Thứ Tư, 21 tháng 8, 2019

NHÀ VĂN VĂN CHINH VÀ SỰ 'KHÔNG GIỐNG AI' TỪ NHỮNG THIÊN TRUYỆN NGẮN

Hơn ba mươi năm, ngót bốn mươi năm trôi qua, ông nhà văn Văn Chinh của bây giờ vẫn giữ được sự “không giống ai” mà Nguyễn Tham Thiện Kế từng nhận thấy.
Nhà văn Văn Chinh. (Ảnh: X.T.).

Trong cuốn chân dung văn học “Miền lưu dấu văn nhân” (NXB Hội Nhà văn, 2013), ở bài viết về Văn Chinh, nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế kể lại rành rẽ cái ấn tượng hơn ba mươi năm trước của mình, năm 1980, khi gặp Văn Chinh ở một trại sáng tác do Hội Văn nghệ Vĩnh Phú tổ chức: “Chiếc túi đen ka-ki thêu một bông hoa cúc tí xíu, đựng bản thảo ngoắc ghi-đông. Ba-lô quần áo cũng buộc luôn đó. Áo sơ-mi cộc tay, mỏng như xô màn, đóng không hết khuy để lộ ra mảng ngực nâu bóng, căng tràn nhựa sống. Quần vải tổng hợp màu rượu chát, từng được chạy qua bàn là phẳng căng nhưng chủ nhân ưa ngồi xổm nên nó đã kịp xoắn lại như lò xo ngang ống chân gân guốc” (“Văn Chinh và đối cực”). Chân dung một nhà văn tỉnh lẻ thời bao cấp, vừa nồng nã bụi đất quê lại vừa phơi phới cái ngang tàng Lương Sơn còn được Nguyễn Tham Thiện Kế nhấn thêm vào một nét nữa, nét khụng khiệng kiểu cụ lý ở giữa chốn đình trung: “Khi ăn, Văn Chinh chọn ngay mâm chính giữa, ngồi vị trí trang trọng, cầm đũa huơ lên, cười bên này ngóng bên kia rồi mới bàn chuyện văn chương. Toàn bàn những chuyện không giống ai. Bao giờ cũng bắt đầu một câu quen thuộc, trịnh trọng nhuốm gây sự: Xin được hỏi ông (bà)... đây là nghị quyết hay là bản báo cáo tình hình sản xuất. Nếu là văn chương thì con người đâu?”.

Hơn ba mươi năm, ngót bốn mươi năm trôi qua, ông nhà văn Văn Chinh của bây giờ vẫn giữ được sự “không giống ai” mà Nguyễn Tham Thiện Kế từng nhận thấy. Năm 2018, nhà văn Văn Chinh tròn 70 tuổi, ông cho công bố tập truyện ngắn có cái tên “Thần thức dưới rêu phong” (NXB Hội Nhà văn) gồm nhiều truyện được ông viết ở nhiều giai đoạn khác nhau trong đời cầm bút, nên về cơ bản cũng có thể xem như một tuyển tập mang tính đại diện nhất định cho diện mạo và phong cách truyện ngắn của mình. Có thể nói ngay rằng: những truyện ngắn này đã có công góp vào cái “không giống ai” cho Văn Chinh, vì bản thân chúng cũng rất... không giống ai.

