nhà ga, thành khu ổ chuột chính cống. Cái nhà xí máy trước kia sạch như li như lau bây giờ phải hút một tuần một lần mà cứt đái cứ ngập ngụa ra cả lối đi, và chuột bọ cũng sinh sôi nhanh như người. Đêm đêm chuột cống to xù  như cái vại ngang nhiên  đi dạo ở cá lối đi. Người thì suốt ngày chí chóe chuyện điện nước, chuyện rác rến và đã có vụ đâm chém nhau vì tranh chỗ để xe đạp”. Và đây là cảnh sống của sinh viên ở ký túc xá thời bao cấp trong truyện Bi kịch nhỏ: “Tôi nằm tầng giường dưới và bị dị ứng mũi vì hứng trọn số bụi giát giường trên, vì cô bạn gái ở tầng trên không bao giờ giũ giường trước khi đi ngủ. Thời đó, bọn con trai đi ăn cơm ở bếp tập thể không cần bát. Cơm đổ vào chậu, thức ăn đổ vào cùng, và các chàng mỗi người một thìa cắm đầu vào múc. Những cầu thang ký túc xá sinh viên ngập ngụa rác và nước tiểu. Những trí thức tương lai suốt ngày ngồi uống chịu nước trà ở cổng, tóc tai bù xù, mặt mũi xanh xao vì thiếu ăn. Có những bữa cơm không có, mỗi người được một quả đấm – một nắm bột mì cứng như đá, cắn một miếng kéo ra được cả một cọng rau muống dài hàng sải, dùng làm nhân”.
         
Nói nhà văn “áp sát đời sống” không có nghĩa là chỉ có nhìn gần, nhìn kĩ sự nhếch nhác của đời sống mà còn nói đến cái nhìn xuyên thấu tim đen quá trình tha hóa của con người thời đại. Trong sự tha hóa của con người, nhà văn chú ý đến hai “chủng loại” chính: do lòng tham vật chất và do lòng tham quyền lực. Lòng tham là một trong những nguyên nhân dẫn đến những bi kịch đời sống. Cảm hứng thế sự trong sáng tác của Lê Minh Khuê hiển thị qua những bi kịch, tiêu biểu nhất phải kể đến truyện Bi kịch nhỏ. Ông Tuyên là một cán bộ cao cấp (nhà ông ở có lính gác, ông đi xe vonga), ông là người thành danh và thành đạt trên quan lộ. Nhưng ông rơi vào bi kịch khi chính mình là nguyên nhân sâu xa gây nên cái chết của Quang –đứa con trai năm xưa ông cố tình xa lánh cùng người mẹ xấu số của nó. Ông quyết xa lánh vợ con vì “ngửi thấy mùi tử khí bắt đầu tỏa ra trong không khí chính trị ở nông thôn, đã viết thư cho vợ là yên tâm chờ, ông sẽ về khi nào yên hàn” Nhưng ông Tuyên đã “lặn mất hút trong cái biển chính trị sôi sục lúc ấy”. Sự chia cắt về không gian và thời gian khiến cho hai anh em cùng cha khác mẹ (Quang và Cay) không nhận biết gốc tích để rơi vào nghịch cảnh trở thành vợ chồng. Nhận ra sự thật thì đã quá muộn. Phải có một người ra khỏi “cuộc chơi của số phận” đắng cay này, không ai khác chính là Quang. Anh ta đã tự sát. Tác giả viết: “Chuyện đó có lẽ kết thúc như thế. Nhưng tôi không thể chịu được cái ấn tượng về khuôn mặt đẹp đẽ của anh tôi sẽ dần tan đi, rữa nát trong đất đen”.
         
Một dạo Bi kịch nhỏ đã gây sóng gió cho nhà văn. Nhưng với thời gian, bây giờ nhìn lại, mới thấy cách đặt vấn đề của nhà văn trong truyện quả thật là gai góc, động chạm đến không ít người có địa vị - sự mất nhân cách do tha hóa, sự tha hóa do dục vọng quyền lực. Có một kiểu tha hóa khác gây nên do lòng tham vật chất. Lòng tham khiến đạo đức con người bị méo mó, biến dạng như trong Những kẻ chờ sung, Đồng đôla vĩ đại, Anh lính To-ny D,…Cha con, anh em có thể chơi xấu nhau vì đồng tiền. Vì đồng tiền huynh đệ có thể tương tàn, cảnh “nồi da nấu thịt” là điều không khó xảy ra. Tinh thần phê phán quyết liệt cái xấu, cái ác trong truyện ngắn Lê Minh Khuê vì thế có thể nói lên tới cao trào. Không ít độc giả cho rằng nhà văn quyết liệt đến mức cay nghiệt trong phê phán đồng loại. Điều đó không sai. Nhưng cần khách quan khi phân tích thái độ phê phán của nhà văn  như một sự tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của cái thiện chống lại cái ác đang diễn ra  từng ngày xung quanh chúng ta.
         
Cảm hứng thế sự trong nhiều trường hợp giúp nhà văn nhìn ra cái không bình thường trong đời sống. Trên tinh thần “phóng đại thẩm mỹ”, trong nhiều trường hợp nhà văn đã soi chiếu những trường hợp đời sống mang màu sác khác lạ như trong các truyện Ronan Keating, Thầy giáo dạy triết, Đồ cũ,…Nhân vật con người không hợp thời ở đây là những thầy giáo dạy văn học, dạy triết học, một viên chức về hưu. Họ là những con người tốt, có thể nói là mẫu mực cũng được, xét từ phạm trù đạo đức. Nhưng họ đôi khi đóng vai “người thừa”, “kẻ bảo thủ” trong xã hội vì cái tư chất kẻ sĩ của mình – giữ tiết tháo, lòng trung thực và tinh thần nhân văn. Nhưng trong dòng đời cuộn chảy hôm nay họ đôi khi tỏ ra ngây thơ và lạc lõng một cách đáng yêu. Họ trở thành những người chỉ có thể “kính nhi viễn chi” mà thôi.
         
Gần đây nhất khi tập truyện Nhiệt đới gió mùa của bà ra mắt, bạn đọc một lần nữa lại cảm nhận được một cách rõ ràng cảm hứng thế sự thấm đượm trong từng trang viết. Nhưng nổi bật nhất có lẽ phải kể đến truyện Nhiệt đới gió mùa được dùng dặt tên cho cả tập. Chất liệu là chất liệu của một cuốn tiểu thuyết nhưng được dồn nén tối đa trong hình thức một tuyện ngắn có “mầm mống tiểu thuyết” vì tôn trọng độc giả (không muốn làm mất thời gian đọc của các “Thượng đế”), như lời trần tình của nhà văn trong buổi giới thiệu sách ngày 27-12-2012 tại Trung tâm Văn hóa Pháp, Hà Nội. Qua câu chuyện của một gia đình tác giả muốn đặt ra một vấn đề còn khiến 90 triệu người Việt Nam suy nghĩ và trăn trở dù chiến tranh đã trôi qua mấy thập kỉ - xóa bỏ hận thù, cùng nhau hòa giải và hòa hợp dân tộc. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc trả lời phỏng vấn gần đây cũng đã nhấn rất mạnh đến vấn đề này: “Nếu nhìn vào những hi sinh mất mát to lớn, xét về nguyên tắc là không thể nhân nhượng, bỏ qua. Nhưng xét về tình dân tộc, nghĩa đồng bào, đã 40 năm rồi, thì trong quan hệ có thể cởi mở, mềm dẻo, đối xử nhẹ nhàng”. Đó chính là “tinh thần đại xá” của người Việt Nam (Vietnamnet.vn, 27-4-2015). Bằng con đường văn chương nhà văn Lê Minh Khuê đã góp phần vào hóa giải hận thù, khơi thông lòng người thuộc hai chiến tuyến cả trong chiến tranh và thời hậu chiến qua câu chuyện cảm động của hai anh em cùng cha khác mẹ do hoàn cảnh chiến tranh đã rơi vào cựu thù: “Vùng nhiệt đới gió mùa mang theo hơi ẩm từ biển vào luôn gây ra cho con người những cơn bức bối khó chịu không biết trút vào đâu người ta hay trút vào nhau. Dải đất hẹp trần trụi chạy dọc biển Đông nhiều khi nhìn trên bản đồ thấy mong manh như làn khói gió biển thổi mạnh là có thể cuốn phăng, con người lại không biết sự mong manh đó cứ cố sống cố chết chạy theo thù hận. Thù hận làm đời ta ngắn lại”.

NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
          
Thế giới nhân vật mà nhà văn Lê Minh Khuê tạo ra trong truyện ngắn hết sức đa dạng, phong phú. Trong giai đoạn sáng tác đầu (vào những năm bảy mươi đến đầu những năm tám mươi thế kỉ XX), Lê Minh Khuê viết nhiều về những người trẻ tuổi, tự nguyện dấn thân, tham gia cuộc chiến tranh ác liệt với tất cả sức mạnh của lí tưởng cách mạng và sức trẻ có thể dời non lấp biển. Trong Cao điểm mùa hạ (1978) và Đoạn kết (1980) – hai tập truyện đã khẳng định tên tuổi Lê Minh Khuê trên văn đàn – người đọc thường bắt gặp những nam nữ thanh niên xung phong, những người lính trẻ trên các cung đường Trường Sơn thời chiến tranh. Họ tươi tắn, trẻ trung, yêu đời và vô tư lự. Giữa tác giả và nhân vật có một mối đồng cảm lớn vì cùng đều thế hệ và cùng trải nghiệm chiến tranh. Những ngôi sao xa xôi là một ví dụ sinh động, ở đó độc giả bắt gặp những con người của một thời trong sáng, vô tư, sống hết mình. Họ mang vẻ đẹp thuần khiết của một thế hệ sống quên mình vì nghĩa lớn (có lẽ vì thế truyện này được chọn đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn lớp 9). Sau chiến tranh họ may mắn trở về với đời sống thường nhật với bao nhiêu lo toan, buồn vui rất thực tế. Nhìn bề ngoài tưởng như họ bị nhấn chìm vào đời thường và lãng quên quá khứ. Nhưng thực ra không phải như thế, trái lại họ đang “chiến đấu” với chính mình để vươn lên. Trong truyện Một ngày đi trên đường, độc giả thấy có một chàng trai đẹp đẽ làm nghề phiên dịch. Bề ngoài anh ta rất hào hoa phong nhã, lại có nhiều tiền (qua quần áo và trang sức). Nhưng thực ra thì chàng trai đó đã được thử thách qua” lửa đỏ và nước lạnh” của chiến tranh – trước đây anh từng là lính tên lửa. Từ chiến  trường trở về anh đã kịp học xong đại học ngoại ngữ, đã tìm được việc làm phù hợp. Họ là những người có tinh thần dấn thân, nhập cuộc.
         
