Thứ Năm, 29 tháng 11, 2018

NHỮNG HẠT NGỌC THƠ HÀN ĐẦU THẾ KỶ XX

Những hạt ngọc thơ Hàn Quốc là tập hợp gồm 140 bài thơ Hàn Quốc hiện đại được cho là hay nhất trong giai đoạn từ những năm 1920 đến giữa thập kỷ 1980 do Jaihiun J. Kim tuyển chọn, biên soạn và dịch ra tiếng Anh, xuất bản năm 1993.

Việc làm của chúng tôi là chọn ra một số nhà thơ bắt đầu nổi lên từ đầu thế kỷ XX, tên tuổi của họ có sức ảnh hưởng đến văn học Hàn Quốc hiện đại nói chung cùng một vài tác phẩm tiêu biểu của họ để giới thiệu đến bạn đọc. Chúng tôi lược dịch phần giới thiệu trong tập thơ này cùng phần tiểu sử và thơ của các nhà thơ mà chúng tôi nhận thấy là tiêu biểu nhất cho giai đoạn đầu của thơ hiện đại Hàn Quốc như Hang, Yongun; Chu, Yohan, Yi, Shangwa; Kim, Tonghwan; Park, Yongchol… Bênh cạnh đó chúng tôi cũng đưa thêm vào phần giới thiệu những đoạn trích dẫn ngắn từ những bài thơ mà chúng tôi chọn dịch từ bản tiếng Anh, để làm rõ hơn các nhận xét về phong cách thơ của từng tác giả.
Nhà nghiên cứu, dịch giả La Mai Thi Gia

Vào những năm đầu thế kỷ XX, văn chương Hàn Quốc bắt đầu tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài trong chốn ẩn thân của mình. Trong khi văn học truyền thống được khuyến khích phát triển chủ yếu dưới những tác động của văn chương Trung Quốc thì ngược lại, văn học hiện đại bắt đầu hình thành với ảnh hưởng từ nền văn học phương Tây, điều này vẫn được cho là bước ngoặc lớn trong văn học nước Hàn. Hàn Quốc bắt đầu giao lưu trực tiếp với phương Tây, đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên ánh sáng, sau đó phát triển mạnh mẽ từ từ 1980 đến 1910.

Bị thúc giục bởi làn sóng cải cách chính trị và cải cách hệ thống xã hội của thời đại, văn chương Hàn Quốc đã sẵn sàng dấn thân vào công cuộc hiện đại hóa dưới ngọn cờ của văn học phong cách mới, bắt đầu với sự đổi mới của Nam Son Ch’oe trong thơ và Kwangsu Yi trong văn xuôi, đó là lý do vì sao hai nhân vật quan trọng này được xem là cha đẻ của văn chương Hàn Quốc hiện đại. Họ đóng vai trò như là chất xúc tác trong quá trình hiện đại hóa văn học nước Hàn. Tác phẩm của họ chú trọng nhiều hơn đến chức năng giáo huấn của văn học, họ hướng đến việc tận dụng nghệ thuật như là một phương tiện khai sáng con người và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Văn học Hàn Quốc nói chung và thơ ca nói riêng vào trước những năm cuối cùng của thập kỷ 1910 vẫn chưa thực sự phá vỡ được cái vỏ giáo huấn của mình cho đến khi các trào lưu văn học Phương Tây tràn vào Hàn Quốc gần 1 thế kỷ sau đó.

Xét  một cách chặt chẽ hơn có thể cho rằng thơ ca Hàn Quốc hiện đại thực sự bắt đầu với Yohan Chu và Ok Kim. Không chịu sự chi phối của thói đạo đức giả trong thơ ca kiểu mới và những tình cảm bồng bột của chủ nghĩa lãng mạn nhạt nhẽo, Chu và Kim đã thành công trong việc tạo ra dấu ấn của riêng mình từ những bài thơ được sáng tác theo kiểu truyền thống của những bài balat dân gian, đây là hai nhà thơ hiện đại của Hàn Quốc đã bắt đầu tạo được phong cách của riêng mình.

Sau thành công của Yohan Chu và Ok Kim là thành công của hai nhà thơ Tonghwan Kim và Sowol Kim vào giữa thập kỷ 1920.  Được đánh giá là nhà thơ xuất sắc nhất của giai đoàn này, Sowo Kim đã vượt xa khỏi cái bóng của người mà mình chịu ơn - Ok Kim -  là người thầy và là người cố vấn văn học của ông. Sowo Kim đã khẳng định được tài năng thi ca của mình bằng cách mêu tả kết hợp giữa tình yêu xứ sở với cảm hứng bất tận về con người trong một chuỗi những bài thơ được đánh giá rất cao của ông như Hoa đỗ quyên, Những bông hoa trên núi và Lời cầu khấn. Ông là người đầu tiên của giai đoạn này chú ý đến việc miêu tả thiên nhiên và cũng là người có kiến thức sâu rộng về vấn đề này.  Ông ngắm nhìn thiên nhiên không chỉ như là trung tâm của cái đẹp mà còn như là mạch nguồn gợi ra những cảm hứng về cuộc sống.

Bông hoa nở rộ
Trên đồi núi xa
Xuân rồi đến hạ
Và thu đi qua
Hoa kia vẫn nở
Trên đồi núi xa

(Những bông hoa trên núi - Sowo Kim)

Cùng thời với Sowol Kim có Tonghwan Kim, một nhà thơ luôn hồi tưởng về vẻ đẹp của vùng đất đã bị mất chủ quyền. Tonghwan Kim ra đời ở Kyongsong và học đại học Tokyo ở Nhật, suốt những năm chiến tranh ông bị đưa về phía bắc Hàn Quốc. Khi con sông tuôn trào và Tuyết đang rơi là những bài thơ đáng chú ý của ông trong giai đoạn này.

Và khi sông đã tuôn trào
Thuyền kia sẽ tới cập vào bến thôi
Tình yêu dịu ngọt của tôi
Cũng theo thuyền ấy nàng thời đến đây

(Khi con sông tuôn trào - Tonghwan Kim)

Yongno Pyon và Tongmyong Kim cũng là những nhà thơ mang tâm trạng tiếc nuối quá khứ như Tonghwan Kim và cũng đã viết nên những bài thơ có giá trị. Tuy nhiên hấu hết những bài thơ ra đời trong thời kỳ này đều có hạn chế về đề tài và lĩnh vực thể hiện, đa số đều tập trung nói về tình cảm.  Tongmyong Kim ra đời ở Kangnung và đến học viện Aoyama của Nhật để học thần học. Sự nghiệp của ông trải rộng ở nhiều lĩnh vực như nhà giáo, người biên tập báo chí và là thành viên của quốc hội. Dưới những luật lệ thống trị của Nhật Bản, ông đã bỏ về nông thôn và ở đây ông đã viết trong một nỗi nhớ da diết về vẻ đẹp của đất nước trước khi chúng bị kẻ tàn bạo dày xéo. Tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm Đàn lia của tôi (1930), Cây chuối (1938), Chứng nhân (1955) và Tâm trí tôi(1964)…

Tâm trí tôi là một chiếc lá rơi
Hãy cho chiếc lá tôi nằm lại trong vườn em một khắc
Rồi tôi sẽ từ giã em ra đi trong lặng thầm đơn độc
Khi thêm một lần gió lại thổi lên

(Tâm trí tôi - Tongmyong Kim)

Vào những năm về sau của thập kỷ 1920, Shangwa Yi và Yong’un Han đã mang lại sức vóc mới cho thi ca Hàn Quốc bằng sự hợp nhất vào trong thơ chiều sâu siêu hình và cái nhìn thấu đáo vào ý thức con người. Ra đời ở Taegu, Shangwa Yi học tiếng Pháp tại trường đại học dành cho người nước ngoài ở Tokyo, Nhật Bản. Thơ của ông tiêu biểu  cho xu hướng lãng mạn của thế kỷ 20. Nếu không kể đến việc dấn thân của Yi vào bên trong sự tăm tối hão huyền của nhục thể và nỗi sầu muộn chán chường thì rõ ràng chính Yi là một nhà thơ hiếm hoi đã biết cách thể hiện được rõ ràng những quan niệm của mình:

Trăng khuya còn mỏng mảnh
Trong như là sợi tơ
Gió bắt đầu lay động
Và dường như bất ngờ
Mùa xuân đang rơi xuống
Từ các vì sao đêm

(Mưa mùa xuân - Shangwa Yi)

Sinh ra ở Hongsong, thuộc tỉnh Chungchong, từ nhỏ đã dành trọn đời mình cho đức phật, Yong’un Han là một trong 33 thành viên ký vào bản tuyên ngôn lịch sử công nhận quyền độc lập tự chủ của Hàn Quốc dưới sự kiểm soát thuộc địa của Nhật Bản vào năm 1919. Bản thân là một tu sĩ và cũng là một nhà yêu nước, tên tuổi của Yong’un Han đã trở nên bất tử với một chuỗi những bài thơ tiếng tăm của ông trong tập Sự im lặng của tình yêu (1925), nó là hiện thân của sự phức tạp siêu hình và những nghịch lý trong thân phận con người, theo ông các thể thức của đạo phật cũng chẳng khác gì sự thể hiện của thơ ca. Theo phật giáo bản thể và khách thể có thể được chuyển hóa cho nhau, chỉ cần giữa chúng có tồn tại nghiệp chướng, và cùng với sự lạc mất của mối lương duyên nghiệp chướng thì bản thể và khách thể sẽ cùng diệt vong tại một thời điểm:

Lời thề tình yêu đôi lứa
Tưởng rằng còn mãi muôn đời
Như đóa hoa vàng bất tử
Nay còn là đống tàn tro
Ngọn gió nào mang đi xa
…………
Khi loài người biết yêu nhau
Trong em đã nhiều lo sợ
Sợ rằng ta sẽ chia xa
Vào ngay khi ta gặp gỡ
Cách ngăn đến thật bất ngờ
Tim em thành trăm mảnh vỡ

(Sự im lặng của tình yêu - Yong’un Han)

Vào năm 1910, sau gần 1 thập kỷ đánh mất chính mình, Hàn Quốc bắt đầu đứng lên chống lại những luật lệ thuộc địa hà khắc của Nhật, tuy nhiên phong trào độc lập lại mau chóng bị dập tắt bởi bàn tay tàn bạo của kẻ áp bức. Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc vừa mới nhen nhóm lại gặp ngay cảm giác về sự mất mát và thất vọng quá mạnh mẽ, và điều này lại mau chóng dìm dân tộc vào lại trong thời kỳ đen tối. Trong màn sương ảm đạm ấy, ý nghĩ thịnh hành của thuyết chủ bại đã đem đến lối thoát cho tâm trạng vỡ mộng và chủ nghĩa bi quan. Đồng thời, giữa cơn lốc hỗn loạn và điêu tàn ấy đã nổi lên một nhóm các nhà thơ cộng sản phương đông, những người đã nhận ra rằng nghệ thuật chỉ là phương tiện đấu tranh chống lại kẻ áp bức. Tuy nhiên những tác phẩm của họ cũng đạt phần nào đạt được những tiêu chuẩn nghệ thuật thẩm mỹ. Giữa không khí xã hội đó, nhà thơ Shanghwa Yi đã rất thành công trong việc diễn đạt về nỗi buồn đau của một quốc gia đang bị đàn áp trong bài thơ Có phải mùa xuân về trên vùng đất đã bị mất đi in trong tập Sanghwa và Sowol (1951).

Có phải mùa xuân đã về trên mảnh đất này không?
Mảnh đất không còn là của chúng tôi
Mảnh đất mà người ta chiếm mất?
Đắm mình trong ánh mặt trời, tôi đi như thể trong một giấc mơ
Dọc theo con đường nhỏ xuyên qua bao đồng lúa như mái tóc xõa tung
Nơi mà bầu trời xanh và những cánh đồng xanh đang hòa quyện vào nhau.

Đến trước đầu những năm 1930, trái tim rộng mở quá mức và tính đa cảm ốm yếu đã dần dần lùi xa bởi sự xuất hiện của thuyết duy lí cùng với những tiếng nói mạnh mẽ của các nhà thơ cộng sản phê phán quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Yongnang Kim, Chiyong Chong và Sok-Chong Shin là những nhà thơ trong số các nhà thơ cuối cùng của giai đoạn này.

Yongchol Park thì lại có sở trường ở việc nêu ra lý luận sáng tác hơn là những tác phẩm văn chương thực thụ. Khi đề cập đến bài thơ Tàu đang cập bến Park có vẻ thích thú với danh hiệu của một nhà phê bình giỏi hơn là một nhà thơ hay. Ông chú ý một cách nghiêm  túc đến những thể thức và tính nhạc của ngôn ngữ.

Sinh ở Kanglin, đến học tiếng Anh tại học viện Aoyama Nhật bản, Yongnag Kim thì lại rất thành công trong việc tạo tác giấc mộng – như một bầu khí quyển xuyên qua sự hòa âm giữa cảm giác và âm thanh. Ông quan niệm  một cách nghiêm túc rằng thơ ca là một loại hình nghệ thuật biểu hiện cái đẹp của kinh nghiệm. Từ những bài thơ của ông, ngôn ngữ Hàn Quốc dường như được khoác lên vẻ đẹp mới, tao nhã và tinh tế:

Này tôi ước mộng vời xa
Đã tan thành bụi theo hoa còn gì
Rồi khi hoa đã ra đi
Là khi tôi chẳng còn gì tháng năm

(Đến khi mẫu đơn khai hoa - Yongnag Kim)

Ở một phương diện khác, thơ Chiyong Chong đã khắc nên được bức tranh truyền thống nổi bật kết hợp với những nét vẽ hiện đại của phương Tây. Sinh ra ở Okchon, Chong học văn học Anh ở đại học Tojisha – Nhật Bản. Suốt trong thế chiến thứ 2 ông dạy học tại một trường trung học và sau chiến tranh ông là giáo sư tiếng Anh tại trường đại học nữ Ehwa. Ông bị buộc phải về miền Bắc Hàn Quốc suốt chiến tranh Hàn Quốc (1950 – 1953). Là một trong những nhà thơ gây ảnh hưởng nhất thế kỷ 20, ông mang những hình ảnh hiện đại và mạnh mẽ hòa trộn với tình yêu bản xứ vào trong thơ Hàn. Tác phẩm chính của ông là Tuyển tập thơ (1935), Hồ Paeknok (1941) và Tinh tuyển thơ (1946).

Qua vùng sa mạc gió bay
Trong lò lửa tắt phủ đầy bụi than
Gối đầu lên cuộn rơm vàng
Cha tôi chợp mắt mơ màng giấc trưa

Dầu trong những giấc mơ đêm
Làm sao tôi có thể quên chốn này?

(Vọng cố hương - Chiyong Chong)

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn chương ở Puan, Sokchong Shin theo cha mẹ chuyển đến một ngôi làng hẻo lánh ở vùng nông thôn, nơi đây ông đã trải qua thời thơ ấu không có dấu ấn cai trị của đế quốc Nhật. Gia đình ông trải qua một giai đoạn kiệt quệ, nhưng ông lại có được những nhận thức phong phú về thiên nhiên đang bao bọc xung quanh. Đó là lý do vì sao mà  Sokchong Shin lại được nhắc đến như một nhà thơ đồng quê. Tập thơ đầu tiên Ánh sáng ngọn nến của ông đã đưa ông lên vị trí như là một nhà thơ của nơi thôn dã.

Chỉ cần em gọi
Là tôi về đây
Như dòng suối mát
Lượn theo gió bay
Về xa tít tắp
Chân trời xuân phai

(Chỉ cần em gọi - Sokchong Shin)

Nhìn chung, qua một vài bài thơ hiện đại Hàn Quốc vào những năm đầu thế kỷ XX, có thể thấy rằng chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Hàn Quốc không phải là sự sao chép chính xác từ nguyên mẫu phương Tây. Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, mọi sự so sánh về văn học Hàn Quốc cần phải được đặt trong bối cảnh văn hóa của đất nước. Sự thật là các nhà thơ Hàn Quốc cũng hướng về cái tôi cá nhân và đề cao đời sống cảm xúc riêng tư như những nhà thơ của các nước phương Tây. Tuy nhiên quan niệm lãng mạn về sự hợp nhất giữa con người với tự nhiên lại được các nhà thơ Hàn thêm vào đó một chút dư vị cay đắng xót xa của nỗi ưu tư sầu muộn do tinh thần thời đại tạo nên.

LA MAI THI GIA
Nguồn: NVTPHCM 



Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018

‘KHẮC KHOẢI LÒNG' THƠ TÔ THUỲ YÊN

Tôi là người đọc rất yêu mến thơ Tô Thùy Yên, yêu mến cả nhân cách của nhà thơ này thể hiện qua thơ anh.
Nhà thơ Tô Thuỳ Yên

Tô Thùy Yên từng là sĩ quan trong quân đội Sài Gòn, từng bị đi cải tạo nhiều năm sau 1975. Nhưng đọc thơ anh, chỉ thấy đau đớn, chỉ thấy xót xa và chỉ thấy một tâm hồn Việt không bao giờ muốn tách rời khỏi đất Mẹ của mình.

Cách đây chừng 25 năm, vào độ cuối xuân, tôi có viết một bài thơ theo dạng cũ. Tôi vốn ít khi viết dạng thơ này, nhưng khi nhìn bông hoa hồng trồng trong chậu trên gác nhà mình, tự nhiên những câu thơ có vần chợt đến:

“Cuối xuân cây lá rung dìu dịu
Mình anh đối diện với hoa hồng
Con đường chợt khuất mưa rào níu
Vệt bánh xe buồn tới nẻo không
Bao người đã sống bao người sống
Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng”

                         (Không đề)

25 năm sau, tôi muốn mượn lại câu thơ mình để viết về thơ của nhà thơ Việt hải ngoại Tô Thùy Yên: “Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng”.