Không giống ai, bởi trước hết, về cấu trúc, hầu hết các truyện ngắn của Văn Chinh đều lệch/ chệch hoặc đi hẳn ra ngoài các mô hình cấu trúc truyện ngắn phổ biến. Những khái niệm mà ta thường gặp trong phân tích truyện ngắn, như: “một lát cắt của hiện thực đời sống”, “khoảnh khắc truyện ngắn” hay “cao trào”, “thắt nút”, “mở nút”, v.v… đều khó mà áp được vào các truyện ngắn của ông. Cách kể chuyện của Văn Chinh, từ nhập đề, đến dẫn dắt câu chuyện và kết thúc, mang khá đậm hơi hướng, cung cách của truyện kể truyền miệng, kiểu “đêm hè mẹ kể con nghe”, hoặc truyện kể của những nghệ nhân hát rong thời xa xưa nơi góc đình quán chợ. Chúng “mềm” về bố cục, mềm tới mức luôn có xu hướng chảy tràn và làm loãng cốt truyện bởi những trữ tình ngoại đề hoặc những tình tiết mới, được nảy sinh theo một cách bất ngờ và khá “mất trật tự”. Đấy là nét duyên của Văn Chinh, khi ông có thể khiến độc giả được hưởng thụ cái khoái thú của “miên man đọc” trong sự chế định của “rề rà kể”. (Khi viết “Thay lời giới thiệu” cho tập truyện ngắn này, nhà văn Sương Nguyệt Minh nhận định: “Cái sự rẽ dọc rẽ ngang miên man này cũng là cái khác lạ làm nên giọng điệu Văn Chinh. Tuy nhiên, cái ranh giới giữa trữ tình ngoại đề nghệ thuật với “khoe” kiến thức triết học, sử học, văn hóa… rất mong manh, không phải lúc nào ông cũng dẫn dắt được mạch cảm xúc nghệ thuật”). Nhưng đấy cũng chính là nguyên do khiến không ít lần người đọc có cảm giác hẫng hụt khi truyện ngắn Văn Chinh đi đến cái kết của nó. Kết truyện, nhưng câu chuyện không chịu khép lại, nó cứ ở đấy, ngổn ngang những người và việc, dở dang như sự đời vốn chẳng mấy khi được chu toàn như ta muốn, xộc xệch như những thiên đường không bao giờ hoàn hảo. “Ai biết mộ liệt sĩ ở đâu”, “Mừng nỗi buồn qua”, “Chiếc đồng hồ một kim”, “Chị Mỵ làng Minh Quang”, “Con tàu tuổi thơ”, “Mùi trần”, “Ghi chép của ngài Appin về con ngựa hãn huyết”, v.v… là những truyện ngắn như thế. Thử lấy ví dụ bằng truyện “Ghi chép của ngài Appin về con ngựa hãn huyết”, giải Ba truyện ngắn 2011–2012 của báo Văn nghệ, theo tôi, được cấu thành từ một chủ ý tạo nên nhiều nghi vấn và… chưng hửng. Ngay dưới nhan đề truyện, tác giả chua một dòng lạc khoản: “Gửi tác giả Tô-tem sói”, nhưng rốt cuộc, đọc mãi nghĩ mãi tôi vẫn không dò ra được cái mối liên văn bản giữa tác phẩm của Khương Nhung với câu chuyện lưu lạc đầy ly kỳ mà con ngựa hãn huyết nòi Mông Cổ kể lại với ngài Appin? Chưa hết, cứ theo như phi lộ vào truyện thì ngài Appin sang Mông Cổ là để xem ở những nước hay gây chiến thì “hoàng gia được cái gì, thường dân được cái gì trên những cái chết của các chiến binh”, nghĩa là một lý do hết sức nghiêm trọng, và quả thật, câu chuyện mà con ngựa hãn huyết được đánh số 054 ấy kể lại cũng đầy vẻ nghiêm trọng, khi phần nào nó phơi bày được những cái nhếch nhác quái quỷ mà chiến tranh, và những sự kiện còn hơn cả chiến tranh, đã gây nên trong đời sống của đại chúng cần lao. Thế nhưng, phần kết truyện, lời đáp cho mối băn khoăn của ngài Appin lại là một cú chơi khăm với cái nghiêm trọng, khi Tổ của con 054 dặn cháu mình rằng: “hễ thấy trong người rậm rật thì hãy tạm ngừng ăn nếu trong đàn không có ả nào động dục, chớ để rậm rực lâu ngày tất sinh tính ác”. Một cách lý giải đầy trào tiếu về “tính ác” như là cái căn rễ của hành vi phát động chiến tranh. Và bởi thế, mới có câu khép lại thiên truyện mà thật ra là chẳng khép lại cái gì, của ngài Appin: “Đêm ấy… lần đầu tiên tôi biết trong việc ngủ với đàn bà là có tinh thần nhân đạo, nên sướng hơn mọi bận. Kể cả trừ đi phần tương tác là người nước ngoài, vẫn còn sướng hơn”.

Tôi muốn nói thêm về một đặc điểm nữa, khá trội bật, ở những truyện ngắn loại này của Văn Chinh: chúng “ngắn”, nhưng lại mang tham vọng ôm trọn những hiện thực dài rộng, có khi đến cả một đời người. Những cuộc trăm năm nhân thế với biết bao cơn chìm nổi ấy, đương nhiên, miền dư địa đầy vẫy gọi của nó phải là tiểu thuyết. Còn thể loại truyện ngắn, với trên dưới mười trang sách in, sẽ là một thách thức không nhỏ cho người viết trong việc bày binh bố trận, dàn dựng cảnh huống, lọc lựa chi tiết trước sau để tạo lập một cấu trúc văn bản chặt chẽ, tuy nhỏ gọn mà vẫn đủ sức dung chứa những ba động lớn của cuộc đời. Truyện ngắn của Văn Chinh, nói chung, thỏa mãn đòi hỏi ấy. Thế nhưng, nó vẫn không khỏi gợi lên cái mà ở trên, tôi tạm chỉ định bằng cụm từ “mất trật tự”. Tôi sẽ lấy truyện“Ai biết mộ liệt sĩ ở đâu”, giải Ba truyện ngắn 2005–2006 của tạp chí Văn nghệ Quân đội, làm ví dụ. Truyện ngắn này không kể một cuộc đời, mà kể đến năm cuộc đời: người mẹ không chồng mà chửa, đứa con không cha, ông bố dượng đầy “chất nghệ”, ông bố đẻ “một vị tướng có tài, chỉ mỗi tội thích ngủ với gái non”, và ông bố hờ chẳng được tích sự gì ngoài việc làm kẻ “tráng men” cho đứa khác, rồi chết. Tác giả cố tình để giọng của người kể chuyện và giọng của nhân vật nhòe lẫn với nhau, rất khó bóc tách.