Chiến tranh kết thúc, đời sống hòa bình mở ra nhiều phía, con người dễ dàng thay đổi theo nhiều hướng phức tạp. Nhà văn coi tâm hồn con người cũng như một dòng sông: khúc khuỷu, bên lở bên bồi, chỗ rộng chỗ hẹp, nơi nước chảy xiết nơi lặng lờ…Tìm cho mình sự cân bằng tâm thế  luôn là hành xử tích cực của nhân vật trẻ tuổi trong truyện ngắn Lê Minh Khuê giai đoạn đầu sáng tác. Một chiều xa thành phố (1986) là tập truyện thể hiện cuộc bứt phá của Lê Minh Khuê trong truyện ngắn. Nhà văn quan sát sự chuyển động âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt “cơn lũ quét” của đời sống hiện đại đang cuốn phăng con người vào những “mê cung” của nó (đời sống tiện nghi, tâm lí tiêu dùng, thói lãnh cảm với đồng loại…).
          
Bi kịch nhỏ (1993) thật sự là lối rẽ trong sáng tác truyện ngắn của Lê Minh Khuê, nơi mà phê phán là âm điệu chủ yếu và con người tha hóa hiện lên như một nhân vật trung tâm của tác phẩm. Vì địa vị xã hội và tham vọng quyền lực mà ông Tuyên đã nhận lấy cái kết cục bi đát khi đứa con đẻ của mình tự tử. Một cái chết có tính “ân oán giang hồ”, “cha ăn mặn con khát nước”. Trong truyện Anh lính To-ny D nhà văn miêu tả mối quan hệ cha con bị rạn nứt và băng hoại vì đồng tiền. Vì tiền mà đứa con trai ép cha đẻ mình phải thề thốt, phải chặt đứt một ngón tay để chứng minh lòng trung thực của mình. Vì tiền mà thằng Thán, đứa con bất hiếu đã đay nghiến, dồn ép ông Thiến - cha đẻ của mình : “Thề đi! Chặt đi đồ sâu bọ. Chặt ngay không là thụt lưỡi với thằng này”. Trong truyện Đồng đôla vĩ đại nhà văn miêu tả cảnh “huynh đệ tương tàn”, anh em trong một nhà vì đồng tiền mà nhẫn tâm sát hại nhau (thằng An giết vợ thằng Khang, tức chị dâu của mình đang mang thai, nó lĩnh án tử hình vì một lúc tước đoạt mạng sống của hai người).
         
Trong truyện ngắn Lê Minh Khuê xuất hiện kiểu nhân vật cô đơn mang nỗi buồn vốn được coi như là biểu hiện của một trạng thái tinh thần xã hội. Trong truyện Mong manh như là tia nắng, nhân vật người mẹ lúc nào cũng buồn: “Tôi vẫn không hiểu sao vào những lúc rỗi rãi, mẹ vẫn buồn. Gia đình như vậy là khá giả (…). Nhưng không hiểu sao mẹ vẫn buồn”. Đoạn kết truyện ngắn lại vẫn ngân lên một điệu buồn: “Mẹ vẫn cứ buồn vào những lúc không phải cắm cúi kiếm ăn. Mỗi người có một bí mật, một nỗi buồn, một kỉ niệm. Tôi biết mẹ sống đến hôm nay mà được như vậy chắc nhờ những bí mật, nỗi buồn và niềm khao khát ấy”. Trong những truyện khác như Một buổi chiều thật muộn, Cơn mưa cuối mùa,  Trong làn gió heo may,…với điệu cảm trữ tình, Lê Minh Khuê đã khá tinh tế trong việc khắc họa “gương mặt buồn” của các nhân vật nữ. Buồn có thể là sự nuối tiếc những kỉ niệm đẹp đẽ, buồn cũng vì con người cố gắng giãy giụa để thoát khỏi sự thiếu thốn tình cảm, nhưng cuối cùng hóa ra hạnh phúc là một cái gì đó hết sức mong manh, dễ vỡ, vụt đến vụt đi. Nhưng đến Nhiệt đới gió mùa thì dường như nỗi buồn  lại càng trĩu nặng hơn trên đôi vai của những người đàn ông. Không còn là nỗi buồn của “phái yếu” nữa, giờ đây “phái mày râu” lâm trận và đa mang nỗi buồn xứ sở bị chia cắt vì thế lòng người phân tâm, bao nhiêu là nghịch cảnh trớ trêu và phi lí đổ ập xuống những thân phận như Hiếu, như Phong (là anh em cùng cha khác mẹ). Cả hai đã giáp mặt nhau trong tư thế là đối phương, thậm chí  là kẻ thù của nhau. Hiếu là người lính giải phóng, còn Phong là lính quốc gia của Việt Nam Cộng hòa. Có nỗi buồn nào lớn hơn nỗi buồn do cảnh “huynh đệ tương tàn”, “nồi da nấu thịt” đến với không chỉ anh em Hiếu và Phong. Nỗi buồn ở đây sâu lắng và đau đớn hơn với Hiếu và những người có lương tâm- làm thế nào để xóa bớt lòng thù hận vì  “thù hận làm đời ta ngắn lại”.
          
Những kẻ kì dị cũng là một nét đặc sắc trong thế giới nhân vật của Lê Minh Khuê. Nhà văn đã vận dụng cái gọi là “nghịch dị ” (grotesque) trong quá trình xây dựng nhân vật. Lão Luốc trong truyện Bến tàu mùa đông là một ví dụ. Lão có một hành tung bí ẩn, có một cuộc sống đượm vẻ giang hồ phiêu lưu. Trong căn bản lão là một người tốt, ít nhất trong con mắt mẹ con mụ Tư Héo. Lão phải chạy trốn cái ác do đồng loại sẵn sàng đổ lên đầu: “Cách đây một năm cháu ạ, ta còn ở đoàn kịch. Ta may quần áo cho cánh diễn viên. Rồi ta phát giác ra một đường dây làm ăn kinh tởm (…). Họ đi lùng ta mấy tháng nay. Ta đã phải bán nhà, ta đã cho vợ con đi vào Nam. Ta còn ở đây đến hôm nay vì có việc. Xong việc rồi vì thế họ càng muốn giết ta.. Nói cho đúng ra họ sẽ không giết. Họ dọa thôi. Họ muốn biết một điều mà chỉ ta nắm được. Nhưng đừng hòng, ta sắp đi”. Thằng Nghẽo tàn tật, dị dạng đáng thương trong truyện Đồng đôla vĩ đại cũng là một điển hình của những kẻ kì dị: “Thằng Nghẽo bị bệnh gì mà lở lói khắp người (…). Nó rét. Nó cũng biết ra vườn nhặt củi vào đốt lửa sưởi, người ngứa thêm. Nó cởi quần áo ra, và nó bóc từng mảng vẩy đóng tren người nó. Bỏ vào than nướng cháy khét lẹt rồi cho vào mồm ăn. Nó ăn vẩy của nó có vẻ ngon lành lắm”. Thằng Cảnh trong truyện Ráp Việt cũng là một “kì nhân”. Hắn giết người không ghê tay, người bị hắn giết là một cô gái tên Lan Hương, người đoạt giải thưởng trong cuộc thi kể chuyện truyền thống. Người trở thành tấm gương để mọi người noi theo là ông nội Cảnh. Vì thế Cảnh cho rằng Lan Hương đã xúc phạm ông nội hắn, một người mà “cả quê hương tôn vinh suốt những năm chiến tranh”.
          
Chi tiết nghệ thuật không phải là cứu cánh nhưng là nét đặc sắc trong truyện ngắn Lê Minh Khuê. Trong bài Hỏi chuyện Lê Minh Khuê (Báo Văn hóa Chủ nhật, số 967 năm 2004) do Bùi Việt Thắng thực hiện, nhà văn xác nhận: “ Với tôi, chi tiết đóng vai trò quan trọng trong truyện ngắn. Bởi vì muốn truyện ngắn gây ấn tượng không thể không có chi tiết đặc sắc (…). Truyện ngắn của các tác giả cổ điển trong nước và ngoài nước, từ trước đến giờ, tôi vẫn thích Sêkhôp, Lỗ Tấn, Nam Cao. Truyện của họ giàu các chi tiết đặc sắc. Đọc họ, ấn tượng đọng mãi không phai là nhờ các chi tiết”. Trong truyện Bi kịch nhỏ, có chi tiết bức ảnh lúc nào Quang cũng mang theo bên mình chụp anh lúc còn nhỏ, trong đó có hình người đàn bà và phía sau có dòng chữ “Cu Tỵ ơi, con giữ lấy ảnh này để biết mẹ con, hãy thương mẹ Hàn như mẹ. Làng Sầm – 1953”. Nhờ tấm ảnh này mà ông Tuyên nhận ra Quang (tên ở nhà gọi là Tỵ), chính là con trai của mình sau mấy chục năm cách biệt. Còn Cay là em của Quang (cùng cha khác mẹ), suýt nữa thì thành vợ thành chồng. Bi kịch đổ ập xuống gia đình ông Tuyên, và Quang là người  phải ra đi. Anh đã tự tử để giải thoát cho mình và cho người khác. Trong truyện Nhiệt đới gió mùa có chi tiết Hiếu bị kẻ thù móc mắt: “Hai thằng nhân viên lực lưỡng nhảy như con báo về phía Hiếu đang ngồi, xô ngã cái ghế và một thằng ôm cứng vai anh thằng kia lấy con dao biệt kích nhọn hoắt làm một động tác thành thạo. Ngửa đầu Hiếu ra sau nó thọc mũi dao vào một bên mắt khoét một vòng rồi hất một cục như hòn bi cùng với da thịt dính theo xuống nền xi măng. Hiếu chưa kịp hiểu vì sao chúng cầm dao nhọn về phía anh thì toàn thân thân anh như bị ném ở độ rất cao xuống vì cơn đau của mũi dao đâm vào vùng mắt (…). Thế là huề nhá, anh Hiếu! Tôi xin một mắt của anh đền cho mẹ tôi! Phong nhặt cái cục thịt đẫm máu trong đó có con mắt của Hiếu cho vào túi ni lông như giữ tang vật”. Hai anh em cùng cha khác mẹ vì một mối hận trong nội bộ gia đình nay đối xử với nhau như thế  đã để lại “thù hận trong lòng Hiếu mới nảy sinh mạnh mẽ từ lúc ấy”.
         