Đúng là ở đời, dù ta muốn cách mấy, thì buồn vẫn nhiều hơn vui. “Cha mẹ sinh con trời sinh tính” nhưng tính buồn vẫn nhiều hơn tính vui. Chỉ có điều khi ta buồn, có lẽ chất người của ta lại nhiều hơn khi ta vui. Tôi chợt nhớ bài thơ Uống rượu với bạn đồng hương- một bài thơ thật cảm động của nhà thơ Yến Lan - nhớ nhất đoạn thơ này:

“Rồi năm tháng cách xa
Thành công chen thất bại
Có nỗi buồn khỏe ra
Có niềm vui chạnh mãi”

Nếu có niềm vui, khi nghĩ lại, khiến ta chạnh lòng, thì nhiều phen một nỗi buồn thanh sạch lại khiến lòng ta như “khỏe ra”. Cái khỏe ra của tâm hồn, không phải dễ để nhận thấy, nhưng nó hoàn toàn có thật.

Tôi nghe danh Tô Thùy Yên đã lâu, nhưng đọc thơ anh chậm hơn. Cũng một dịp may, khi tôi sang Paris dự Liên hoan Thơ quốc tế năm 2003, một tập thơ của Tô Thùy Yên đã đến với tôi tại quán Foyer Viet Nam của người bạn chủ quán - nhà thơ Võ Văn Thận.

“Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi”

               (Ta về)

Những niềm vui nho nhỏ, “vui lẻ loi” ấy nhiều khi lại sống trong ta, giúp ta năng lượng sống nhiều hơn những “trận cười thâu đêm” mà chẳng biết có vui thật không. Bài thơ Ta về được Tô Thùy Yên viết sau hơn mười năm phải sống trong một trại cải tạo hậu chiến tranh. Đó có thể là thời gian dài nhất trong đời anh, nhưng cũng là thời gian khiến thơ anh đằm xuống một sức nặng khó tả. Đó là điều có lẽ không nhà thơ nào muốn, nhưng khi số phận đã “gõ cửa” đời ta, thì sự nhẫn nại chịu đựng lại làm nên một nhân cách thơ trầm tĩnh. Tôi chợt nhớ đến Josef Brodski và những vần thơ trong khổ nạn của ông. Những vần thơ hết sức trầm tĩnh, hết sức nhẫn nại:

“anh lại nghe tiếng hát những người tù
và tiếng bước chân người cai tù câm lặng
anh lại tự hát, hát trong im lìm:
Thôi từ giã nhé, tháng giêng”

                        (Son-nê)

Năm 1961, tạp chí Sáng Tạo (Sài Gòn) đã in bài thơ Lễ tấn phong tình yêu của Tô Thùy Yên. Năm ấy anh mới 23 tuổi, nhưng bài thơ dài đã xác lập trên thi đàn chiều kích của một nhà thơ lớn sắp sửa. 34 năm sau, vào 1995, tập Thơ tuyển của Tô Thùy Yên ra đời, khẳng định thi tâm và thi tài của nhà thơ Việt này. Nguyễn Du viết “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, nhưng tôi nghĩ, trong thơ, thì tâm và tài là 50-50. Phải có đủ cả 100% đó nhà thơ mới yên lòng, và thơ họ mới tự khẳng định. Xuất từ tâm, nhưng qua tài, thơ Tô Thùy Yên như muốn nói, nói mãi, nói hết nỗi lòng mình. Khi một bài thơ dài kết thúc, ta vẫn còn muốn đọc nữa, đọc nữa, và hình như còn gì nữa mà nhà thơ muốn nói tiếp.

Thơ Tô Thùy Yên lặng lẽ. Dù anh viết dài hay viết ngắn, thì thơ ấy vẫn lặng lẽ. Người đọc đồng cảm với thơ ấy, cũng trong lặng lẽ. Đó là thơ của Chim kêu bãi quạnh, hắt hiu và đau đớn:

“Cởi đôi giày vẹt, tấm áo tả
Xót xa như lột một lần da”

        (Chim kêu bãi quạnh)

Thơ ấy nhiều khi như bâng quơ, mà găm vào ta thật sâu:

“Mai có ai về ngang quãng sông này,
Xin ném cho hòn đất hỏi thăm”

                     (Viễn Tây)

Khi người ta đã thấu lẽ tử sinh, đã thấu suốt phận người, thì:

“Nhớ, như cỏ, xô tràn…
Mơ, như mây, tản mạn…”

        (Đại Bình Nguyên)

Một nhà thơ như thế, có thể gọi là đạt đạo. Thì là đạo làm người, vậy thôi:

“Ở những mối đường tẽ ba tẽ bảy phân vân
Muốn xuống xe, làm như kẻ lang thang xưa,
Tung cao may rủi một đồng tiền hay một cành cây,
Nhờ tình cờ định hướng hộ”

                             (Đại Bình Nguyên)

Không ai muốn rơi vào tâm trạng ấy để có thơ hay, nhưng khi đã lâm vào, thì chính những giọt thơ buồn như rượu mạnh sẽ giải thoát mình khỏi mọi trầm cảm. Tôi đọc bài thơ Đại Bình Nguyên của Tô Thùy Yên và chợt thoát ra với đúng cảm giác này của tác giả khi kết thúc bài thơ:

“Nước Mỹ này quá rộng và quá buồn
Anh không còn muốn tự định liệu”

Bởi tâm trạng của nhà thơ Việt nhập cư hôm nay không giống với tâm trạng của những người thuở xưa đi khai phá nước Mỹ, những chàng trai miền Viễn Tây cưỡi ngựa ngang tàng trên đồng cỏ. Rồi ngay trong lúc đó, chợt hiện về hình ảnh một kinh thành xa lắc:

“Nắng mưa đâu chẳng là mưa nắng
Sao nắng mưa này da diết hơn?”

Tô Thùy Yên sinh ở Nam bộ, hai câu thơ ấy lại viết về Huế, và tôi hiểu, với một nhà thơ Việt xa xứ, thì đất Việt đâu cũng quê nhà, đâu cũng đầy những nhớ thương day dứt. Nhà thơ Nam bộ ấy vừa nhớ Huế, thì bỗng nhớ ngay đến vùng sông nước quê mình:

“Mùa nước nổi qua mùa nước giựt,
Đốt tay nào Thân Dậu niên lai?
Em về giồng dưới, qua bưng gió,
Dạ bời bời nỗi sậy, niềm mây…”

 (Nhớ có lần, trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)

Người ta nói thơ Tô Thùy Yên vừa dân tộc vừa hiện đại, rồi có thể phân tích thi pháp thơ anh thế này thế khác. Tôi chỉ nói đơn giản: Thơ ấy hay. Khi thơ đã hay thì có thể nó gồm cả những gì người ta đã nói, hoặc nó chỉ là… thơ hay. Vậy thôi. Sao biết là thơ hay? Khi thơ ấy đi vào lòng người, thấm sâu vào tâm cảm ta, làm ta mỗi một buồn buồn nào cũng có thể nhớ vài câu thơ ấy, thế thì nó hay rồi. Và tôi muốn nói thêm: Tô Thùy Yên có thể rất giỏi tiếng Anh, nhưng anh chỉ có thể làm thơ bằng tiếng Việt. Điều này cũng không cần phân tích. Tôi chỉ cảm về thơ Tô Thùy Yên khi “Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng”. Đó có thể là tiếng kêu buồn buồn xa vọng của con bìm bịp trên miền sông nước Cửu Long. Chỉ thế thôi.

THANH THẢO
Nguồn: TNO


NGUYỄN QUANG THIỀU - MIỀN TÂM LINH NGẬP TRÀN CHÂU THỔ

Sau Cây ánh sáng, Nguyễn Quang Thiều mới cho ra mắt Tuyển thơ Châu thổ (NXB Hội Nhà văn, 2011, dày 400 trang), tuyển chọn những bài thơ tinh túy nhất từ tập Ngôi nhà 17 tuổi cho đến những tập sau này. Và sắp tới anh sẽ ra 3 trường ca mang tên Lò mổ, Bí ẩn thành Cổ Loa và Bi ca về một thị xã bị mất tích. Xin giới thiệu bài viết của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Loan về “miền tâm linh” trong thơ của Nguyễn Quang Thiều.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và Tuyển thơ Châu thổ

Mỗi lần nghe Nguyễn Quang Thiều nói chuyện, chuyện văn chương bay bổng hay chuyện đời phàm tục, người ta lại bị thuyết phục bởi chất giọng trầm âm vang của ông, tưởng như được nghe tiếng nước vang vọng và mãnh liệt đang ngập tràn trên châu thổ sông Hồng. Quả thực, ông mang trong mình nội lực viên mãn của đất đai làng Chùa, ngôi làng thơ bên bờ sông Đáy mà ông yêu bằng tất cả cuộc sống và thơ ca của mình. Có cảm giác như, thế giới thơ của ông, mênh mông và siêu thực, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ “nhịp điệu châu thổ mới” của ngôi làng này, của bờ sông Đáy này, và từ thị xã Hà Đông (cũ) của ông.