Không giống ai, bởi ở tuyển tập này Văn Chinh còn có một mảng truyện ngắn mà ở lời “Tựa”, ông tự gọi là “viết lại”, học theo cách “Chuyện cũ viết lại” của văn hào Lỗ Tấn. Bộ ba truyện “Thị” – “Puellae” – “Gái”, rồi các truyện “Dưới rêu phong”, “Trái tim bốc khói”, “Cựu hoàng”, “Văn tự án liệt truyện”, v.v… là những truyện khá tiêu biểu. Viết lại của Văn Chinh không nhằm vào một văn bản cụ thể, mà là liên và xuyên văn bản. Đặc biệt, khi sự viết lại diễn ra ở khu vực của thư tịch lịch sử, như truyện ngắn “Dưới rêu phong”, Văn Chinh hiện diện như một nhà văn đang hăm hở tranh cãi với sử gia về cái gì là sự thật: sự thật của việc một vương triều sụp đổ, sự thật trong tâm hồn một bà hoàng hậu mà sau bao nhiêu thế kỷ, thành tượng thờ rồi, ánh mắt “còn thèm khát thế kia!”. Không những thế, có thể nói, “Dưới rêu phong” còn là một sự giải ảo lịch sử của Văn Chinh: những rồng bay phượng múa huyền hoặc, những sơn son thếp vàng lung linh về hai triều Đinh, Lê trong tâm thức hậu thế đã bị nhà văn gột sạch bằng cách kể chuyện thấm đẫm tinh thần trào tiếu nhưng lại tàn nhẫn như lột vỏ củ hành. Lột hết lớp này đến lớp khác, lột đến đâu cay mắt đến đấy, để rồi cuối cùng sự thật hiện ra, trơ khấc. Rằng triều đại khai mở cho nền độc lập dân tộc thật ra vô cùng hoang sơ, cái gọi là vương pháp chưa hề được thiết định chặt chẽ, những thúc đẩy bản năng của con người có khi còn mạnh hơn sức ràng buộc của đạo đức và các lợi ích chính trị xã hội. Thế nên cái việc ăn, uống và giao cấu chốn cung đình mới phóng phiếm buông tuồng đến thế, đàn bà mới thọc tay vào chính sự sâu đến thế, và sự chuyển giao quyền lực giữa hai triều đại mới nhanh gọn và nhiều thảm khốc đến thế

Vẫn là nhà văn Sương Nguyệt Minh bình luận: “Đọc văn Văn Chinh tôi thấy trong ông có hai con người. Một con người có cái cách bộc trực nồng nhiệt, có cái vẻ khệnh, vênh vênh râu, có cái bốp chát chân thành tức thì, có cái lọc lõi trải đời, có cái sự chịu đọc, có cái thất thần thảng thốt, có cái “sục sặc không yên” (chữ Vương Trí Nhàn dùng). Một con người có cái khờ dại đáng yêu, có cái yếu đuối mặc cảm cứ gồng lên”. Như thể để chứng minh bình luận ấy, nhà văn Văn Chinh cho biết, tuyển tập truyện ngắn “Thần thức dưới rêu phong” này là cú chuẩn bị cho sự ra mắt một tác phẩm mà ông ấp ủ đã lâu, cuốn sách cuối cùng của một đời cầm bút: tiểu thuyết “Nằm ngửa đấm với”. Nằm ngửa đấm với, hình ảnh ấy có thể “đọc” như một nỗ lực chân thành nhưng đầy tuyệt vọng, chính vì thế mà nó hài hước, thậm chí như trêu ngươi. Và đương nhiên, cũng là một sự không giống ai.

BẢO TRÂN
Nguồn: Tinh Hoa Việt

ĐỌC BÀI KHÁC:

·         TIA NẮNG THU BỒN…


Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

NHÀ VĂN TRẦN THỊ TRƯỜNG: NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐA ĐOAN VÀ "LẮM CHUYỆN"

Nhà văn Trần Thị Trường đam mê hội họa từ khi còn nhỏ. Thuở trước, cô thiếu nữ Hà thành xinh đẹp đã theo học lớp vẽ của họa sĩ Phạm Viết Song ở 89 phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Lớp vẽ nhỏ với hơn chục học trò của thầy Song thế vậy mà đã có danh họa Trần Văn Cẩn đến thăm và dạy một số giờ. Những bài giảng của các thầy đã gieo vào lòng cô học trò niềm hứng thú cùng ước vọng.
Nhà văn Trần Thị Trường qua nét vẽ của họa sĩ Hải Kiên.

Đón tôi ở trước cổng làng Phùng Khoang (phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) nhà văn Trần Thị Trường thông báo: "Vừa mất điện". Tôi nghĩ thầm "Nắng nóng thế này?". Nhìn vẻ mặt đần thẫn của tôi, chị động viên: "Nhưng không sao".

Câu nói "Nhưng không sao" của nhà văn Trần Thị Trường có cái lý của nó. Sau khi bước qua cánh cổng nhỏ, tôi chợt á á trong cổ. Nhà của chị nằm trong một khuôn viên rộng chừng hai trăm mét vuông lọt giữa những căn nhà cao tầng.