Tuy nhiên cũng phải nói rõ hơn: Chi tiết đôi lúc như con dao hai lưỡi nếu nhà văn không biết tiết chế. Trong một vài trường hợp, những chi tiết rùng rợn hay tự nhiên chủ nghĩa đã làm tổn hại đến hình tượng nhân vật cũng như chủ đề tác phẩm. Trong một số truyện như Đồng đô la vĩ đại, Anh lính To-ny D, Những kẻ chờ sung, Chó điên, Ráp Việt, …Lê Minh Khuê tỏ ra hứng thú chạy theo các chi chi tiết gây cấn, tạo cảm giác mạnh, thậm chí gây sợ hãi, mà quên mất cái “ngưỡng” cần thiết của nó, nói cách khác là “độ dừng” của nó. Truy tìm nguyên nhân của khía cạnh này, theo chúng tôi, có thể xuất phát từ một cái nhìn của nhà văn thường nghiêng về phát hiện cái bản năng, phần hoang dã tự nhiên trong bản tính con người thời hiện đại. Đôi chỗ nhà văn thậm chí còn áp sát miêu tả cái tâm lí bầy đàn như một động lực xui khiến con người hành động trong vô thức và bản năng.
          
Đoạn kết truyện ngắn Lê Minh Khuê khá độc đáo khi bà ý thức được nó như một “cú đấm nghệ thuật” có thể chinh phục hoàn toàn độc giả khi tiếp xúc với tác phẩm. Có thể dẫn ra những đoạn kết hay, nhiều ấn tượng trong Bi kịch nhỏĐồng đô la vĩ đại, Bến tàu mùa đông, Nhiệt đới gió mùaMàu xanh man trá,…Những đoạn kết được Lê Minh Khuê viết ra một cách tự nhiên  như thể cuộc sống ắt phải diễn ra như thế, giản dị và không hề gò ép, khiên cưỡng. Không ít người viết non tay phải ghen tị về cách viết đoạn kết truyện ngắn của Lê Minh Khuê. Bi kịch nhỏ là một ví dụ về cách dẫn dắt truyện ngắn đi nhanh tới một kết thúc “không có hậu”, một lối kết thúc “phi truyền thống” (mặc dù truyện khá dài, gần 50 trang). Tốc độ phát triển của cốt truyện, sự nối kết các tình tiết, cách tạo dựng tình huống bất ngờ cố kết tạo nên một sức mạnh tổng lực khiến cho sức nặng của câu chuyện được kể ngưng đọng và tạo trọng lực ở đoạn kết. Đó là cách tạo những “bước hụt”, tạo bất ngờ như khi chứng kiến cái chết của Quang: “Tôi mở cửa vào nhà. Một bức điện luồn qua dưới khe cửa, nằm ngay ở lối vào. Tôi mở xem: “Quang tự tử tại khách sạn M. Tầng 5 phòng…Nạn nhân đề nghị nhân viên khách sạn báo cho cô. Mời cô vào giải quyết…”. Trong truyện Màu xanh man trá, cũng bằng thủ pháp tạo “bước hụt”, nhà văn gây bất ngờ cho độc giả khi đang theo dõi một “pha” trốn vợ đi theo người tình của một người đàn ông tên Đạt. Nhưng trước giờ máy bay cất cánh, anh ta đổi ý muốn trở về nhà vì có hẹn mang thuốc về cho con trai. Trở về nhà  gần gũi vợ con, anh ta lại một lần nữa đổi ý với Sương – người tình: “Thôi, mọi chuyện khoan khoan em ạ. Thằng Tuấn nó đau! Đạt biết sau câu ấy là nước mắt của sương. Nhưng rồi chắc sẽ nhẹ đi”. Có thể nói nhà văn rất có thức tìm “lối thoát” cho nhân vật của mình, lối thoát đó thường được mở ra đúng lúc ở những đoạn kết truyện ngắn “Chuyện đó có lẽ kết thúc như thế”. Hai chữ “có lẽ” trong trường hợp này hay khác hàm ý nghĩa giả định nhưng lại như một khẳng định, tuân thủ theo chân lí nghệ thuật.
         
Có thể nêu một nhận xét khác về đoạn kết trong truyện ngắn Lê Minh Khuê thường để lại một cái gì đó chưa thành, chưa tới, nó cứ lơ lửng và thách thức cả nhân vật lẫn độc giả. Nói cách khác đó chính là những giả thiết tạo ra khoảng rộng cho suy tư về tương lai (thường mờ mịt) của nhân vật, kiểu như “Ngày mai sẽ chuyện gì (…). Ngày mai lại lo tiếp” (Xe Camry ba chấm), “Chờ đứa trẻ ra đời để xem nó là trai hay gái. Cũng chưa biết làm gì tiếp theo” (Lãng mạn nửa mùa).
          
Đối thoại được Lê Minh Khuê quan tâm trong sáng tác truyện ngắn, được coi như một cách thức “đưa đẩy” câu chuyện. Được biết bà rất mê nhà văn Mỹ E.Hêminguê, đặc biệt mê lối viết đối thoại ngắn gọn, sắc bén và làm nổi bật thần thái nhân vật và câu chuyện. Bà cho biết đã đọc đi đọc lại nhiều lần truyện Những rặng đồi tựa đàn voi trắngcủa E. Hêminguê, coi đó là một mẫu mực viết đối thoại truyện ngắn. Trong truyên Anh lính Tô-ny D, đối thoại giúp bộc lộ “chân tướng” nhân vật: Thằng Thán là đứa con bất hiếu, còn ông Thiến là người bố nhu nhược và tội nghiệp. Đây là cuộc đối thoại giữa hai cha con nhân một vụ  thằng con kêu mất tiền: “Thằng Thán về nhà trước và khi bố nó vừa bước qua cái cửa cót ép, nó túm cổ lão Thiến:

-Tiền đâu?
Lão Thiến sửng sốt:
-Sao lại hỏi tao tiền?
-Tiền tôi để dưới cục gạch này, bố đem đâu rồi?

Lão Thiến chỉ biết lắc đầu, lùi xa bàn tay cứng như gọng sắt của thằng con. Lão không nói nên lời. Thằng Thán thấy bố như vậy càng nghi ngờ một cách điên dại.

-Ông nôn ra. Tiền mồ hôi nước mắt của thằng này, ông nuốt không trôi đâu. Ba triệu đồng của tôi không phải của thiu thối!

-Tao không lấy!
-Ông không lấy thì chó vào đây à? Nôn ra!”.
         
Đoạn văn đối thoại trên giống như một tiểu phẩm đầy kịch tính phản ánh sự băng hoại đạo đức, sự tha hóa của con người dưới áp lực của đồng tiền.
         
Lê Minh Khuê có ý chăm chút cho đối thoại trong truyện ngắn. Có truyện như Cơn mưa cuối mùa, chỉ có 20 trang mà chứa đến 130 dòng đối thoại. Nhà văn Hồ Anh Thái nhận xét: “Lê Minh Khuê khéo viết đối thoại. Gọn gàng, chắc chắn, hiếm khi thừa lời và có ấn tượng. Những đối thoại chính xác, chứa đầy thông tin và ngổn ngang tâm lí”. Khi nói về “tốc độ” như một đặc điểm của văn phong Lê Minh Khuê chính là nói về ưu thế viết đối thoại của nhà văn trong truyện ngắn.

BÙI VIỆT THẮNG
 Nguồn: Tạp chí NV&TP


Thứ Hai, 22 tháng 4, 2019

CUỘC ĐỜI LẬN ĐẬN CỦA THI SĨ TÀI HOA NGUYỄN TẤT NHIÊN

Có thể nói, cuộc đời ngắn ngủi của một hồn thơ độc đáo và khác thường nhất trong nhịp thở chung của thi ca, văn chương miền Nam những ngày tháng đau thương đã đưa Nguyễn Tất Nhiên trở thành một hiện tượng đến giờ vẫn còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ người đọc.
Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên

Có lẽ bàn luận về giá trị của mỗi thi phẩm mang tên Nguyễn Tất Nhiên sẽ không bao giờ là đủ và khiến những người yêu mến tiếng thơ ấy có cảm giác thỏa mãn trọn vẹn. Trong con người tinh hoa phát tiết ra ngoài này, có những điều mà sau khi những giá trị cũ vừa được khai phá, người ta sẽ lại bắt gặp những ám ảnh mới nặng trĩu trên vai cần phải được tiếp tục đào xới. Dễ dàng nhận thấy, những bài viết đi vào đời sống riêng của Nguyễn Tất Nhiên đều luôn đề cập đến một bóng hồng đã quật ngã hồn thơ, tình thơ và cuộc đời tuổi trẻ của ông là cô Bắc kỳ nho nhỏ tên Duyên. Tuy nhiên, ít ai biết, ngoài Duyên - mối tình hoa mộng đầy buốt giá ấy, Nguyễn Tất Nhiên còn gửi cảm hứng của mình vào một người con gái khác mà ông cũng tha thiết yêu bằng cả trái tim là Nguyễn Thị Minh Thủy.

"Vết thương hành liệt tim"

Cái bi thiết của một người nuôi nhiều mơ mộng nhưng thực tế lại mênh mông những bóng tối thẳm sầu. Cuộc sống như trải dài từ những nợ này đến nợ khác để thi sĩ phải tự than thân. Ta mấy kiếm vẫn là ta mắc nợ. Nợ tình, nợ đời, thành những câu thơ bi thiết, thành những tâm tình đầy dằn vặt thảm thê. Trong tập thơ Thiên tai, không chỉ dành những ý từ hay nhất cho người con gái tên Duyên, Nguyễn Tất Nhiên còn dành sự ngưỡng mộ và tình cảm thiêng liêng đầu đời của mình cho người bạn cùng trường Nguyễn Thị Minh Thủy. Dù bà không đẹp kiều diễm, kiêu sa như Bùi Thị Duyên nhưng lại nền nã, hài hòa, dịu dàng và đặc biệt bà là cô gái học giỏi nhất trường khi ấy. Đã biết chắc tình yêu mình dành cho Duyên là vô vọng, nhà thơ si tình tỏ ra săn đón Minh Thủy nhiều hơn.