1. Trong thời kỳ đổi mới, những biến động phức tạp của đời sống xã hội đã dẫn tới sự đổi thay trong quan niệm thẩm mỹ. Với cảm hứng và tư duy nghệ thuật mới, thơ có điều kiện đi sâu, khai thác nhiều khía cạnh của đời sống. Chất ảo của thơ sau thời kỳ đổi mới chủ yếu được khai thác ở phương diện đời sống tâm linh. Thế giới tâm linh trong thơ hiện đại thể hiện rõ qua những tác phẩm tiêu biểu như: Một chấm xanh (Phùng Khắc Bắc), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Người hái phù dung (Hoàng phủ Ngọc Tường), Dâng mẹ (Dương Kiều Minh), Chùm mơ tiên cảm (Nguyễn Linh Khiếu),Lam Chướng(Nguyễn Bình Phương), Những khối hình câm (Vân Long), Bóng núi (Ngô Quân Miện)... và những tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Là một trong những nhà thơ giữ vị trí tiên phong trên hành trình cách tân thơ Việt, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều lại vươn tỏa ngòi bút của mình tới thế giới tâm linh - vùng miền thẳm sâu của tâm hồn để cất lên vẻ huyền diệu của cuộc sống và khẳng định những khả năng kỳ diệu của thơ ca, những sứ mệnh cao cả của thơ ca trong thế giới hiện đại. Thiên chức của thi ca được Nguyễn Quang Thiều khẳng định đó chính là sự giải phóng hiệu nghiệm nhất những bế tắc của đời sống con người, giúp con người khám phá những vẻ đẹp bí ẩn của đời sống. Những chuyến đi kỳ vĩ hướng về miền tâm linh đã mở ra trong thơ Nguyễn Quang Thiều một không gian nghệ thuật đầy hư ảo và vẻ đẹp của cuộc sống được ánh lên màu sắc huyền thoại. Ngay cả nhan đề bài thơ dường như cũng toát lên những màu sắc nghi lễ thiêng liêng: Tôi khóc những cánh đồng rau khúc, Gọi hồn, Sám hối, Điều thiêng, Lời cầu nguyện, Thánh ca tĩnh lặng, Lời trăn trối của tương lai, Lễ tạ, Nhịp điệu châu thổ mới, Thay lời cầu nguyện...

2. Hướng về miền tâm linh trong Châu thổ, người đọc sẽ cảm nhận thấy những vẻ đẹp riêng trong tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều: “Nguyễn Quang Thiều lắng nghe những đổ vỡ sâu sắc trong đời sống tâm linh văn hóa trước mỗi bước đi của kỷ nguyên đô thị hóa, công nghiệp hóa. Ðến nỗi, có cảm giác như thi sĩ cảm nhận được những cái chết đang thấm vào trong từng tế bào đời sống”. Luôn trăn trở về sự suy kiệt của cõi thế trong xã hội hiện đại, Nguyễn Quang Thiều trải rộng tâm tưởng qua những trang thơ nhằm hướng tìm một đức tin đối lập với thế giới trần tục đầy dục vọng mưu mô và tội lỗi.

Trở về với thế giới tâm linh thanh khiết là khát khao thường trực trong thơ Nguyễn Quang Thiều bởi đời sống hiện đại cùng với nền văn minh vật chất là sự suy thoái trầm trọng:

“Trước trái đất đang nóng lên từng độ
Và trái tim con người cứ lạnh dần đi”
                           (Đêm gần sáng)

Thế giới hiện thực trong cái nhìn của nhà thơ là thế giới hỗn tạp, xô bồ với những Cánh đồng bị thương, nhữngCơn mưa hoàng hôn ngạt thở:

“Ngoài kia, những cánh đồng đắng cay vì bệnh tật kéo dài
Hoàng hôn xấu xí
Ngũ cốc đang ngập mình bởi cơn ho hóa chất sặc mùi”.
                                 (Lời cầu nguyện)

Thành tựu văn minh vật chất với: xa lông, ti vi, khách sạn, điện thoại, kế hoạch công việc... hiện lên trong Châu thổ gắn đầy những dự cảm về việc đánh mất những giá trị đời sống tinh thần thiêng liêng của con người trong thế giới hiện đại. Thế giới ấy nhiều khi chính nhà thơ cũng phải thốt lên những lời tự vấn “Đời sống chúng ta đang sống có thực là đời sống không?”, “Đời sống này đôi lúc buồn hơn cái chết”:

“Vào lúc ban mai anh sẽ ra đi khỏi thế gian này, chuyến đi kỳ vĩ
Cờ sẽ rực rỡ biết nhường nào, âm nhạc sẽ tinh khiết đến nhường nào
Giống cậu bé ham chơi trốn cha mẹ ra khỏi giường ngủ, anh đi bằng cách nhón chân của mèo hoang
Và cúi xuống bên em đang thiếp ngủ, thì thầm anh nói:
Đời sống này đôi lúc buồn hơn cái chết”.
                           (Buồn hơn cái chết)

Trở về với đời sống tâm linh, trở về cội nguồn là sự trở về với những giá trị vĩnh cửu để xa rời cuộc sống ồn ào, vội vã của nền văn minh hiện đại, là sự kiếm tìm trạng thái bình yên, đối lập trạng thái bất an, khiếp sợ trước cái hỗn loạn của xã hội công nghiệp.

3. Trong thơ Nguyễn Quang Thiều, màu sắc nghi lễ thiêng liêng của đời sống tâm linh không gắn với tôn giáo nào và không xa lạ với con người. Theo nhà thơ, đức tin về những điều thiêng liêng trong tâm hồn mỗi người sẽ khiến cho chúng ta nhận ra rằng thế giới xung quanh tràn ngập những điều thiêng:

“Nhưng lúc này một bóng người cúi xuống bên chúng ta phả hơi lửa trong tiếng thì thầm:
- Còn một hạt giống là còn cánh đồng
- Còn một giọt nước là còn dòng sông
- Còn một người có đức tin là cả thế gian được cứu rỗi”
       (Bài ca trong đêm cuối cùng của năm cũ)

Trong tản văn Có một kẻ rời bỏ thành phố, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã viết: “Ngôi đền hay ngôi chùa thiêng duy nhất chính là ngôi đền, ngôi chùa dựng trong lòng người.” (tr.36),“Khi chúng ta ngăn chặn mọi cuộc chiến tranh, hủy diệt mọi hận thù, khi chúng ta chia sẻ và yêu thương con người và thiên nhiên một cách chân thành, khi chúng ta luôn luôn mỉm cười với người bên cạnh, khi chúng ta thấy ngập tràn hạnh phúc mỗi lúc chìa bàn tay nhân ái về phía những số phận khổ đau... thì ngay lập tức thiên đường tràn ngập ngay nơi ta cho dù đó là một căn phòng chật trội và treo nhiều quần áo cũ”. (tr.19).

Sự linh thiêng qua cái nhìn của nhà thơ là cái được hiện lên ngay từ những điều bình dị nhất của đời sống. Đó là vẻ đẹp của: ban mai, ngôi sao, áng mây, cánh đồng, bãi cát, vòm cây, ngọn gió... Thiên đường trong thơ Nguyễn Quang Thiều đó chính là vẻ đẹp trinh nguyên của cuộc sống vĩnh hằng:

“Những xôn xao lùa qua hơi ẩm
Vọng về từ cánh đồng rộng lớn mù sương
Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm
Chất đầy hương cỏ tươi lăn về nơi hừng sáng
Ơi... ơi... ơi, những con đường thân thuộc
Như những ngón tay người yêu lùa mãi vào chân tóc
Ai gọi đấy, ai đang cười khúc khích
Tôi lách mình qua khe cửa, ơi... ơi...”
                              (Ban mai)

Những cảnh vật làng Chùa và hình ảnh những người thân yêu luôn trở đi trở lại trong Châu thổ và những sáng tác khác của nhà thơ. Đặc biệt là hình ảnh của bà nội với những câu chuyện bà kể liên miên trên giường bệnh trong suốt bốn năm. Không chỉ kể về bà mà còn nói về những câu chuyện ám ảnh, trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đời sống tinh thần của người đã trở thành nguồn sáng tạo tinh thần trong thơ Nguyễn Quang Thiều: “Chân dung của bà tôi được xây dựng lên bằng tiếng nói của người, đã tồn tại trong tôi mọi chiều của không gian, thời gian và ở mọi tầng suy ngẫm của tôi”.

Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều được biểu hiện qua ký ức tuổi thơ của nhân vật “Cậu bé”. Những cơn mê trong tâm trí của cậu bé là kỷ niệm về cố hương, về những câu chuyện cổ tích, những câu chuyện thần linh ma quỷ. Ký ức về đám ma của bà nội, ký ức về những người thân yêu đã mất hiện lên trong tiềm thức của nhà thơ như một niềm ám ảnh mơ hồ:

“Cỗ xe tang trôi mãi vào cơn mê
Những con rồng gỗ vảy vàng bay lên trong tiếng kèn, tiếng trống
Con nhón gót, cỏ may biền biệt trắng
Có ai khẽ khàng bế mãi con lên
Con muốn lẩn vào khăn áo đám ma quê
Con muốn đắp lên cơn ho của con tàn hương thơm và ấm
Con nhìn thấy bà nội mặc áo tơ tằm ngồi giữa ngàn ngọn nến
Bà rót một bình nước mưa trong để đợi con về”
                                    (Âm nhạc)

4. Chiều sâu tâm linh trong thơ Nguyễn Quang Thiều được thể hiện qua những giấc mơ đầy nhân bản luôn khao khát kiếm tìm một thế giới thanh khiết và bình an. Thơ Nguyễn Quang Thiều xuất hiện đậm đặc những cụm từ “bên kia”. Đây là một cách nói, một cách tư duy mới gọi sự mơ hồ, sự vô tận, vừa gần gũi vừa bí ẩn, gợi lên cho người đọc những liên tưởng vô tận. Nó không phải là bờ bên kia của một dòng sông hiện hữu trong giới hạn của đất trời. Nó chính là “bờ ta” nhưng lại tồn tại trong cõi mông lung mà ta cần phải soi rọi, phải hướng đến trong tiếng gọi tha thiết từ cõi lòng mình:

“Dù thế nào tôi vẫn muốn hát lên một bài ca. Bởi sự ra đi của chúng đẹp làm sao, như một cơn mơ, như một đêm vũ hội.
Con ốc sên cuối cùng đã bò qua bức tường bao quanh vườn cũ mốc. Cái chóp vỏ cuối cùng đã khuất phía bên kia”.
                                            (Chuyển động)

“Tôi phải tới những vụ gieo trồng của cánh đồng bên kia
Bên kia, những lưỡi cày đang được đất dạy dỗ
Bên kia, những nông dân quỳ sụp nghe đất đặt tên
Bên kia, những hạt giống được tắm rửa và đặt vào võng cỏ”
                                      (Điều thiêng)

Cảm hứng thi ca trong thơ Nguyễn Quang Thiều được chuyển đổi qua mỗi tập thơ cũng chính là hành trình trở về miền đất thánh của cái tôi trữ tình. Chiều sâu tâm linh trong thơ Nguyễn Quang Thiều là hành trình đi tìm vẻ đẹp của cuộc sống, là hành trình hướng tìm một đức tin đối lập với thế giới trần tục đầy mưu mô, dục vọng và tội lỗi, là hành trình hướng về nguồn với ký ức tuổi thơ sáng trong và thánh thiện...

NGUYỄN THỊ LOAN

Nguồn: NVTPHCM


Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

NHÀ THƠ ĐẶNG HUY GIANG: "TRÊN MẶT ĐẤT" VÀ "QUA CỬA"

Thơ Đặng Huy Giang xuất hiện trên thi đàn đã nhiều năm nay; song thật sự gây ấn tượng với bạn đọc phải kể đến một vài chùm thơ mà báo Văn Nghệ đăng tải trên trang thơ dự thi 1998 - 2000; đặc biệt sau đó anh cho ra mắt bạn đọc hai tập thơ một lúc: Trên mặt đất và Qua cửa.
Nhà thơ Đặng Huy Giang

Ấn tượng về một giọng thơ trẻ trung, ngay thẳng, dứt khoát. Ấn tượng về một cách diễn đạt mạch lạc với những ngẫm trải đột khởi. Ấn tượng về cách kiến trúc từng bài thơ với tiến độ nhanh, thoáng, giàu khơi gợi. Ấn tượng về một phong cách thơ đã khá định hình.

Điều thú vị là sự vắng bóng thơ văn xuôi trong cả hai tập. Trong lúc các tác giả khác cho in những bài, những câu dài dặc thì với Đặng Huy Giang, từng câu, từng ý được tung ra một cách trực diện, gọn nhẹ, mang nặng những ý tưởng anh thiết kế. Anh không ngại khẳng định lại một quan niệm xa xưa, nhiều người thường nói. Thí dụ, cái ý tưởng hạnh phúc mong manh đau khổ muôn thuở ngỡ như thiên hạ đã bàn xong rồi. Nhưng anh chủ động đặt lại: Gom bao khổ đau/ Thì thành hạnh phúc. Rõ ràng vấn đề trở nên mới mẻ hơn, hiện đại hơn.

Đặng Huy Giang có lối dụng từ ngữ mạnh bạo, sát ván, bóc ra từng vóc người, từng thân phận điển hình. Những ý tưởng liên kết chặt chẽ với nhau, tạo nên những hình khối riêng biệt, gộc gạc. Ý tưởng có lúc vụt lên khái quát cho một thế hệ, cho nhiều thế hệ: 

Những người đàn ông trẻ mãi không già
Những người đàn bà già mãi không trẻ
(Thời cổ tích) 

Những phân cực trong cuộc sống không cần rào đón, che chắn: Một bênTận gốc bị hắt hủi và bị xua đuổi/ Một bên: Tận ngọn được nuông chiều và được nâng niu... (Bờ rào). Từng cặp hai câu một xiết ngược chiều nhau, gây được ấn tượng mạnh: Đầu bạc trắng đến nỗi/ Tóc quên mình vốn đen (Đến nỗi). Ý thơ được triển khai nhiều hướng quanh trục Đến nỗi, xoắn xiết, đẩy hơi thơ đi gấp gáp, hối thúc, như những con sóng lặn khỏi mặt nước, hăm hở lao về đầu thác, để rồi bất chợt đổ ào xuống một vịnh xanh yên ả:

Nhắm mắt và lặng im
Anh yêu em đến nỗi

Anh nói với người mình yêu hay vỗ vào lòng anh đang yêu đầy ắp? 

Tôi ngồi ngắm nghía câu thơ: Rồi cũng phải về nhà ta con ạ, mà cứ mủm mỉm hình dung ra người viết nó - một ông bố thi sĩ và đầy trách nhiệm. Người bố thấy tư chất của mình, bóng dáng của mình đang lớn dần trong con mình:

Một phần tôi trong con đang lớn
Một phần tôi trong con đang đi
Một phần tôi trong con đứng thẳng

(Một phần tôi)

Một kỷ luật sống trong gia đình được thiết lập: Ăn theo con/ Ngủ theo con/ Đi đứng theo con/ ... Hát theo con/ Cười theo con/ Nghĩ theo con... và ông bố phải thốt lên láu lỉnh. Bốn tư tuổi đuổi theo bảy tuổi.

Bên cạnh những tứ thơ có phần khô khan đôi lúc ta cũng bắt gặp những suy cảm mướt mọng. Ấy là khi Mùa đông vời vợi trăng/ Người đàn ông cô độc. Ấy là khi trong không gian của miên man suy tưởng, cà phê Thạch Thảo nhỏ xuống từng giọt, hoa thiên lý chợt thơm đến khác thường, và lá vườn chợt ánh lên từng ngấn trăng. Ai biết ý nghĩ hoa như thế nào mà tâm trạng cứ bị vấn vít? Có phải vì cánh tay bị thương của lan cẩm cù/ xù xì và nâu như tâm trạng/ Ấy là khi câu thơ khoác áo ca từ bay theo nét nhạc nhân ái nhân hòa: 

Rồi mưa đã rơi đầy
Lời mưa rất dông dài
Bàn tay nắm tay nào
Người ơi!
(Người ơi)

Viết về họ nhà rùa - một giống loài cụ thể mà khai quát được một vấn đề trừu tượng, mang tính hình tượng đặc sắc. Rõ ràng chất liệu đời sống đã được thăng hoa lên thi tứ, mà cảm xúc toàn bài vẫn thật đầy đặn căng mọng. Thành công của bài thơ cũng là thành công của một phong cách độc đáo.

Qua cửa rõ ràng nặng ký hơn Trên mặt đất. Nói thế không có nghĩa Trên mặt đất không có những thành công, những đóng góp. Chùm thơ: Hỏi, Lan cẩm cù, Dây cháy chậm, Mọc và lặn, Một trăm phần trăm... là vệt thơ trúng đích. Song nhìn chung, độ nén của Trên mặt đất không cao và điều đặc biệt, không "đời" bằng Qua cửa.