Đáng chú ý là khuôn viên đó được che mát bởi hai cây lộc vừng "cổ thụ". Tán lá xanh rì của cây ngọc lan và cây đại hoa vàng đủ làm dịu đi không khí oi nồng. Chỉ tay vào đôi chiếc ghế gỗ nhỏ đặt lọt thỏm trong "vòng vây" của những chậu hoa, chậu cây cảnh, tôi bảo: "Ngồi đây để đàm đạo văn chương còn thú gì hơn".

Nhà văn Trần Thị Trường cười: "Trong lúc chờ có điện, mời em vào thăm phòng vẽ của chị". Tôi lại á á trong cổ khi chợt nghĩ, chắc chị cũng như mấy nhà văn nhà thơ khác là sau những giờ phút trăn trở với chữ nghĩa thì lấy vẽ vời thư giãn?

Tôi bị "bé cái nhầm", nhà văn Trần Thị Trường đam mê hội họa từ khi còn nhỏ. Thuở trước, cô thiếu nữ Hà thành xinh đẹp đã theo học lớp vẽ của họa sĩ Phạm Viết Song ở 89 phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Lớp vẽ nhỏ với hơn chục học trò của thầy Song thế vậy mà đã có danh họa Trần Văn Cẩn đến thăm và dạy một số giờ. Những bài giảng của các thầy đã gieo vào lòng cô học trò niềm hứng thú cùng ước vọng.

Rồi Trần Thị Trường đỗ vào Trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp, khóa 1973 - 1978. "Sao lại chọn học Khoa Gốm sứ?". Nhà văn Trần Thị Trường trả lời câu thắc mắc của tôi: "Mình mơ ước vừa là họa sĩ giá vẽ vừa là người làm gốm để…. kiếm tiền".

Đơn giản vậy nhưng thực tình từ nhỏ, cô gái tên Trường đã rất mê gốm. Thời những năm bảy mươi của thế kỷ hai mươi, sản phẩm của làng gốm Bát Tràng nổi tiếng đất Kinh kỳ mới chỉ "hạn hẹp" trong đồ ấm chén da lươn đơn điệu. Chắc cô sinh viên trẻ mơ làm nên những sản phẩm gốm có chất lượng và có tính nghệ thuật cao hơn?

Ước mơ Gốm của Trường lại có "nguyên cớ" từ một thương hiệu gốm trên phố Nguyễn Du rất nổi tiếng, Gốm Chi. Cô từng hàng giờ ngồi ngắm những chiếc bình gốm có kiểu dáng khá độc đáo được làm đơn chiếc cùng nước men cũng vô cùng độc đáo của Gốm Chi.

Hình ảnh đó thực sự gây cảm xúc mạnh, nhưng rồi vào học thì cô sinh viên trẻ mới thấy nản. Làm Gốm với cô quá xa vời, bởi để có được những sản phẩm gốm như cô từng nghĩ lại khó khả thi. Đầu tiên là phải có lò nung gốm, rồi chất liệu men và cuối cùng là kinh tế gia đình nhỏ của cô đang rất khó khăn (Trần Thị Trường lấy chồng sớm).

Giấc mơ thiếu nữ bị khép lại đầy dang dở khi đứa con đầu còn bé nhỏ và quan trọng là "nhà chỉ cần một người làm hội họa là đủ". Chồng của Trần Thị Trường là họa sĩ kiêm điêu khắc gia Nguyễn Hưng Việt. Chị đã nghĩ: "Hai vợ chồng cùng là họa sĩ trong điều kiện đời sống xã hội chỉ dừng ở mức tiêu dùng, không mấy ai có tiền để "mua" nghệ thuật, thì lấy gì để sống".

Thế là Trần Thị Trường "chia tay" hội họa và gốm ngay từ khi chị chưa học xong. Năm 1981, Trần Thị Trường đi xuất khẩu lao động. Dạo những năm tám mươi, nhà nào có người đi xuất khẩu lao động sang Liên Xô và các nước Đông Âu thì coi như nhà đó "đổi đời".

Với vốn tiếng Nga học trong trường phổ thông và mấy năm đại học chỉ vào loại giao tiếp, ấy vậy mà Trần Thị Trường lại "liều" xin làm phiên dịch cho cánh thợ hàn. Lại liều hơn khi chị đâu chỉ làm phiên dịch tiếng Nga mà chị làm phiên dịch tiếng Bulgari kia. Tôi hỏi: "Chị làm thế nào khi ấy?". Nhà văn Trần Thị Trường cười: "Tiếng Bulgari cùng hệ Slavo với tiếng Nga nên "chuyển đổi" cũng không khó là bao".

Làm phiên dịch thấy vẫn chưa "đủ ăn", Trần Thị Trường xoay sang làm thêm nghề may. Những chiếc quần bò nhái hãng Levis Strau với nhãn mác y như thật đã "rầm rộ" rời xưởng để ra chợ. Hàng bán chạy và dĩ nhiên là có tiền, nhưng Trần Thị Trường lại nghĩ (người đàn bà này cầm tinh con hổ có khác nên việc gì cũng chưa bằng lòng chăng?) "Có tiền đủ sống rồi thì tiếp theo sẽ thế nào?". Cô phiên dịch viên kiêm thợ may "quần bò giả hàng hiệu" bèn "xoay" sang viết văn mới "hung hăng" chứ.