Không từ chối tình yêu của chàng thi sĩ một cách nghiệt ngã như Bùi Thị Duyên, Minh Thủy dè dặt đón nhận tình cảm của Nguyễn Tất Nhiên một cách kín đáo. Cứ mỗi khi tan trường, đi cạnh bạn học, chỉ cần nhác thấy chiếc xe Honda của Nguyễn Tất Nhiên lạng lại từ xa là Minh Thủy vội đẩy bạn học ra ngoài, còn mình đi bên trong để tránh tiếp xúc với chàng nhà thơ. Những lần như thế, quà cáp và thư từ của Nguyễn Tất Nhiên đều được gửi cho người con gái anh thầm thương trộm nhớ đều được cô bạn thân nhận giúp. Sau này, có lần bà Minh Thủy hồi tưởng lại những ngày đầy hoa mộng: "Có lần anh ấy dúi vào tay bạn tôi một cái bọc và nói trước khi phóng xe đi: "Thuốc bổ óc đó, một cho Dung (tên bạn tôi) và một cho Thủy, ráng thức để mà học thi. Tôi cũng cảm động, vui vui một chút. Anh chàng làm thơ mà cũng biết điệu đó chứ.

Nhưng khi hiện tượng Nhiên - Duyên đình đám khắp cả trường, cả miền Nam, Minh Thủy cũng rất dè chừng và cẩn thận. Sau đó, bà gom hết thư từ, quà cáp của Nguyễn Tất Nhiên tặng mang sang đưa cho cô bạn thân nhờ gửi trả lại cho ông. Sự kiện đó đã làm cho nhà thơ vốn yếu đuối lại càng thêm chấn động tâm lý. Ngay lập tức Nguyễn Tất Nhiên cho ra đời bài thơ Kẻ tự đóng đinh tim như một cách trách móc người tình trong mộng: “Chiều em đi học về, chim trắng bước/ Ngang giáo đường nhòe nhoẹt nước vô phai/ Có động lòng xin hãy rút khăn tay/ Lau mắt giùm kẻ xương bày như tháng giá/ Là ta đó em ơi, đang tầm tã/ Mưa đầy hồn, đau đớn, thương thân”.

Cũng là hờn trách nhưng những ngôn từ mà Nguyễn Tất Nhiên dành cho Nguyễn Thị Minh Thủy nhẹ nhàng, đằm thắm hơn chứ không phẫn uất như đối với Bùi Thị Duyên. Có thể nói, những bài thơ viết dành cho người tình thứ hai tình tứ, cảm động hơn dù chuyện tình này không ồn ào như với Bùi Thị Duyên.

Khi lên đại học, Minh Thủy và Nguyễn Tất Nhiên đã không còn nhiều cơ hội gặp nhau. Nhưng, thỉnh thoảng trên báo, ông vẫn gửi thơ đều đặn cho bà. Đến năm 1975, miền Nam giải phóng đã vô tình đẩy Minh Thủy và Tất Nhiên gặp lại nhau ở tại quê hương Biên Hòa. Sự bình lặng của thời kỳ đầu giải phóng đã khiến trái tim một thi nhân điên tình, say tình như Nguyễn Tất Nhiên ngủ yên và bình lặng. Nó đã làm nguội sự bốc đồng của một chàng trai trẻ một thời. Hai người đến với nhau thanh thản, hiểu đời hơn và tình yêu từ đó cũng được hồi sinh trở lại.

Năm 1978, hai người chính thức làm đám cưới. Với một tâm hồn quá nhạy cảm, thậm chí hơi khác thường khi chuyển từ vị trí người tình thành chồng, ông vẫn có những dự cảm báo hiệu cuộc tình sẽ không bền lâu và ông không xứng đáng với sự hiền ngoan, dịu dàng của người đàn bà mang tên Minh Thủy. Cuộc sống hôn nhân, chồng vợ của họ không hạnh phúc, viên mãn, chủ yếu xuất phát từ tính nết hoang đàng cố hữu của Nguyễn Tất Nhiên như ông khẳng định là nhẫn nhục cưu mang đời vợ chồng. Dù đã có với nhau hai con trai nhưng hai người vẫn thường xuyên có những cuộc di cư, tìm kiếm chỗ trốn bình yên cho tinh thần. Đến năm 1992, trong một lần dẫn hai con trai đi xa như thế, bà bàng hoàng nghe tin chồng của mình đã tự sát.

"Ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh”

Hai vợ chồng Nguyễn Tất Nhiên và Nguyễn Thị Minh Thủy di cư sang Mỹ từ năm 1978. Khi thành vợ, thành chồng rồi hai người ly thân, Nguyễn Tất Nhiên vô cùng buồn bã (vì phải xa vợ và hai con trai nhỏ) mang đời sống tinh thần của một kẻ có số phận không may. Những bài thơ chia ly, nhớ thương và cả những niềm ăn năn, day dứt đã thể hiện sự não lòng buốt trong tim, trong óc của thi sĩ lừng danh một thời.

“Đường không gian - đã phân ly/ Đường thời gian đã một đi không về/ Những con đường mịt sương che/ Tôi vô định lái chiếc xe mù đời”.

Chiếc xe, có lẽ là nơi chốn an toàn nhất đối với Nguyễn Tất Nhiên khi đó để ông lựa chọn làm nơi trút hơi thở cuối cùng rồi chìm vào cõi miên viễn. Nơi đó, trong một phút thảng thốt nhìn lại những ngày quá khứ, hoài niệm xa xăm để nhớ vợ, nhớ con da diết. Cũng chiếc xe ấy khi trước là chung đường, chung đôi mà giờ thì chia đời vạn dặm. Ông từ giã cõi đời lúc 14h30’ ngày 03/08/1992 khi tròn 40 tuổi bằng cách tự uống thuốc ngủ. Trong chiếc xe Toyota cũ nát rải đầy hoa vẫn còn một bài thơ mới sáng tác có chữ ký của ông cài nơi túi áo.

Chính vợ ông bà Minh Thủy cũng không thể tin được Nguyễn Tất Nhiên lại chọn cách ra đi mãi mãi để chấm dứt đời sống trần thế cay đắng, khổ nhọc ấy. Cho đến bây giờ, bà vẫn cứ tự trách mình như trong những vần thơ đau đời một thuở của người chồng quá cố: "Chính vì em mà thiên tài chán sống. Nguyễn Tất Nhiên của tài hoa, khí chất, của mộng mơ, sầu khổ, dịu dàng khi cuối đời với bộ quần áo nhàu nát cùng gương mặt tóc râu bờm xờm ấy, người khách phong sương muôn thuở, yêu sóng cả sông dài, yêu trời cao, biển rộng đã có một cuộc viễn du, đi mãi không trở lại đời sống trần tục này.

Sự bộc phát như định mệnh không thể ngờ trước khi tập thơ Thiên tai ra đời năm 1970 lúc Nguyễn Tất Nhiên vừa tròn 17 tuổi đã hóa thân ông từ một lãng tử trở thành một thần tượng của tất cả giới trẻ Sài Gòn và được coi như một thiên tài của thi ca đổi mới. Với thứ ngôn ngữ lấp lánh tỏa ra từ những trang thơ, ông khiến những nhạc sĩ tài hoa nhất như Phạm Duy, Anh Bằng cũng phải mượn thơ ông để trút hồn vào đó. Tài hoa một cách kỳ diệu trên sáng tác, một cách ngông nghênh của thi sĩ và cái nhìn tình yêu bằng đôi mắt tuyệt vọng, điêu tàn, Nguyễn Tất Nhiên đã để lại cho đời một di sản thơ ca khác biệt và đầy ám ảnh. Cuộc đời ông ngắn ngủi và tăm tối trải dài từ khi sinh ra cho tới khi giã biệt cuộc đời, phải chăng cũng là một sự trớ trêu của số phận khi để người tinh hoa phát tiết ra ngoài như ông phải hứng chịu mọi đày ải của kiếp nhân gian quạnh quẽ, cô độc.

HƯƠNG GIANG
Nguồn: Người Đưa Tin

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THƠ VĂN CAO

Trong nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại, Văn Cao (15.11.1923 - 10.7.1995) là một nghệ sĩ đa tài và có những cống hiến nổi bật trên cả ba lĩnh vực: âm nhạc, hội họa và thơ.
Thi sĩ Văn Cao

Mặc dù công chúng phổ thông biết đến một Văn Cao nhạc sĩ, họa sĩ nhiều hơn một Văn Cao thi sĩ, nhưng thơ là nơi kí thác của ông những năm tháng cuộc đời nhiều thăng trầm, biến động. Thơ Văn Cao cũng là nơi tích hợp tài năng "ba trong một" của ông, đặc biệt là trên phương diện ngôn ngữ nghệ thuật.

Trong tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ đăng trên tập san Văn Nghệ tháng 7 năm 1957, Văn Cao đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tư tưởng trong thơ, đồng thời ông cũng cho rằng: "Tư tưởng, cảm xúc và cảm giác của nhà thơ phải thể hiện tinh vi. Câu thơ như vào trong óc để gợi sự suy nghĩ và trong tình cảm để xúc động và như vào trong da thịt để khêu gợi!" . Có nghĩa, ngôn ngữ thơ phải giàu sức gợi, dồn nén, chắt lọc và dư ba. Ngôn ngữ thơ Văn Cao vì thế không nghiêng về trau chuốt cầu kì mà giản dị, gọn sắc và sâu nặng tình ý - một kiểu ngôn ngữ thơ đọc để thấm, không phải đọc cho vang.