TRẦN QUỐC THỰC
Nguồn: SÔNG HƯƠNG số 150/8.2001



TRẦN HÙNG THƠ VÀ NHỮNG GIẤC MƠ THƠ

“Không làm thơ”, “không nghĩ thơ là thứ công việc để phải làm hoặc có thể làm”, thế nhưng từ năm 1991 đến nay, Trần Hùng đã ấn chứng tư cách thi sỹ của mình bằng việc cho ra mắt độc giả vài thi tập: “Gọi bạn” (1991), “Mơ quê” (1998), “Vườn khuya” (2015), và “Thảm thắc” (2015). Không nhiều, nhưng cũng không ít. Đủ cho kẻ ưa lý sự phải băn khoăn: không làm thơ, vậy từng ấy tập thơ Trần Hùng làm thế nào lại có mặt trên đời?
Nhà thơ Trần Hùng

Để hóa giải mối băn khoăn này, có lẽ, cần phải nghĩ về thơ và cái sự “làm thơ” trong quan niệm cũng như trong thực hành của Trần Hùng theo cách khác. Thơ, với anh, không phải là một danh từ, tức nó không chỉ/ trỏ một loại vật thể mà người ta có thể có được bằng lao tâm sáng chế hoặc gia công tạo tác. Thơ, chính là một động từ, chỉ/ trỏ một trạng thái sống, một hoạt động sống thường trực và tự nhiên của Trần Hùng, tự nhiên như thở, như nghĩ, như cảm giác. (Tôi dùng cụm từ “Trần Hùng thơ” trong nhan đề bài viết là theo nghĩa này). Mỗi bài thơ, do vậy, không phải như một sản phẩm của nỗ lực “làm” ra, mà đơn giản chỉ như là sự định dạng hóa bằng ngôn ngữ cho một góc, một mảnh, hoặc một khoảnh khắc hay một thời đoạn mà nhà thơ đã “thơ” mà thôi. Chú ý đến điều này, ta sẽ cắt nghĩa được tại sao nhiều bài thơ của Trần Hùng lại mang cái vỏ hình thức (vỏ hình thức, tôi nhấn mạnh) của những diễn ngôn đời thường: ngắn gọn, không đều đặn về số chữ giữa các câu, không tựa vào thể vào vần, không ngại nương vào kể vào tả, không loại trừ những chi tiết lặt vặt thuộc về sinh hoạt nhân quần. Chúng tự nhiên như những gì đã thực diễn ra trong một ngày thường: “Căn phòng tập thể/ hơn mười mét vuông/ mưa đánh đáo trên giường/ ni lông che màn một/ hai đứa trẻ mừng nhà ướt/ đuổi nhau cười/ bố ngồi/ lặng im hút thuốc” (Ngày thường).

Không thể đơn giản hơn, cảnh nhà nghèo mưa dột. Nhưng không đơn nghĩa. Hình ảnh ông bố ngồi lặng im hút thuốc trong khi hai đứa trẻ đuổi nhau cười như thể mừng nhà ướt đã thực sự nói được nhiều hơn cái nghĩa mà từ điển cung cấp cho văn bản. Sự đồng hiện hai hình ảnh trong một khoảnh khắc đã vạch ra cùng lúc nỗi ái ngại, niềm thương cảm, sự cam chịu, những toan tính, và cả những nung nấu quyết tâm thay đổi hoàn cảnh của người trong cuộc. Nói theo chữ cinema, đó là nghệ thuật dựng cảnh. Và trong nghệ thuật này, Trần Hùng đã cho thấy anh còn khá nhiều thủ pháp đắc địa. Tôi sẽ lấy thêm ví dụ bằng một đoạn trong bài “Giao thừa”, bài thơ mà cố thi sỹ Dương Kiều Minh từng đánh giá rất cao: “Mẹ đứng trước bàn thờ/ rồi tới ngồi bên lửa/ để đun cho nồi nước nóng lên/ rồi lại đun cho nóng lên/ ngoài hiên/ những bông lửa trên trời đỏ rực/ mẹ chợt nhận ra/ mình còn nhiều đứa con/ chúng ra đi đã lâu mà không về/ sao lại như thế nhỉ?” (Giao thừa). Một loạt hành động của người mẹ được dựng nối tiếp nhau trong đoạn thơ này: đứng, ngồi, đun nước, (rồi lại) đun nước… đã diễn tả hết cái cảnh người già một mình lụi cụi với tâm trạng thẫn thờ như mê mụ, để cuối cùng ba chữ “chợt nhận ra” bùng vỡ một thảng thốt: những đứa con của bà đã lâu không về. Sự bùng vỡ ấy được đặt trên cái nền của “những bông lửa trên trời đỏ rực”, và đặt trong hình dung về mẹ của đứa con đang ở nơi “xa một ngàn cây số”, vào đúng thời khắc giao thừa linh thiêng. Cho nên, chủ âm của bài thơ không phải là tình mẹ, mà là nỗi con, nhớ và thương quặn thắt, và nhuốm một màu ngậm ngùi ân hận…

Trần Hùng còn nhiều nữa những bài thơ gây được xúc động về các mối quan hệ người và các loại tình cảm nhân tính phổ quát. Nhưng với người viết bài này, đó vẫn chưa là mạch chính, chưa là chủ lưu, chưa là điều đáng chú ý nhất về Trần Hùng thơ. Chiếm vị trí ấy, có lẽ phải là những bài thơ hiện diện như sự in dấu của những giấc mơ: “Hoa cải vàng bay bay trên sông/ dòng sông im mơ mơ cánh đồng/ cánh đồng thơm như tóc/ nồng nàn như tóc/ râm ran mưa mưa nước trong lưa thưa/ người đi như sương gót sương tinh khiết/ người như là cây da mồi nảy lộc/ này quần lụa chanh này áo hoa chanh/ này ru bánh xe nan hoa lách tách/ cay cay hương khói bến xuân” (Sương hương bay). Không cần tác giả phải thành thật rào trước rằng “tôi chìm vào một giấc mơ và trong mơ tôi thấy…” thì những hình ảnh xuất hiện trong bài thơ vẫn cho phép ta nghĩ đến những hình ảnh của một giấc mơ. Hệ thống từ láy được sử dụng dày đặc ở đây (bay bay, mơ mơ, mưa mưa, cay cay, nồng nàn, râm  ran, lưa thưa, lách tách) cùng sự áp đảo của những chữ thanh bằng đã tạo nên một giai điệu nhịp nhàng, êm dịu như ru, những sắc nét của cảnh cũng được mờ hóa, có xu hướng tan nhòa vào nhau để làm thành một tổng thể mơ màng, đầy quyến rũ. Có thể nói, bài “Sương hương bay” rất giàu nhạc tính này chính là một giấc mơ-thơ-mùa xuân thật đẹp của Trần Hùng. Mơ, như thế, không nhất thiết là một dạng hoạt động tinh thần chỉ diễn ra khi người ta đang ngủ. Mơ còn là cách để nhà thơ ý thức về thực tại và chiếm lĩnh thực tại cho riêng mình (việc này không liên quan gì đến giấc ngủ sinh lý).

Trong những giấc mơ thơ của Trần Hùng, trăng xuất hiện khá nhiều. Trăng không chỉ là yếu tố thuộc về khung khổ của giấc mơ, mà trăng còn được vật thể hóa, và được hóa thân thành tâm hồn của vật thể trong sự đối ứng với con người: “Dắt tay em vào rừng trăng/ rừng trăng thảm thiết/ hồn trăng thinh khiết/ người làm cây trăng” (Trong vườn khuya). Chìm vào không gian trăng mơ siêu thực ấy, như được mặc khải, thi sỹ nhận thấu những sự thật cốt lõi: “nếu em còn mơ thấy anh/ hãy cầm sợi tóc vương trên gối/ gieo xuống/ cây đêm sẽ mọc lên/ cây đêm cần giọt nước mắt yêu/ và vì thế cây đêm sẽ héo” (Trong vườn khuya). Cây đêm sẽ héo, bởi sẽ không có giọt nước mắt yêu nào giành cho nó. Đó là sự thật, thật như định mệnh của thi sỹ là phải mang cây thập giá cô đơn suốt cuộc đời. Cô đơn trong không gian, và cô đơn cả trong thời gian, luôn luôn một mình sau những tuyệt vọng xóa bỏ xa lạ: “chúng mình xa nhau – một tiếng thở dài/ chúng mình xa nhau – một đêm sâu lắm/ mơ thành hai giọt sương/ mơ thành hai viên sỏi trắng/ mơ vết thương không liền da, mơ cánh chim ngày ẩm ướt/ mơ đêm trăng không vòm cây ẩn nấp/ mơ mùa không tên” (Trong cơn đau). Giữa cái thế giới ấy, để trái tim thi sỹ có thể neo trú và tìm được cho mình sự bình yên tạm thời, chỉ có một miền: đó là ký ức về nguồn, về cái ngày xưa phiếm định, về lúc mà mọi vật mọi sự vẫn còn nguyên khối, tươi ròng. Thơ Trần Hùng, do vậy, có thể nói, là lớp lớp những giấc mơ của mất mát và kiếm tìm “ngày xưa”, “ngày ấy”, “ngày nào”: “Về đây/ những dấu chân lấm láp phù sa/ nắng hanh hao vườn chè vạt mía/ qua thác cao bão nước/ niềm trinh tĩnh vỡ òa/ ngày ấy/ ve không miên man như bây giờ/ vẫn còn khoảng trống cho tiếng gióng cửa – trâu về chuồng/ tiếng quạt muỗi của mẹ ta mỗi tối/ tiếng của những cánh dơi/ ngày ấy – lâu rồi” (Thời gian). Và: “Cánh bướm vàng bay bay/ phấn hoa cải vàng bay bay/ cá trăng thiêm thiếp/ ngó sen thiêm thiếp/ ai còn nhớ rõ/ những ngón tay đồng trinh lấm bùn từ khi nào” (Cố hương). Hoặc: “Người bốc mộ đi về phía chân trời/ còn tôi với hình hài người yêu tôi/ niềm kiêu hãnh của tôi – cái đẹp thiên thần tới đây rồi/ bạc trắng thời gian/ nhắm mắt thờ mùa thu ấy/ trong thịt da mơn mởn ngày nào” (Cơn mơ).