Cứ nhìn cuộc sống xung quanh, cứ nhìn những đời sống bên cạnh mà làm tư liệu, Trần Thị Trường hăm hở viết văn như lần đầu được yêu. Và chị về nước cùng những trang viết. Tiểu thuyết đầu tay "Lời cuối cho em" do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành khi vừa ra mắt năm 1990 đã gây xôn xao. "Một cây bút văn xuôi nữ tài năng đã xuất hiện" - Dạo đó đã có người thốt lên như vậy.

Và "cú hích" văn chương thuở ban đầu đã khích lệ Trần Thị Trường viết văn chuyên nghiệp. Chị trở thành phóng viên, đôi khi còn "ngứa nghề hội họa" kiêm luôn chân họa sĩ trình bày cho vài tờ báo. Năm 1994 Trần Thị Trường được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Cho tới nay, gia tài văn chương của chị là 2 cuốn tiểu thuyết dầy dặn cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng cùng 4 tập truyện ngắn khá ấn tượng.

"Vậy mà lại thấy chị hình như có dạo nghỉ văn chương để đi làm việc khác?", Tôi thật thà hỏi. Nhà văn Trần Thị Trường thú nhận: "Đúng là mình đa đoan và cũng "lắm chuyện" thật". Trước khi về hưu năm 2005, nhà văn Trần Thị Trường "xoay" sang làm tổ chức biểu diễn (kiểu như bầu sô bây giờ). Những buổi biểu diễn có bàn tay chị "dính" vào cũng thực sự gây tiếng vang trên các sân khấu ca nhạc dạo những năm chín mươi.
Những bức tranh tĩnh vật gốm của nhà văn Trần Thị Trường.

Những thành công của các chương trình ca nhạc như "Biển của một thời" hay "Tiếng hát Ngọc Tân" đã "rủ rê" chị "bén duyên" với giới âm nhạc. Người ta khi thì gặp chị đang cùng nhạc sĩ Trần Tiến hay Nguyễn Cường say sưa trao đổi, khi lại thấy chị cùng nhạc sĩ Phó Đức Phương đang bàn bạc một chuyện gì đó. Lại có bữa thấy ảnh của chị chụp với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nữa.

Tôi đùa "Phụ nữ đẹp thật lợi thế". Nhà văn Trần Thị Trường cười cười tế nhị. Tôi đùa tiếp: "Người ta đồn đại chị có tình yêu tình báo với ông nhạc sĩ này, ca sĩ kia đấy". Nhà văn Trần Thị Trường lại cười, chị nói: "Đàn bà đi với đàn ông rất dễ sinh hiểu lầm, chuyện chả có gì lạ. Nhưng chúng tôi với nhau, ai cũng coi tình bạn còn quý hơn nhiều, tình bạn có thể "phối hợp làm ăn", có thể học hỏi ở nhau nhiều thứ, chứ đâu cứ thế là thế này thế kia mới là… yêu".

Nhưng chuyện chị "gắn bó" với nhạc sĩ Phó Đức Phương thì là có thật. Đó là dạo nhà văn Trần Thị Trường về làm việc tại Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc do nhạc sĩ Phó Đức Phương làm Giám đốc.

Một công việc không chỉ mới mẻ mà cũng rất khó, cần một kiến thức Luật nhưng chị chả "ngán" chuyện khó. Người con gái quê gốc ở làng Thọ An, huyện Hoài Đức, Hà  Nội, nơi có con sông Hát Môn thơ mộng và chính ở dòng sông này Hai Bà Trưng đã trẫm mình tuẫn tiết để giữ trọn thanh danh trước trò "đánh trận bẩn" của quân Nam Hán.

Đâu như giặc Nam Hán toàn thua quân của Hai Bà nên tướng giặc là Mã Viện nghĩ ra trò cho lính nam giới tồng ngồng xung trận. Hai Bà Trưng và quân của hai bà đều là nữ nên xấu hổ mà đành lui quân. Chắc khí tiết lẫm liệt của Hai Bà Trưng có phần nào "truyền" cho, nên người đàn bà viết văn này cũng không thấy ngại bất cứ công việc gì?

Rồi chị cũng "kết thúc" công việc đó để "lui" về nhà lo chuyện gia đình. Xưởng may thời trang xuất khẩu đi Pháp, Đức, Nhật và Úc của gia đình chị khá nhiều đơn hàng. Tôi nghĩ "chắc là sự nối tiếp thời may quần bò giả ở Bulgari?".