1. Ngôn ngữ thơ giản dị, hàm súc

Trước hết, ngôn từ trong thơ Văn Cao ít hoặc không có cái mỹ lệ thường thấy trong thi ca cổ điển. Văn Cao chủ yếu sử dụng lớp từ ngữ thuần Việt mộc mạc, giàu sức gợi. Đặc biệt là hệ thống từ láy tượng hình, tượng thanh, từ láy miêu tả cảm giác, tâm trạng giàu tính biểu cảm. Trong bài Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, ông sử dụng rất nhiều từ láy: "Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa", "Chập chờn ảo hóa tà ma", "áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường", "Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây", "Đảo điên... mê say... Thể phách chia lìa", "Tàn xuân nhễ nhại mưa cô tịch", "Đầm đìa rả rích phương Đông", "Mang mang thở dài hồn đất trích", "Lưỡi thép trùng trùng khép cố đô", "Đêm đêm đài canh tan tác", "Run rảy giao duyên khối nhạc trầm trầm", "Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc"... Mật độ từ láy xuất hiện rất dày đan xen với những thi ảnh siêu thực gây ấn tượng mạnh về một cõi người sống chết mong manh, gợi ám ảnh khôn nguôi về nạn đói kinh hoàng năm ất Dậu 1945. Trong nhiều bài thơ tiêu biểu khác, Văn Cao cũng tận dụng tối đa sức biểu đạt của từ láy nhằm gia tăng sức gợi và tính biểu cảm cho thơ. Chẳng hạn: Ngoại ô mùa đông năm 1946 (28 từ), Bến Ngự trên thương cảng (21 từ), Những người trên cửa biển (75 từ). Việc sử dụng nhiều từ láy vừa tạo nên tính nhạc, tính họa cho thơ, vừa có sức truyền cảm lớn thấm sâu vào hồn.

Càng về sau, ngôn ngữ thơ Văn Cao càng giản dị, gần với lời nói bình thường. Lối diễn đạt có thành phần trạng ngữ chỉ nơi chốn thường chỉ xuất hiện trong văn xuôi lại được Văn Cao sử dụng trong thơ hết sức nhuần nhuyễn. Rất nhiều câu thơ, bài thơ của ông được viết ra tự nhiên như lời nói: "Những tư tưởng sâu như lòng mỏ/ Những khát vọng mênh mông không đáy mong manh/ Trong mỗi con người nhỏ bé những hạt bụi/ Trong lòng vũ trụ không đáy rộng mênh mông..." (Trên đường); "Tiếng kêu ở trong tôi/ Có xót xa có cả vui mừng/ Tiếng kêu của một khúc thép đỏ/ Trong chậu nước" (Cạn); "Kỉ niệm trong tôi. Rơi/ như tiếng sỏi/ trong lòng giếng cạn" (Thời gian); "nắng chuyển dần/ trên thềm đá cũ/ mùa thu năm nay/ không mưa ngâu" (Mùa thu); "Tôi ở/ Một căn nhà bên đầu ngọn suối" (Tôi ở)... Sự giản dị của ngôn từ không đồng nghĩa với sự giản đơn về ngữ nghĩa. Những không gian được gợi ra qua các từ ngữ trên vừa cụ thể vừa không cụ thể, vừa tả thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng, vừa là không gian đời thường vừa là không gian tâm tưởng, chất chứa những tư tưởng sâu xa, không phải thoáng đọc, thoáng nghe mà hiểu được. Đó cũng chính là vẻ đẹp trí tuệ, là sức hấp dẫn của thơ Văn Cao.

Nhiều bài thơ của Văn Cao đạt đến đỉnh cao của sự giản dị như: Không nhớ, Thức dậy, Đôi bạn, Đêm quán, Không đề... Ở đó, ngôn ngữ thơ Văn Cao đã khước từ tất cả sự lấp lánh, chỉ như những lời tự thuật có sao kể vậy, tưởng là dễ hiểu đến mức không cần phải suy nghĩ. Nhưng đó lại chính là những bài thơ thăm thẳm chiều sâu ý nghĩa, khơi gợi những suy cảm không cùng. Chẳng hạn như bài Không nhớ: "Tôi không còn đủ nhớ/ Tuổi của tôi hay năm tháng bao nhiêu/ Bao nhiêu tỉnh thành bao nhiêu chỗ ở/ Bạn bè vui buồn/ Mù mịt như sương mờ/ Tôi chỉ còn thoảng nhớ/ Một cái nhớ thuộc về cơ thể/ Những vết roi còn nằm trong da thịt nhiều năm/ Những tiếng chửi vọng suốt thời tôi sống/ Chung quanh tôi những bát gạo giúp nhau/ Của những người tôi không nhớ nổi/ Tuổi của tôi năm tháng bao nhiêu". Bài thơ là lời bộc bạch vừa chân thành vừa giản dị về những năm tháng cuộc đời mà nhân vật trữ tình từng trải qua. Ẩn chứa sau những câu thơ bình dị là cả một thế giới tâm hồn trĩu nặng bao kí ức, hằn sâu những nỗi đau và tình người. Lời thơ như lời tâm sự nhưng dồn nén bao cảm xúc, đọc lên thấy rưng rưng, nghèn nghẹn... Ở Văn Cao, thơ tỏa sáng nhất là lúc ngôn từ đạt đến mức cực đại về sự giản dị.

Cùng với sự giản dị, ngôn ngữ thơ Văn Cao còn mang tính hàm súc, biểu hiện ở sự đa nghĩa, lời ít ý nhiều. Ngay từ những nhan đề cô đọng, súc tích: Quên, Chọn, Cạn, Trôi, Mẹ, Thời gian, Cuộc sống, Cánh cửa, Lòng núi, Những bó hoa, Nguyệt thực..., Văn Cao đã gợi nhiều liên tưởng và suy ngẫm sâu sắc về lẽ sống, về cuộc đời, về thế giới tâm hồn sâu kín phức tạp, cả những phù phiếm cám dỗ con người... Tính đa nghĩa của ngôn từ, hình ảnh thơ Văn Cao khiến độc giả phải miệt mài tư duy để đọc ra tầng tầng lớp lớp ý nghĩa bên trong nó. Những hình ảnh: "một hồ nước - trên họng một ngọn núi cạn lửa" (Cạn), một người bạn "im lìm như một bức tranh" (Về một người bạn), "Cái bức tường lê từng bước một" (Với Nguyễn Huy Tưởng), "Những mặt nạ giấy bồi" (Năm buổi sáng không có trong sự thật), "Những vết roi còn nằm trong da thịt nhiều năm" (Không nhớ)... đều là những ẩn ngữ đòi được giải mã. Đọc thấu những ẩn ngữ đó mới thấy hết độ nén và sự phong phú về ngữ nghĩa trong thơ Văn Cao.

Tính hàm súc còn được tạo ra bởi những khoảng trống giữa ngôn từ. Theo văn hào Nga Dostoevsky, tài nghệ quan trọng nhất của một nhà văn chính là biết xóa bỏ. "Thơ ca bất kì dân tộc nào, đặc biệt là thi ca Trung Quốc và phương Đông đều trọng cái súc tích, hàm ẩn, dùng ít nói nhiều, dùng cái khả giải để nói cái bất khả giải, là "ý tại ngôn ngoại", là dư âm, dư vang của câu chữ, là khoảng trống giữa các từ" . Khi ý thơ bị dồn nén, đứt đoạn, nhảy cấp thì bài thơ càng có nhiều khoảng trống, khoảng lặng. Đó là khoảnh khắc "thử thời vô thanh thắng hữu thanh" (Bạch Cư Dị). Bài thơ Có lúc của Văn Cao cũng là một bài thơ có nhiều khoảng trống, khoảng lặng như thế:

Có lúc
một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ

Có lúc
ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt

Có lúc
nước mắt không thể chảy ra ngoài được

Bài thơ gồm 3 khổ, mỗi khổ thực chất chỉ là một câu nhưng được ngắt thành 2 dòng. Khoảng trống, quãng lặng không chỉ nằm giữa các khổ thơ mà còn ngay sau từ: "Có lúc". Đó là khoảnh khắc nghẹn lại khi cái tôi thành thực đối diện với chính mình, thấm thía nỗi cô đơn và nỗi đau chạm đáy. Cái tôi ấy mang tính lưỡng phân - vừa can trường vừa yếu đuối - phản chiếu một thế giới tâm hồn nhiều uẩn khúc không dễ tỏ bày của Văn Cao. Nhiều bài thơ khác của ông như Không đề, Quán bia, Thức dậy, Phố Phái, Nguyệt thực, Sự sống thật... đều là những file nén như thế, đòi hỏi người đọc giải mã bằng cả tâm cảm và trí tuệ.

2. Ngôn ngữ thơ giàu chất nhạc, chất họa

Âm nhạc và thơ vốn có mối quan hệ mật thiết, khăng khít. Thuở ban đầu, thơ và nhạc cùng tồn tại trong ca dao - dân ca nên được gọi chung là thơ ca dân gian. Về sau, khi âm nhạc và thơ tách ra thành hai loại hình nghệ thuật riêng thì mối duyên giữa thơ và nhạc vẫn không hề đứt đoạn. Trong nhạc có thơ và trong thơ có nhạc. Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ở ba mặt cơ bản. Đó là sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp. Cân đối là có sự tương xứng, hài hòa giữa các dòng thơ, khổ thơ, đoạn thơ, giữa các âm thanh hay hình ảnh. Trầm bổng là cách hòa âm bằng sự hiệp vần, cách phối thanh giữa các nhóm thanh điệu cao thấp. Trùng điệp là lối điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc trong từng dòng, từng khổ, từng đoạn của bài thơ.

Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài. Âm nhạc, hội họa và thơ của ông đều là những dòng chảy nghệ thuật đầy màu sắc nhưng chúng không tách rời mà xuyên thấm vào nhau trong tư duy mĩ cảm. Đặc biệt, thơ là lĩnh vực tích hợp tài năng của Văn Cao. Chất nhạc, chất họa cùng tồn tại trong thơ tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho những thi phẩm của người nghệ sĩ tài hoa này.