Trần Hùng khởi những giấc mơ thơ của mình quãng cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, đúng vào lúc thơ Việt Nam hiện đại, với làn sóng của những Trúc Thông, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Linh Khiếu, Nguyễn Việt Chiến v.v… đang bắt đầu chuyển mình, rồi tăng tốc, để xác lập một hệ hình thẩm mỹ thi ca mới. So với những tên tuổi kể trên, Trần Hùng lặng lẽ khiêm tốn hơn, ít gây ồn ào chú ý hơn. Nhưng dù vậy, vị tất Trần Hùng đã không hết mình trên con đường thơ mà anh chọn, như một con đường sống? “Chạm vào lưỡi lam/ bướm không bay nữa/ nhì nhạch giữa hoa/ nắng nhỏ màu mười giờ” (Rã cánh). Là Trần Hùng tự họa mình giữa thơ đấy chăng? Tôi tin thế.

HOÀI NAM
Nguồn: Tinh Hoa Việt



“CỤNG LY” CÙNG NGUYỄN MINH KHIÊM

Tập thơ lục bát: “Cụng Ly” của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm, NXB Hội nhà văn năm 2014 có tới 121 bài, với nhiều thi tứ, đề tài. Thể thơ lục bát truyền thống được thổi vào một hương gió lạ. Chất trữ tình cùng thế sự kết hợp nhuần nhuyễn tạo nên một không gian đa chiều, chuyển tải được bao trăn trở và day dứt về tình người, về thời cuộc. Chỉ điểm qua mấy bài thơ để lại những dấu ấn khó phai trong lòng bạn đọc ta đã thấy rất rõ những điều đó.
Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm

Chén rượu nhà thơ mời bạn đọc “Cụng ly” ăm ắp những tâm trạng và góc khuất của cuộc đời, hương rượu đưa con người trở về bản ngã:

Bây giờ ta rót cho nhau
Bao nhiêu khoảng lặng thẳm sâu cuộc đời
Được say những đoạn không lời
Được ngây ngất chỗ không người tụng ca

Cái “khoảng lặng” ấy như sự soi rọi, nhìn lại chính mình sau những toan tính, ảo tưởng, nhấm nháp những vị đắng của cuộc đời theo luật nhân quả:

Bồ hòn ta cụng với  ta
Phận cày dệt gấm thêu hoa cũng cày!

Giọt nào cho những lời xưng tụng. Giọt nào cho những toan tính trắng đêm..! như chắt ra từ máu con tim ươm những mầm hy vọng:

Bao nhiêu mảnh vỡ trong tim
Rót ra nào cụng cho mềm chồi non

Mảnh vỡ trong tim rạn nứt có hàn gắn lại được không? Chén rượu nhà thơ mời được ủ bằng bao nếm trải vui, cay đắng, xót xa của cuộc đời cùng sự chiêm nghiệm về nhân tình thế thái, khao khát một niềm yêu  bởi vậy dẫu có cạn ly càng thêm tỉnh táo để nhìn nhận lại mình sau quá khứ mê muội, làm cho con người nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống và sống cho đúng nghĩa, với gia đình, quê hương. Hình ảnh “Mềm chồi non” và từ “lại xanh”  như một chân lý và động lực sau những tháng năm dài “ngu ngơ”:

Uống cho say thuở ngu ngơ
Bao nhiêu gai nhọn đến giờ mới đau!
Ủ men năm tháng úa nhàu
Bão giông quật xác mái đầu lại xanh

Và thật xót xa nhưng cũng vô cùng nhân ái khi nhà thơ mời:

Cuộc cờ sau lúc tàn canh
Tốt, vua tất cả trở thành đồ chơi
Dấu chân nhặt dưới phận người
Mỗi thằng một mảnh… Xin mời: Cụng ly!

Cuộc cờ người, cuộc cờ đời, luật nhân quả và con người trong sự vận động đó được diễn tả sâu sắc và tinh tế biết bao. Chén rượu ấy như mở ra một không gian và thời gian của đời người, của những điều lớn lao hơn mà tác giải gửi gắm, cụng ly để chung một khát vọng hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

Tư tưởng chủ đạo của nhà thơ thể hiện trong tập khá rõ nhưng khi đọc bài “Đánh dậm hồn mình” tôi chợt giật mình vì thấy mình trong đó:

Mấy thằng đánh giậm hồn mình
Nhét đầy một giỏ lầy sình tuổi thơ
Đất bùn lấm nửa giấc mơ
Cởi tung ký ức tơ hơ ngồi cười

Có ai đi đánh dậm hồn mình bao giờ đâu, người ta đi đánh dậm dể kiếm miếng ăn hàng ngày nhưng đây là đánh dậm mong thấy được tuổi thơ đã mất mà chỉ thấy toàn “sình lầy” trong đó có mồ hôi của ông, bà, cha, mẹ… giẫy giụa, xót xa vậy mà vẫn: “Cởi tung ký ức tơ hơ ngồi cười”. Tiếng cười ngạo nghễ, sảng khoái vì nhận ra bản ngã của mình sau khi đã thấy từ bùn đen những điều tốt đẹp. Chính từ  “sình lầy” ấy vút lên những câu thơ như tiếng lòng của những con người chân chính:

Bóc trần mọi nỗi niềm mình
Lộn hết ký ức đem dành tặng nhau
Bẵng quên tóc đã trắng đầu
Bẵng quên cao thấp kính chào kính thưa
Chữ nào cũng chật ngày xưa
Vỗ đùi vỗ vế như chưa một lần
Cạn đêm còn mấy nếp nhăn
Giọt sương nào cũng đánh trần ra say.
  
Giọt sương “đánh trần” ấy như một lưỡi dao mổ xẻ qua những tầng biểu bì chai sạn va vấp của cuộc đời để thấy cốt lõi của sự vật và hiện tượng và cái “say” ấy chính là sự tỉnh thức và có mấy ai dám “bóc trần” mình để sống cho đúng nghĩa con người.
Bìa tập thơ Cụng ly của Nguyễn Minh Khiêm

Bài: “Tòng teng” lại có một thi tứ cùng những hình ảnh nghệ thuật độc đáo chuyển tải những ý tưởng sâu sắc. Cái từ “Tòng teng” gợi hình một cái đặt trên vai hay xách  trên tay thì cũng nhẹ như không nhưng trong thơ của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm lại trĩu nặng cả nhân tình thế thái:

Toòng teng một gánh trần gian
Xắn quần lội bể vượt ngàn liêu xiêu!

Ẩn dụ thật đắc dụng, cái tưởng như nhẹ như không ấy lại là muôn ngàn bể khổ của trần gian. Người đọc cũng đồng tình khi nhận ra sự sâu sắc và tinh tế của tác giả. Quy luật của cuộc sống là vậy, không bao giờ cam chịu sự đè nén, áp bức và nô dịch, dẫu có lúc:

Bao lần hoá rạ, hoá rơm
Bao lần hoá Cuội, hoá Bờm mà say!
Cả cười cái lúc trắng tay

“Trắng tay” để rồi biết nhìn nhận lại mình. Câu thơ cuối không chỉ như tuyên ngôn và nghị lực sống của tác giả, tiếng cười vang vọng như ngộ ra một chân lý và làm chủ được mình không chỉ của tác giả mà trong cả chiều dài lịch sử của dân tộc:

Khi còn lại một nắm tro
Toòng teng quảy nốt qua đò trần gian.

Nhận ra vị trí của mình trong xã hội để rồi xác định một lối sống tốt hơn trong dòng chảy lịch sử quả là không dễ, bởi con người dễ thỏa mãn với những gì có được bằng nhiều cách nhưng với nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm lại thấm những nhọc nhằn để có những mùa vàng:

Nhỏ nhoi sợi tóc trên đầu
Từ đen sang trắng, chuyển màu, vậy thôi.
Tưởng là chỉ cái hắt hơi
Tưởng là chỉ cái đánh rơi tuổi mình

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, nếu không biết trân quí từng giọt thời gian, lấy đâu có sự phấn đấu vươn lên để có những ngày hạnh phúc và lời cầu siêu trong bài: “Sợi tóc đổi màu” không chỉ cho riêng tác giả mà phải chăng cho mọi kiếp chúng sinh, dẫu có phải qua bao “sấm chớp”.

Cầu siêu cho những sần chai
Cầu siêu cho những đền đài thương đau
Trắng, đen- Sợi tóc đổi màu,
Bao nhiêu sấm chớp bắc cầu mới sang!

Trong thi tứ ấy, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm có lúc hy vọng, lang thang trong mọi mặt chân, giả của cuộc sống để rồi rút ra chân lý sống được gửi gắm qua bài: “Chiều lông ngỗng”:

Lang thang qua đủ miệng người
Đủ màu thật giả đủ lời bán buôn
Chiều cong một ngọn nắng non
Một làn gió cỗi mấy hòn cuội rêu
Rách trời một tiếng vạc kêu
Hoàng hôn thả xuống bao nhiêu cầu vồng

“Rách trời” ấy phải chăng là sự khao khát bứt phá vươn tới chân giá trị của nhà thơ:

Cắm sào ghìm phía bão lay
Bao nhiêu rễ bật phía cây đợi chờ
Xoè ra những mảnh xác xơ
Gói vào tơ nhện giăng bờ gió giông
Tìm qua con sóng xé lòng
Hết chiều lông ngỗng vẫn không thấy mình!