Giờ lại thấy chị cầm cọ. Nhờ sự khích lệ của họa sĩ Hải Kiên, giảng viên Trường Đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, nhà văn Trần Thị Trường "vẽ" trở lại. Chị chọn "dòng tranh" tĩnh vật để biểu cảm tư duy và khả năng nghệ thuật hội họa của mình và cũng như một ý thức quay trở về sự đam mê gốm thời nào, các tranh tĩnh vật của chị thấy có nhiều mẫu gốm. Tôi trêu "Vẽ tĩnh vật chắc dễ?". Chị lắc đầu: "Làm sao để cái mình vẽ chinh phục được con mắt tinh tế của người thưởng thức".

Trước khi chia tay tôi hỏi thật lòng: "Thế còn văn chương?". Nhà văn Trần Thị Trường ngưng tay cọ: "Tôi tôn trọng cảm xúc và tư tưởng chứa đựng bên trong tâm hồn mình. Khi nào cảm xúc thôi thúc và đòi hỏi hình thức biểu hiện thì tôi sẽ theo sự mách bảo đó". Rồi chị nói thầm: "Tiểu thuyết thứ ba đang ở nhà in".

NGUYỄN TRỌNG VĂN
Nguồn: VNCA

ĐỌC BÀI KHÁC:

·         TIA NẮNG THU BỒN…


CÁI ĐẸP CỦA THIÊN NHIÊN VÀ PHONG CẢNH TRONG CA DAO TRUYỀN THỐNG

Tóm tắt:

Tình yêu thiên nhiên, trong đó có tình yêu cái đẹp của thiên nhiên, phong cảnh là một nét nổi bật trong tính cách người Việt. Qua ca dao chúng ta thấy đối với người dân quê, cảnh đẹp là cảnh có núi có sông, có sơn có thủy , sơn thủy hài hòa, núi sông uốn lượn mềm mại, cảnh vật luân chuyển, hoạt động, tràn đầy sinh khí và sức sống nhưng cũng đầy tình tứ, gắn bó tương thông với con người. Cảnh đẹp ấy bên cạnh hình dáng uyển chuyển và tươi tắn, hữu tình, còn là tượng trưng của ấm no, hạnh phúc. Trong thẩm mỹ của người dân quê, cái đẹp và cái có ích không loại bỏ nhau mà gắn chặt với nhau.

Rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên là một bộ phận trong kinh nghiệm thẩm mỹ của con người. Tìm hiểu những rung động ấy qua ca dao truyền thống cũng là một cách tiếp cận bản sắc văn hóa của người Việt.

Mỗi dân tộc tồn tại đều có diện mạo riêng của mình. Diện mạo ấy thường bộc lộ rõ rệt nhất trong văn hóa, tức là trong cách sinh hoạt, cách ứng xử của con người trong quan hệ với chính mình, với tự nhiên và với xã hội. “Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội, trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình” (Hà Văn Tấn) (1). Trong diện mạo ấy có những nét độc đáo, chỉ riêng dân tộc có, nhưng cũng có những nét giống hoặc gần gũi với các dân tộc khác. Nghiên cứu diện mạo hay bản sắc văn hóa dân tộc trước hết không phải đi tìm cho được nét khác biệt của dân tộc mình với dân tộc khác, vì điều này đòi hỏi sự hiểu biết rất lớn, mà chính là nhận diện cho được chân dung văn hóa của dân tộc mình, xác định cho được những nét nổi bật đã tạo nên diện mạo văn hóa của dân tộc.

Bản sắc văn hóa của dân tộc được cấu thành từ nhiều yếu tố, trong đó có thị hiếu thẩm mỹ, quan niệm về cái đẹp. Sáng tác dân gian là một căn cứ đáng tin cậy, dựa vào đó có thể nhận ra phần nào đặc điểm ý thức thẩm mỹ của người Việt. Tìm hiểu cái đẹp trong ca dao là một cách tiếp cận, một con đường nhằm đến mục tiêu nhận thức đầy đủ hơn tính cách của người Việt và xa hơn là diện mạo của văn hóa dân tộc.

Trong ca dao truyền thống, chúng ta bắt gặp rất nhiều câu có chữ “Đẹp”:

Mặn nồng một vẻ thiên nhiên
Đất ta cảnh đẹp càng nhìn càng say. (2)

*

Gia Lâm có đất Cổ Bi
Muôn đời cảnh đẹp còn ghi rành rành.

*

Tương truyền đây đất đế kinh
Bao nhiêu cảnh đẹp lừng danh trong ngoài.

*

Chẳng vui cũng thể hội Thầy
Chẳng đẹp cũng thể Hồ Tây xứ Đoài.

*

Giao Tự lắm bãi nhiều doi
Lắm con gái đẹp nhiều nơi phải lòng.

*

Nhất đẹp con gái Bù Nâu
Cứng cỏi Đanh Xá, cơ cầu Quyển Sơn.

*

Gái Dự Quần đẹp như hoa lí
Trai thanh tân có ý mà theo.

Nếu coi chữ “Đẹp” đồng nghĩa với chữ “Xinh” thì số lượng những câu ca dao dạng này còn tăng lên rất lớn:

Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

    *

Nhất quế nhị lan
Nhất xinh, nhất lịch khôn ngoan trăm chiều.