Thơ Văn Cao chủ yếu là thơ tự do không vần nên nhạc tính ít bộc lộ ở khía cạnh cân đối, hài hòa dòng, khổ hay sự hiệp vần du dương mà nghiêng về lối trùng điệp. Văn Cao sử dụng nhiều thủ pháp trùng điệp: Điệp âm, điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc. Bài thơ Thu cô liêu có thể xem là một trong những bài tiêu biểu cho lối trùng điệp ngữ âm và cấu trúc cú pháp của Văn Cao: "Thu cô liêu/ Tịch tiêu/ Cô thôn chiều/ Ta yêu thu/ yêu thu/ yêu mùa thu/ Vàng hoen đáy nước/ Son rỏ đường đi/ Một mùa thi/ Một mùa thi/...Một chiều êm/ Một chiều êm". Ngoài sự hiệp vần, nhạc tính của bài thơ còn được tạo nên bởi sự trùng điệp các âm tiết mang thanh bằng. Cả bài thơ có 46/66 âm tiết mang thanh bằng, trong đó có những dòng thơ liên tiếp những âm tiết mang thanh bằng không dấu (thanh ngang): "Cô thôn chiều/ Ta yêu thu/ yêu thu/ yêu mùa thu", và những dòng thơ được lặp lại hoàn toàn: "Một mùa thi/ Một mùa thi/...Một chiều êm/ Một chiều êm". Nhịp thơ đã thành nhịp lòng bồi hồi, tha thiết với mùa thi, với mùa thu. Nhạc điệu chơi vơi, dìu dặt kết hợp với những hình ảnh "vàng hoen đáy nước/ son rỏ đường đi... lá rơi rơi rụng... trăng ấp lạnh non..." gợi một vẻ đẹp buồn lãng mạn rất đặc trưng của mùa thu và tâm hồn cô đơn giàu xúc cảm của thi sĩ.

Ở những bài thơ dài, Văn Cao đã sử dụng thủ pháp trùng điệp như một hình thức kết cấu đặc biệt nhằm liên kết các ý thơ, đoạn thơ. Trong bài thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, các câu thơ bắt đầu với cụm từ "Ngã tư nghiêng nghiêng..." được lặp lại 3 lần ở 3 đoạn thơ, xoáy vào tâm trí người đọc hình ảnh ngả đường chết chóc cùng hành trình lặp lại từng đêm, từng đêm của chiếc xe chở thi hài người đói. Những câu hỏi tu từ với chủ thể phiếm định cũng được láy lại như một niềm trăn trở nhức nhối: "Ai hát khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ", "Ai hủy đời trên tang trống nhỉ?", "Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe". Trong bài Bến Ngự trên thương cảng, Văn Cao cũng dùng thủ pháp trùng điệp để kiến tạo bài thơ, làm nên tính nhạc độc đáo: "Nhà ta hờ ơ trên bến Ngự", "Nhà ta hờ ơ không đỏ lửa", "Nhà ta hờ ơi trên thương cảng", "Nhà ta hờ ơi không củi lửa". Những câu thơ thất ngôn với 5/7 tiếng thanh bằng gợi nỗi buồn lê thê về một mái nhà hoang lạnh với những kiếp sống bấp bênh, mỏi mòn trên bến Ngự. Sự lặp lại câu thơ ở đầu mỗi đoạn như một điệp khúc - một kí ức không phai về những năm tháng đói nghèo, buồn thảm.

Xuất phát từ cái gốc tâm trạng nhiều suy tư, trăn trở nên Văn Cao đã sử dụng thủ pháp trùng điệp như một sự láy đi láy lại những day dứt trong lòng. Có khi là điệp từ bộc lộ niềm mong mỏi thiết tha, cháy bỏng: "Bao giờ nghe được bản tình ca/ Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật/ Bao giờ/ Bao giờ xóa đi tất cả/ Những con người không phải của chúng ta" (Anh có nghe không); có khi là điệp ngữ, điệp cấu trúc thể hiện những trăn trở khôn nguôi về sự sống: "Con thuyền đi qua/ để lại sóng/ đoàn tàu đi qua/ để lại tiếng/ đoàn người đi qua/ để lại bóng/ tôi không đi qua tôi/ để lại gì?" (Không đề); có khi bộc lộ những suy tư sâu thẳm về cuộc đời: "Tôi thả con thuyền giấy/ con thuyền giấy trôi/ Tôi thả một bông hoa/ bông hoa trôi/ Tôi thả một chiếc lá/ chiếc lá trôi/ Tôi giữ chặt em/ em vẫn trôi..." (Trôi). Sự trùng điệp trong những câu thơ trên là sự trùng điệp ngữ nghĩa, gợi những suy tư thuận nghịch, mở rộng trường liên tưởng trong óc người tiếp nhận. Chất nhạc trong thơ Văn Cao vì thế không đơn thuần là sự nhịp nhàng, trầm bổng du dương giữa những dòng thơ mà còn lắng sâu chất nghĩ. Nói cách khác, đó là sự ngân rung của nhịp trí tuệ, nhịp tâm hồn - những điều mà âm nhạc và hội họa không thể nói hết được. Chất nhạc đó một mặt thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ thơ sinh động, đầy biến hóa, mặt khác phản chiếu thế giới tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu suy tư và ước vọng của Văn Cao.

Thơ Văn Cao không chỉ giàu chất nhạc mà còn đậm chất họa. Là một họa sĩ nên Văn Cao có sự dẫn đường của con mắt hội họa và điều đó chi phối cả những sáng tác thơ của ông. Nghệ sĩ Thái Bá Vân cho rằng, trong thơ Văn Cao, "đời sống chữ nghĩa được sử dụng theo quy luật hội họa khá nhiều. Ta dễ dàng nhận ra những sáng tối tương phản, những đậm nhạt thầm lặng, những đường viền nặng nề rồi bỏ quãng trôi chìm vào bóng tối, những chữ sắc nét như dao trổ, những hình tượng đẩy dồn về phía trước, những không gian tượng trưng..." . Nhận định trên đã nói lên được nét riêng trong sự thâm nhập, giao thoa giữa thơ và họa của Văn Cao.

"Thi trung hữu họa" vốn xuất hiện từ xa xưa - thuở thơ ca Đường Tống. Tuy nhiên, chất họa trong thơ xưa thường bộc lộ ở việc tả cảnh, qua cảnh mà gửi gắm tâm tình của thi sĩ. Đó thường là những nét bút màu sắc, giàu tính tạo hình, có khả năng tái hiện sống động hình tượng thiên nhiên, hình tượng con người. Thơ Văn Cao cũng không ngoại lệ nhưng điều khác biệt là ở Văn Cao có cả chất hội họa cổ điển (nghiêng về màu sắc, đường nét) và cả chất hội họa ấn tượng hiện đại (nghiêng về bố cục, tạo hình và sự tương phản). Những bài thơ được sáng tác ở giai đoạn đầu nghiêng về chất hội họa cổ điển với màu sắc, đường nét sinh động. Có khi đó là bức tranh mùa thu với sắc vàng quen thuộc: "Trông qua song cửa: trời vàng úa/ Mấy lá bàng rơi nhắc nhở thu! Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống/ Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa" (Ai về Kinh Bắc); có khi là hình ảnh dòng sông - con thuyền - vầng trăng với nét vẽ thanh đạm mờ ảo: "Thuyền vào nằm ngủ trong mưa/ Trên con sông vắng lập lờ bóng trăng", có khi là khung cảnh mộng mơ đầy lãng mạn như ở cõi thiên thai của chốn sơn thủy hữu tình: "Suối mơ bên rừng vắng/ Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng/...Bờ xanh ngát bóng đôi cây thùy dương/...Hoa lừng hương gió ngát/ Đàn ai đùa trong khóm lá vàng tươi" (Bài thơ bên suối). Những câu thơ vẽ nên dáng nét mềm mại của con suối, "bờ xanh", "lá vàng" quyện trong hương hoa, chìm đắm trong tiếng đàn du dương, trong trẻo... Chất nhạc, chất họa in đậm trong những dòng thơ, gợi một vẻ đẹp thanh tao, thoát tục gần như tiên cảnh.

Từ bài thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, ngôn ngữ thơ Văn Cao có sự chuyển hướng nghiêng về chất hội họa ấn tượng. Ông ít tả cảnh thiên nhiên mà chủ yếu  miêu tả bức tranh đời sống con người với những khoảng sáng tối đan xen, vừa cụ thể, vừa trừu tượng: "Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa/ Chập chờn ảo hóa tà ma/ Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa/ Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục". Nhà thơ đã dùng từ ngữ để chớp lấy cái thần của cảnh, gợi nhiều hơn tả, gây ấn tượng về một không gian ma quái, chết chóc với ánh sáng mờ ảo, với những hình người không rõ nét, siêu thực và đầy ám ảnh.

Đặc biệt, ngôn ngữ thơ Văn Cao có khả năng chạm khắc được thế giới tâm hồn con người vốn sâu kín, vô hình với nhiều cung bậc cảm xúc, tâm trạng. Có khi là nỗi đau nhỏ máu của cuộc đời nô lệ lầm than: "Ôi Hải Phòng vết thương miền Bắc/ Cổ họng chúng ta ngày đêm rỏ máu/ Hải Phòng những đêm tối đen như hầm than đá", có khi là những tình yêu khát khao hi vọng đọng thành hình, thành khối: "Tất cả tình yêu khát khao hi vọng/ Bốc lên trong lòng/ Rơi xuống những giọt nước mắt", có khi là những ước vọng lớn lao, bộn bề: "Có người mang rất nhiều mộng lớn/...Quanh quẩn suốt nửa đời/ óc hôm nay thành một xưởng đóng tàu buôn" (Những người trên cửa biển). Những suy tư, trăn trở, giằng xé giữa tốt - xấu, sống - còn, được - mất bên trong con người vốn không dễ nói thành thơ cũng được Văn Cao vẽ lại bằng ngôn ngữ: "Trở về mây đen và bóng tối/ Lãng đãng qua trong mỗi tâm hồn người" (Những người trên cửa biển), "Những tư tưởng sâu như lòng mỏ/ Những khát vọng mông mênh không đáy mong manh" (Trên đường), "Tiếng kêu ở trong tôi/ Tiếng kêu của một khúc thép đỏ/ Trong chậu nước" (Cạn). Những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đã cụ thể hóa cái trừu tượng khiến thế giới tâm hồn hiện lên sống động như thể nhìn thấy, chạm đến được. Sự u tối của tâm hồn được phủ bóng mây đen; chiều sâu của tư tưởng, của khát vọng được đo bằng lòng mỏ, đại dương; những xung đột bên trong con người được diễn tả bằng hình ảnh và tiếng kêu của khúc thép đỏ trong chậu nước. Đó là những ngôn từ sắc nét, ấn tượng, có sức khơi gợi mãnh liệt.