Người đọc đồng cảm cùng nhà thơ bởi không biết nhìn nhận lại mình, không biết buồn thì lấy đâu mà biết hướng tới tương lai. Cái buồn trong tập : “Cụng ly” của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm như tấm gương soi rọi lòng mình để sống có ích hơn vì đồng loại.

Bài thơ “Rót mình ra say”  kết của tập thơ như tiếng lòng của tác giả:

Thơ như rượu rót vào bình
Bất chợt mình lại rót mình ra say
Ngậm cho quả ớt đỡ cay
Ký ninh đỡ đắng, chiếc giày đỡ hôi

Tuyên ngôn chăng? Tiêu chí sống chăng? nhưng đấy không phải là tâm tư của rieng tác giả, nhất là khi đọc mấy câu thơ như chắt từ lửa con tim:

Cắm sào ghìm phía bão lay
Bao nhiêu rễ bật phía cây đợi chờ
Xoè ra những mảnh xác xơ
Gói vào tơ nhện giăng bờ gió giông
Tìm qua con sóng xé lòng
Hết chiều lông ngỗng vẫn không thấy mình!

Con người chân chính luôn luôn trăn trở, suy tư, hoài bão, đớn đau vì mọi người để rồi hướng thiện. Tập thơ “Cụng ly” của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm như vậy đó! Ai người tri kỷ “Cụng ly” cùng nhà thơ?

TRẦN VÂN HẠC
Nguồn: NVTPHCM




Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

NGUYỄN QUANG THÂN: SỰ XUỐNG CẤP MANG TÍNH HỦY DIỆT CỦA VĂN HÓA

Bảy mươi năm về trước, một trong những khẩu hiệu phổ biến nhất của cuộc Cách mạng tháng Tám là bài trừ mê tín dị đoan. Từ những năm tháng ấy, lý tưởng tranh đấu giành độc lập tự do chiếm lĩnh tâm trí hầu hết mọi người dân.
Nhà văn Nguyễn Quang Thân

Niềm tin vào “chủ nghĩa duy vật” thắng thế. Tâm linh, bao gồm di sản tinh thần dân gian cùng với niềm tin tôn giáo bị coi nhẹ, có lúc bị phỉ báng, đỉnh cao là có rất nhiều nơi ở miền Bắc người ta đã đập phá hoặc sử dụng đình chùa làm nhà kho. Những hủ tục của quá khứ như bói tướng, cầu hồn, cầu cơ, lập đàn cúng tế, cả những việc nhỏ vô hại như xem ngày tốt xấu cho cưới xin tang lễ cũng đều bị dẹp bỏ, tự nguyện hoặc bắt buộc. Cỗ bàn giỗ ông bà cũng đơn giản, đặc biệt bỏ hẳn việc đốt vàng mã vì không còn bày bán ngoài chợ. Giỗ, Tết, đảng viên thường có mặt nhưng không vái lạy để làm gương.

Ít nhất trên miền Bắc, lễ hội truyền thống ở các địa phương bị xếp lại tuyệt đối vì chiến tranh đã đành, nhưng chủ yếu là do người dân đã thay đổi tư duy. Sau hàng trăm năm cầu xin Trời Phật, tổ tiên phù hộ mà vẫn không thấy được đổi đời, vẫn thấy bị vua chúa, quan lại, thực dân đè đầu cưỡi cổ, người dân bỗng được “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (thơ Nguyễn Đình Thi) chỉ sau mấy ngày Cách mạng tháng Tám và có ruộng cày sau cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất đả phong kiến, với viễn cảnh độc lập tự do, “thế giới đại đồng”. Dân nhạt cầu cúng, đậm đấu tranh cho lý tưởng.

Niềm tin vào đại nghĩa của dân tộc và tương lai của đất nước lấn át tuyệt đối và đẩy lùi thế giới tâm linh. Ít nhất thì cũng có một thời gian dài chúng ta tưởng là như thế. Thế nhưng, ai cũng phải giật mình về những gì đang xảy ra trong đời sống cộng đồng những năm gần đây. Người Việt không chỉ quay ngoắt 180 độ trở về với những mê tín dị đoan đã có đã theo trước năm 1945 mà còn phát sinh nhiều “dị đoan” đến từ một thế giới phẳng nhờ công cụ Internet lan truyền.

Chưa từng bao giờ nảy sinh nhiều thầy bói, thầy tướng, thầy địa lý, phong thủy như ngày nay. Thậm chí người ta viết sách, viết báo khẳng định như đinh đóng cột những điều ngàn năm nay vẫn nằm trong thế giới “sắc sắc không không”, làm như họ đã trả lời ngon ơ mọi câu hỏi của con Sphinx trước cửa Kim tự tháp. Hàng loạt nhà “ngoại cảm” túa ra như nấm mùa xuân, không ít kẻ làm giàu nhờ biết lợi dụng tối đa nỗi đau hậu chiến. Vụ “cậu Thủy” với tín chủ “ngân hàng chính sách” ở Dak Nông và vở bi hài kịch ven sông Hồng trong cuộc tìm kiếm không thành công thi hài chị Huyền xấu số đã làm lộ mặt nhiều nhà ngoại cảm dỏm. Chưa từng thấy các quan chức đua nhau “mê tín dị đoan” như bây giờ. Họ bấm độn để xuất hành công tác, kể cả đi dạy biện chứng pháp ở trường đại học. Họ chạy thầy cúng, thầy pháp, thầy bói mong tăng phiếu bầu cử, thậm chí mang cả hương vàng bay ra Côn Đảo sì sụp khấn xin phiếu trước mộ chị Sáu, lúc nào cũng chật người vì được đồn là linh thiêng. Người con gái Đất Đỏ anh hùng chắc sửng sốt về những lời cầu xin quá đỗi lạ tai.

Phát ấn Đền Trần là ngày đánh dấu thời thịnh trị khi nhà vua quyết định trao ấn để chấm dứt vụ ăn Tết kéo dài, lệnh cho nền hành chính cả nước bắt đầu hoạt động nghiêm chỉnh phục vụ triều đình và nhân dân. Nhưng người ta đã biến sáng kiến rất văn minh này thành một cuộc tranh cướp danh lợi. Toàn dân xin ấn với hy vọng được làm quan, thăng quan thì còn ai làm dân nữa? Và những lễ hội nói là cha ông để lại nhưng không còn mấy ý nghĩa nguyên thủy mà được phát huy tối đa khía cạnh thương mại do một số nhóm lợi ích bày đặt. Họ biến một số lễ hội thành “sàn môi giới” giữa người trần và thần thánh để cầu xin và hối lộ công khai. Ông Nguyễn Sự, Bí thư Hội An, đã phải than với báo chí: “Nếu anh có đi đến các lễ hội ấy mà anh chỉ cầu riêng cho mình là chưa đủ. Anh phải cầu cho mọi người dân được mạnh khỏe, thiên hạ được thái bình, vùng đất mình sống được yên ổn và mọi người được hưởng phúc. Nói như ông bà mình ngày xưa là cầu cho mưa thuận gió hòa, cho muôn người, muôn loài. Đó mới là thái độ ứng xử có văn hóa. Cha ông ta làm lễ hội trước đây làm gì có việc đánh cướp nhau như vậy. Chẳng có thánh thần nào lại đi ban phát phước đức, tài lộc cho những người đang lao vào đánh đồng loại của mình như mấy ngày gần đây...” (báo Một thế giới). PGS.TS. Lê Quý Đức, nguyên Phó viện trưởng Viện Văn hóa Phát triển (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) thì thẳng thừng tuy mới chỉ chạm nhẹ vào cái gốc của vấn đề: “Người ta thiếu tin tưởng vào đời sống thế tục, tin tưởng vào giá trị, lý tưởng chính trị xã hội mà người ta chỉ tin vào tâm linh” (báo Một thế giới).

Đúng. Nhưng họ đang tin vào thứ “tâm linh” nào? Hối lộ cả Bụt, buôn thần bán thánh, muốn độc quyền cả Trời Phật chỉ phù hộ kiếm lợi cho riêng mình, làm hại đối thủ của mình, đua nhau xin ấn quan lộc, nhét tiền vào tay tượng, coi vị Bồ Tát thiêng liêng như người bán hàng rong, tham nhũng chán chê rồi đi lễ sám hối, giải hạn, vài ngàn lẻ một chuyện nhảm nhí khác đang xảy ra, phải chăng đó không phải là “mê tín dị đoan” mà chúng ta đã từng gạt bỏ 70 năm trước? Tin vào tâm linh không có gì để bàn, nhưng lấy cái gọi là “tâm linh” nhảm nhí, lố bịch đã từng bị quẳng vào sọt rác của lịch sử văn minh thay cho lý tưởng cao đẹp vì nhân quần xã hội chắc chắn chỉ là sự xuống cấp không phanh có tính hủy diệt của văn hóa.

NGUYỄN QUANG THÂN
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn


BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...