*

Gặp em thấy khéo miệng cười
Thấy xinh con mắt, thấy tươi má hồng.

Có thể nói cái Đẹp là một cảm hứng lớn trong thơ ca trữ tình dân gian người Việt. Cuộc sống lao động cực nhọc, vất vả không làm thui chột cảm xúc thẩm mỹ của người dân quê, không làm mất đi những rung động về vẻ đẹp của cảnh vật và con người bắt gặp hằng ngày. Rung động ấy có khi bột phát thành tiếng kêu vui:

Do Xuyên đẹp lắm ai ơi
Có về chỗ đó cho tôi về cùng.

Nhưng nhiều khi chỉ thể hiện trong cái nhìn trìu mến, yêu thương với cảnh vật:

Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.

*

Nhác trông phong cảnh vui thay
Báo Bồng có phải chốn này hay không.

Trong hoàn cảnh đất nước nông nghiệp lạc hậu, thiên tai đe dọa, làm không đủ ăn, đói no thất thường, đời sống lao động một nắng hai sương, giữ cho được cái nhìn yêu đời và những rung động vô tư như vậy quả thật đáng quý. Đó phải chăng cũng là một nét tính cách của người Việt? Phải chăng tình yêu cái đẹp ấy là một trong những cội nguồn của sự mến mộ văn chương của người Việt, nhất là đối với thơ ca, sự mến mộ mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thì gọi là “bệnh yêu thơ” không chữa được, còn Ngô Thì Sĩ thì gọi là bệnh “nghiện thơ” và chính điều đó đã làm cho nước ta thành “một nước thơ” như lời Ngô Thì Nhậm nói khi bàn thơ với Phan Huy Ích (3). Phải chăng tình yêu cái đẹp ấy có khi đã dẫn đến việc tạo ra nét “văn chương phù hoa” trong tính cách người Việt, như nhận xét của Đào Duy Anh?(4).

Trong ca dao, những cảm xúc về cái đẹp bắt nguồn trước hết từ bức tranh thiên nhiên và phong cảnh. Có rất nhiều câu chữ “Đẹp” đi liền với “Cảnh”:

Vọng Phu cảnh đẹp núi Nhồi
Có người chinh phụ phương trời đăm đăm.

*

Đường nào vui bằng đường Thượng Tứ
Cảnh mô đẹp bằng núi Ngự, sông Hương.

Cảnh ở đây có thể là cảnh thiên nhiên như hòn Vọng Phu, núi Nhồi, như sông Hương núi Ngự, nhưng cũng có thể là cánh đồng, làng quê, bến nước, con đò, tức là cảnh ở đó tự nhiên và con người gắn với nhau thân thiết, gần gũi:

Thanh Trì cảnh đẹp người đông
Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.

*

Đại Hoàng phong cảnh hữu tình
Của nhiều, đất rộng, gái xinh trai tài.

Cảnh hay phong cảnh đi vào ca dao phổ biến nhất trong bốn trường hợp. Thứ nhất là trong những câu mở đầu (5):

Nước sông Gianh vừa trong vừa mát
Truông Quảng Bình nhỏ cát dễ đi.
Dang tay ngứt đọt từ bi
Cho lòng bên nớ bên ni kết nguyền.

hay:

Trăng lên đỉnh núi trăng mờ
Mình yêu ta thực hay là ghét chơi ?



Thứ hai là trong những câu kể chuyện tâm tình, ở đó cảnh là môi trường gặp gỡ, là nơi tình tự, chờ đợi, nhớ nhung, nơi diễn ra câu chuyện yêu đương:

Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu

*

Đêm khuya trăng lệch trời trong
Muốn trao duyên với bạn sợ lòng mẹ cha
Thứ ba, trong những câu ca giới thiệu về quê hương xứ sở:
Ai về đến huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương…

*

Dạo xem phong cảnh trời mây
Lô, Đà, Tam Đảo cũng quay đầu về.

Thứ tư, cảnh như đối tượng của sự thưởng thức thẩm mỹ:

Gió đưa, đưa lướt chòm thông
Gió bay thông cỗi như lồng bóng ngân
Suối trong leo lẻo trên ngàn
Kìa con chim Phượng soi làm suối trong.

hay:

Ai đi qua phố khoa Trường
Dừng chân ngắm cảnh núi rừng xanh xanh
Dòng sông uốn khúc chảy quanh
Trên đường cái lớn bộ hành ngược xuôi.

Rõ ràng trong trường hợp thứ tư này, thiên nhiên và cảnh vật hiện ra không phải như những đối tượng sở chỉ (reference), ám chỉ hay đưa đẩy, mà là đối tượng của sự chiêm ngưỡng thuần túy. Điều này rất đáng chú ý, nó chứng tỏ ca dao truyền thống không chỉ chứa đựng tâm tư và kinh nghiệm sống ủa người dân quê mà còn thể hiện những rung động thẩm mỹ, tình yêu của họ với cái đẹp của thiên nhiên và cảnh vật xung quanh.