Văn Cao còn có biệt tài vẽ chân dung bè bạn bằng thơ. Ông viết về các nghệ sĩ Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Tường, mỗi người một vẻ, một tạng riêng. Dù có chung một tình bằng hữu trìu mến thân thương nhưng cái thần của mỗi chân dung thì không lẫn vào đâu được. Với Nguyễn Huy Tưởng, Văn Cao đã phác thảo một đời văn nghiệp bằng những nét vẽ tỉ mỉ: "Ngày ngày anh viết lên Hà Nội/ Tôi nhớ những ngón tay anh/ Đang nhặt một hạt cát/ Sờ soạng từng căn nhà/ Từng con người anh biết/ Chắt chiu lại cho tác phẩm cuối cùng.../ Những giọt mực của anh/ Chấm vào những năm chiến đấu/ Nhỏ từng giọt máu" (Với Nguyễn Huy Tưởng). Với những chi tiết nghệ thuật giàu chất hội họa, Văn Cao đã khái quát được chân dung tâm hồn của Nguyễn Huy Tưởng - một nhà văn chuyên tâm, cần mẫn với nghề, gắn bó với nhân dân và lịch sử bằng một tình yêu máu thịt. Văn Cao cũng đặc tả thế giới tinh thần của Nguyễn Tuân - tác giả tùy bút Sông Đà - qua không gian sống cũ kĩ, đầy bụi, đặc biệt là qua đôi mắt: "một lớp tro đang dòng dòng kéo sợi/ Như tơ nhện trong không gian đầy nước..." (Đôi bạn). Đôi mắt ấy phủ đầy sương, đôi mắt ẩn chứa nỗi buồn sâu kín, nói lên bao tâm sự không thổ lộ thành lời. Đọc thấu tâm sự qua đôi mắt ấy chứng tỏ Văn Cao hiểu bạn như hiểu chính mình. Những tình cảm ấy vừa mang tính chất riêng tư, vừa thấm đẫm nỗi ưu tư thời thế. Văn Cao cũng đã tóm được cái thần của sự nghiệp hội họa của họa sĩ Bùi Xuân Phái để hạ bút viết những câu thơ để đời: "Không người ở/ Không số nhà/ Không tên phố/ Tôi gửi bài thơ về/ Phố Phái/ Người đưa thư sẽ tìm đến phố anh" (Phố Phái). Phố Phái không phải là một trong ba mươi sáu phố phường Hà Nội cổ, nhưng tranh của Bùi Xuân Phái về phố cổ Hà Nội lại làm nên một thế giới nghệ thuật riêng, "tồn tại vĩnh viễn", xứng danh được gọi là Phố Phái. "Vào tranh Bùi Xuân Phái, các phố cổ Hà Nội bỗng ngơ ngác một dáng vẻ riêng, thăm thẳm một tâm tư riêng. Những rẽ, ngoặt, quanh co, heo hút đều thể hiện bất ngờ dưới thần lực của cây cọ. Những mưa, những nắng, những rêu phong dường như mãi ẩm ướt, mãi mang vẻ quang quẻ và thoang thoảng một mùi phố phường thân thuộc trong bí ẩn của màu" . Bùi Xuân Phái vẽ Hà Nội cổ, Văn Cao vẽ lại Bùi Xuân Phái bằng thơ. Ông phát hiện ra một Phố Phái. Với câu hỏi chơi vơi cuối bài: "Đến lúc nào phố anh có người thêm", Văn Cao đã khẳng định tài hoa có một của Bùi Xuân Phái trong việc gợi lại vẻ đẹp của ba mươi sáu phố phường Hà Nội cổ. Bằng ngôn ngữ chạm khắc, Văn Cao đã dựng nên chân dung những văn nghệ sĩ tài hoa bậc nhất của nền nghệ thuật Việt Nam thế kỉ XX với tất cả sự đồng cảm, thấu hiểu và trân trọng.

Ngôn ngữ thơ Văn Cao không chỉ nói lên sự xuyên thấm của nhạc và họa trong thơ ông, mà còn phản ánh tài năng sáng tạo và cá tính của người nghệ sĩ trong hành trình lao động nghệ thuật vinh quang và khổ hạnh. Dẫu còn những chỗ ngôn từ được mã hóa mang tính siêu thực, có phần khó hiểu nhưng xét một cách toàn diện, ngôn ngữ thơ Văn Cao bộc lộ tư duy đa chiều cùng những trăn trở nhân sinh, trăn trở của người nghệ sĩ giàu ý thức trách nhiệm với đời sống và nghệ thuật.

HÀ THỊ HOÀI PHƯƠNG
Nguồn: Tạp chí Thơ



Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019

LÊ ĐẠT & CHỮ BẦU LÊN NHÀ THƠ

Làm thơ là một lao động nhọc mệt, ít tiền và gian nan. Do đó các nhà thơ, các nhà phê bình thơ phải đùm bọc, giúp đỡ nhau. Nên vì thơ hơn là vì tên tuổi cá nhân mình, cần tránh thiên hướng bới lông tìm vết. Phải biết trân trọng đối thoại với cái khác, cái lạ của bạn. Con đường thơ là một chu kỳ mở. Không ai được vỗ ngực độc quyền chân lý cũng như tự cho phép mình nói tiếng nói cuối cùng…
Nhà thơ Lê Đạt

1. Tôi xin phép được nhắc lại tóm tắt một số ý kiến cần thiết đã được phát biểu tại cuộc Hội thảo Văn Miếu và trong tập Bóng chữ:

- Văn xuôi chủ yếu dựa vào “ý tại ngôn tại”.

- Thơ khác hẳn, dựa vào “ý tại ngôn ngoại”. Đã “ý tại ngôn ngoại” tất nhiên phải cô đúc và đa nghĩa.

- Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ.

- Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, bài thơ.

Nói như Valery, chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về hoá trị.

Đà tiến bộ gia tốc của khoa học (nhất là tin học và sinh học) hình như đã gợi ý một số khả năng mới cho công việc làm thơ.

Người ta không buộc phải dừng lại ở mức bài thơ, câu thơ như trước. Nhà thơ có thể nghĩ tới việc cấy chữ như nhà khoa học cấy gen trong công nghệ sinh học.

2. Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết. Tolstoi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Flaubert cân nhắc chữ trên cân tiểu ly như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người.

Nhưng các nhà lý thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. Ngược lại thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những nhà thơ thiên phú.

Trời cho thì trời lại lấy đi. Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi.

Tôi rất biết những câu thơ hay đều kỳ ngộ, nhưng là kỳ ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần.

Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời.

Có người hiểu lầm câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí để coi thường việc học tập, rèn luyện, làm như Trang Tử khuyến khích một nỗ lực vô văn hóa.

Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ.

Tôi rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.

Đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho.

Mà Trời tuy là kho vô tận, thường khi cũng bủn xỉn lắm. Hình như tất cả những người “cho” đều bủn xỉn. Và hoàn toàn sống dựa vào viện trợ, dầu là hào phóng, vô tư nhất nhiều khi còn khổ quá đi ăn mày.

Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.

Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Saadi, Geothe, Tagore, ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì.

Cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải đo ở tuổi trời, mà ở nội lực của chữ.

Picasso có nói một câu khá thâm thuý: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.”

Có lẽ vì vậy mà tôi rất ủng hộ lời phát biểu của một nhà thơ Pháp, gốc Do Thái Et-mong Gia-bex: Chữ bầu lên nhà thơ.

Gia-bex muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ.

Tôi không nhớ Gide hay Petxoa (nhà thơ lớn Bồ Đào Nha) đã có một nhận xét khá nghiêm khắc về Victo Huygo: Victo nhiều lần tưởng mình là Huygo.

Như thế có nghĩa mặc dầu là một thiên tài đồ sộ đã không ít lần Huygo không được tái cử vào cương vị nhà thơ qua cuộc bỏ phiếu của chữ.

3. Con đường thơ gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau của từng người. Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả.

Ta có thể nói con đường thơ chính là số phận của một nhà thơ.

Nhưng, dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tuỵ đem hết tâm trí dùi mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bộc trung thành của ngôn ngữ.

Một nền thơ có một Lý Bạch là một nền thơ có phúc. Một nền thơ có một trăm Lý Bạch là một nền thơ bất hạnh vì chỉ có một Lý Bạch thật còn 99 Lý Bạch rởm.

Làm thơ là một lao động nhọc mệt, ít tiền và gian nan. Do đó các nhà thơ, các nhà phê bình thơ phải đùm bọc, giúp đỡ nhau. Nên vì thơ hơn là vì tên tuổi cá nhân mình, cần tránh thiên hướng bới lông tìm vết. Phải biết trân trọng đối thoại với cái khác, cái lạ của bạn. Con đường thơ là một chu kỳ mở. Không ai được vỗ ngực độc quyền chân lý cũng như tự cho phép mình nói tiếng nói cuối cùng.

Giữa những người có văn hóa, đối thoại bao giờ cũng hiệu quả hơn “đối thụi”.

Không nên coi tranh luận thơ như một trận đánh bốc nhất thiết phải tìm những đòn hiểm đả bại đối thủ. Thắng bại làm gì khi chỉ có thơ là chịu thiệt. Người ta rất có thể nghiêm khắc, quyết liệt mà vẫn “sang trọng”.

Và đừng bao giờ quên rằng, trong khi người ta tranh luận ồn ào về thơ, “nàng thơ” vốn con nhà tử tế và hay xấu hổ, thấy ầm ĩ quá đã lẳng lặng rút lui từ bao giờ!

LÊ ĐẠT
Nguồn: Văn Nghệ, 34/1994


NHÀ VĂN TRẦN NHÃ THUỴ: NGỒI GIỮA ĐỜI MÀ HÁT

Trần Nhã Thuỵ khởi thảo Hát vào năm 2008, tức là không lâu sau khi ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tiên Sự trở lại của vết xước. Nếu ở cuốn thứ nhất, Thuỵ có từng tâm sự, đại ý rằng, “… không biết [tác phẩm] là tới đâu nhưng mình nghĩ sẽ được nhiều người chia sẻ”, thì với Hát, Thuỵ đã làm được nhiều hơn thế…
Nhà văn Trần Nhã Thuỵ

Ngồi giữa đời mà hát? Hay đứng giữa chợ đời mà hát? Hát cái gì? Và hát cho ai? Với tiêu đề đầy tính ẩn dụ, cuốn tiểu thuyết mới của Trần Nhã Thuỵ bàng bạc những câu hỏi lớn về cuộc đời chúng ta đang sống.

Khởi đi từ câu chuyện một người đàn ông trung niên ở Sài Gòn lặn lội ra đất Bắc tìm học nghệ thuật đàn ca nơi hai mẹ con đào nương ca trù, mà vào thời Nguyễn Tuân gọi là hát cô đầu, tiểu thuyết Hát dự báo một cuộc phiêu lưu thú vị vào thế giới gập ghềnh mà mỗi phận người chứa đựng một bi kịch ngổn ngang. Nhưng Kỷ, nhân vật chính, học hát không phải để thỏa mộng đàn ca, mà đó chỉ như là một cái cớ, qua đó kết nối với cuộc đời của hai mẹ con ca trù Xuân Nương, và những cuộc đời khác cũng đang hát lên câu chuyện của riêng mình.

Họ hát trên đống hoang tàn của cõi lòng, như thơ của Hoàng Hưng “Có bao nhiêu nát tan/ Đội lên đầu mà hát” được chọn trích dẫn trong phần đề từ tác phẩm.

Kỷ được khắc họa như một dạng sống mòn thời hiện đại, hay chết mòn cũng thế thôi. Ngày từng ngày, cứ lăn đi như một viên sỏi giữa tiếng lạo xạo của cuộc đời mênh mông; giữa sự phi lý của đời.

Với kỷ, cuộc đời chỉ dài ra, già đi chứ không có con đường. Làm kỹ thuật ở Viện Giống, thôi việc, rồi trôi nổi qua những công việc bất định. Dịch sách. Môi giới bất động sản. Tham gia các dự án được bày nên của kẻ khác… Mà không có mục đích. Ngày hôm nay là phiên bản của hôm qua. Ngày mai kia được nhắc lại bởi những gì đã diễn ra hôm nay. Những đoạn lập lại trong sách là ý nghĩ lẩn quẩn của Kỷ, là sự lẫn lộn về cảm thức thời gian, về những người xung quanh mà Kỷ đang sống với. Hình ảnh người má của Kỷ cũng là một dạng thức khác của cảm thức thời gian ngưng đọng, chứ không đơn thuần là biểu hiện bệnh lẩm cẩm của tuổi già.

Cuộc đời tồn tại như cách chúng ta nhìn thấy. Người đọc nhận ra, bên cạnh Kỷ đang vỡ nát, đang gặm nhấm bao nỗi phi lý là những phận người luôn lạc điệu với cuộc sống. Dũng xào nhạc, ông già nhạc sĩ hết thời sau một biến cố,… Bên cạnh những tâm hồn lạc điệu, những kẻ thức thời cũng không khá hơn. Ông thức giả ma mãnh. Sinh - sáng lập viên của bao dự án lớn lao nhưng rốt cuộc cũng chỉ như trò hề, ẩn chứa những màn lừa đảo ngoạn mục… Hay Hoàng, một tay chơi.

Nếu xem rằng, âm nhạc là “concept” (ý tưởng) của cuốn tiểu thuyết thì Hát là một dòng chảy xuyên suốt trên nền ý tưởng đó. Đắm trầm trong cõi nhân luân, thay vì đau đời, bất đắc chí, người ta đã hát lên. Hát ru mình và hát ru đời. Suy cho cùng, hát là một cách thế sống.
Tiểu thuyết Hát của Trần Nhã Thuỵ

Kỷ là một nốt trầm trong bản tấu khúc vĩ đại của cuộc đời. Kỷ đã hát cho đời nghe, cứ ngỡ đời cũng đáp lại. Vậy mà không. Thế nên trong Kỷ mới có cảm thức ảo thanh, luôn mơ hồ nghe thấy ai đó gọi mình, hát cho mình. Nhưng không. Đó như tiếng gọi đò, chỉ nhìn thấy con đò mà vắng bóng người đưa khách sang sông. Đó là một cảm giác vỡ mộng, không đơn thuần là sự thất vọng, một căn bệnh sinh lý.
  
Trong Hát, các dạng thức âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn được nhà văn vay mượn để thể hiện “concept” hay ý đồ của mình. Đó là ca trù, nhạc đương đại… Nhưng người đọc còn có thể nghe thấy bao tiếng đời, âm thanh tự nhiên của cuộc sống vọng vào, qua sự cố ý sử dụng ngôn ngữ quảng cáo, ngôn ngữ mạng xã hội, ngôn ngữ đường phố… Thanh âm đời đa tạp như nó vốn thế. Và cả ngôn ngữ tín hiệu, với hình ảnh nước dâng đầy, tính phồn thực của cơ thể người phản ánh sự dư thừa vật chất, nặng về lạc dục… trong một xã hội tiêu dùng đang khủng hoảng niềm tin và những giá trị đạo đức.

Và dù không rõ ràng lắm, nhưng Hát còn thấp thoáng ngôn ngữ của nghệ thuật tuồng, tức dạng thức nghệ thuật mà tính chất của nhân vật được ước định qua lối hóa trang, tính báo trước qua hình thức bên ngoài. Tốt - xấu nhìn vào là biết ngay. Trong Hát, đó là cách phác họa các nhân vật như Sinh “sách”, Thạo “phong thủy”… Ngay cả số phận của cô gái ca trù Xuân Nương cũng vận hành theo lối đó, với cái kết cục vẫn mang dấu ấn của thuyết “hồng nhan bạc phận”…

Cũng nên nhắc lại sự thể hiện nhân vật Kỷ, một lối đặt tên cũng mang tính ẩn dụ nốt. Kỷ cần một sự ngầm hiểu. Phải là Tri, hợp thành một đôi tri kỷ thì mới “gặp” được nhau. Còn không, dù có gần nhau, chia sẻ, thương và yêu nhau, như Lý và Kỷ, cũng không thể “gặp” nhau. Điều đó được hàm dụ bằng cách người này hát mà người kia không nghe, bởi không gọi đúng tần sóng thanh của tâm hồn. Bởi mỗi người là một tiểu vũ trụ. Vẫn có những góc khuất của người cùng sống với mà kẻ còn lại chỉ như người qua đường, hay qua đò…

Trần Nhã Thuỵ viết Hát trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động, có thể nói là đáng kể, thực sự là mảnh đất cho loại hình tiểu thuyết trỗi dậy, trong vòng một thập kỷ qua. Đó là sự đổ vỡ ý thức hệ, sự hủ hóa, sa đọa của lớp quan quyền, nạn tham nhũng đến mức bạo phát bạo tàn, sự phân hóa ghê gớm giữa giàu và nghèo, sự va chạm dữ dội giữa các nền văn hóa vào thời mở cửa… đẩy những phận người bé con vào ngõ cụt vô phương cứu vãn. Trong Hát, sự mất tích của cô gái ca trù Xuân Nương vào quãng đời xanh non tươi đẹp, tràn trề nhất đã để lại một dấu hỏi lớn trong lòng người về thực tại cuộc đời chúng ta đang sống. Nó có ý nghĩa như một dấu lặng trong một đoạn nhạc. Không cần lời đáp. Chỉ có hát lên. Hát để ru mình và ru đời.

Trần Nhã Thuỵ khởi thảo Hát vào năm 2008, tức là không lâu sau khi ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tiên Sự trở lại của vết xước. Nếu ở cuốn thứ nhất, Thuỵ có từng tâm sự, đại ý rằng, “… không biết [tác phẩm] là tới đâu nhưng mình nghĩ sẽ được nhiều người chia sẻ”, thì với Hát, Thuỵ đã làm được nhiều hơn thế. Một cuốn sách được viết nên bởi một người luôn trăn trở với nghề, luôn u hoài về một tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa, có chất; được viết vào quãng tuổi đời, tuổi nghề sung sức và chín nhất, lứa tuổi bốn mươi. Và được viết nên từ tâm trạng hoang mang, vỡ mộng. Vỡ mộng về một khung trời đại học, về xã hội, nhân tình thế thái trong buổi giao thời… mà vẫn còn đó những biểu hiện giống như thời Vũ Trọng Phụng viết Số đỏ. Không khó để người đọc nhận ra điều đó trong Hát.

Chính bởi thế, khi những người bạn văn cùng thế hệ đọc tác phẩm của nhau, đó không chỉ đơn thuần là việc tiếp nhận một cuốn sách.

TRẦN VĂN THƯỞNG

___________________

Nhà văn Trần Nhã Thuỵ tên thật là Trần Trung Việt, sinh năm 1973 ở Quảng Ngãi. Từ năm 1991 đến nay học và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn - báo chí Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Từng làm việc tại Ban Văn hoá - văn nghệ báo Tuổi Trẻ. Hiện là Trưởng đại diện báo Tuổi Trẻ & Đời Sống tại TP.HCM. 

Uỷ viên Ban Chấp hành, Trưởng ban Kiểm tra kiêm Trưởng ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn TP.HCM khoá VII nhiệm kỳ 2015-2020. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2011.

Tác phẩm đã xuất bản:

Lặng lẽ rừng mai (tập truyện ngắn)
Thị trấn có tháp đồng hồ (truyện dài)
- Những bước chậm của thời gian (tập truyện ngắn)
- Gối đầu trên mây (tập tạp văn)
- Sự trở lại của vết xước (tiểu thuyết)
Chàng trẻ măng ở phố treo đầu (tập truyện ngắn)
Cuộc đời vui quá không buồn được (tập tạp văn)
- Mùi (tập truyện ngắn và tạp văn 2012)
- Hát (tiểu thuyết 2014)
Triều cường, chân ngắn và rau sạch (tạp văn 2014)

Giải thưởng văn học:

- Giải thưởng Truyện ngắn trẻ (báo Văn Nghệ Trẻ - Hội Nhà văn Việt Nam 1998).
- Giải thưởng Truyện ngắn Văn học cho tuổi trẻ (NXB Thanh Niên - báo Văn Nghệ- Hội Nhà văn VN 2003).
- Tặng thưởng Hội Nhà văn TP.HCM cho tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước(năm 2009).

Quan niệm về văn học:

‘Viết, là tự lưu đày bản thân’ như Linda Lê nói, hay ‘tự sát thương’ mình, theo tôi cũng là theo nghĩa đó. Quả là buồn khi người đọc chỉ chăm chú theo dõi truyện kể gì, mà không hề để ý tới việc tác giả ứng xử với câu chữ như thế nào.

Nguồn: NVTPHCM


BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...