Đặc điểm cơ bản của cảm xúc thẩm mỹ là tính vô tư. Đứng trước một cảnh vật người ta có thể có nhiều cảm xúc khác nhau, nhưng chỉ khi nào cảm xúc thoát khỏi những quan tâm về ý nghĩa hay giá trị thực tế của đối tượng và chỉ tập trung vào hình dáng, màu sắc và sự chuyển động của nó thì cảm xúc đó mới được coi là cảm xúc thẩm mỹ. Trong ca dao chúng ta bắt gặp rất nhiều lần những rung động thẩm mỹ như vậy:

Chiều chiều ra đứng gốc cây
Trong chim bay liệng, trông mây ngang trời
Trông xa xa tít xa vời
Những non cùng nước, những đồi cùng cây.

*

Trời xanh dưới nước cũng xanh
Trên non gió thổi dưới gành sóng xao.

Có điều cần lưu ý là trong ca dao như đã nói ở trên, đối tượng gây nên cảm xúc thẩm mỹ không chì là thiên nhiên mà nhiều khi còn là những cảnh vật do con người tạo nên, gắn bó với đời sống của họ:

Mênh mông biển lúa xanh rờn
Tháp cao sừng sững trăng vờn bóng cau
Một vùng phong cảnh trước sau
Bức tranh thiên cổ đượm màu giang san.

*

Thanh Trì cảnh đẹp người đông
Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.

Điều này hoàn toàn dễ hiểu. Cuộc sống của người nông dân vốn gắn chặt với thiên nhiên, vì vậy vẻ đẹp của thiên nhiên cũng gắn chặt với sinh hoạt của con người. Cái đẹp của phong cảnh có khi là vẻ đẹp của núi, sông, suối khe thuần túy, nhưng nhiều khi là cánh đồng, là bến sông, là con đường người qua lại đông vui. Trong ý thức của người nông dân, cảm xúc thẩm mỹ không phải lúc nào cũng tồn tại độc lập mà thường pha trộn, xen lẫn với những cảm xúc khác, nhất là cảm xúc về cái có ích. Điều này phản ánh rất rõ trong những câu ca dao có chữ “Đẹp” liên quan đến phong cảnh:

Đường về Đông Việt loanh quanh
Đồng xanh làng đẹp như tranh họa đồ.

Vẻ đẹp của quê hương ở đây gắn với cánh đồng lúa xanh hứa hẹn một mùa gặt no ấm, tức là gắn với cảm giác về sự sung túc, với cái có ích.

Sự pha trộn giữa cảm xúc thẩm mỹ và cảm giác về cái có lợi bộc lộ đặc biệt rõ rệt trong những câu thơ về con sông ở làng quê. Một mặt người dân quê rất yêu mến vẻ đẹp của dòng sông với hình dáng uốn cong mềm mại của nó:

Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng…
Hỡi cô thắt bao lưng xanh
Có về Vạn Phúc với anh thì về
Vạn Phúc có cội bờ đề
Có sông uốn khúc có nghề quay tơ.

Trong thị hiếu thẩm mỹ của người Việt, đường cong uyển chuyển này in dấu rất đậm nét:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ…
Sông Tô một dải lượn vòng
Ấy nơi liệt nữ anh hùng giáng sinh
Sông Hồng uốn khúc chảy quanh
Giai nhân tài tử lừng danh trong ngoài.

Mặt khác, vẻ đẹp của con sông có được không chỉ do hình dáng của nó mà còn nhờ chỗ nó có giá trị “tắm mát”.

Làng Chợ đẹp lắm ai ơi
Sông sâu tắm mát trên đồi nương ngô
Vùng Bưởi có lịch, có lề
Có sông tắm mát có nghề seo can
Cô kia thắt bao lưng xanh
Có về Yên Mĩ với anh thì về
Yên Mĩ anh có nhiều tre
Có sông tắm mát có nghề trồng ngô.

Long tự hào của người dân quê về vẻ đẹp của con sông với những đường nét uốn lượn tự nhiên cùng với công dụng tắm mát của nó cũng tương tự như lời khen ngợi cô thôn nữ vừa đẹp người vừa đẹp nết:

Thấy em đẹp nói đẹp cười
Đẹp người đẹp nết, lại tươi răng vàng
Nhất đẹp là gái làng Cầu
Khéo ăn khéo mặc, khéo hầu mẹ cha.

Thẩm mỹ của người Việt xưa là vậy. Cái đẹp vừa có tính độc lập nhưng cũng vừa gắn với cái Lợi, cái Đức. Con sông uốn khúc cũng đẹp, sông tắm mát cũng đẹp, cả hai đều đẹp. Người có làn da trắng cũng đẹp, người nết na cũng đẹp, cả hai đều được khen là Đẹp. Cái đẹp vừa có cái riêng (như là phẩm chất về hình thức) vừa có cái chung (như tổng hợp của cả hình thức và ý nghĩa) – đó là quan niệm về cái đẹp rất phổ biến trong ca dao truyền thống và có lẽ cũng cả trong dân gian nói chung.

Bức tranh thiên nhiên và phong cảnh làng quê là cội nguồn của những rung động thẩm mỹ trong ca dao. Khảo sát sự lắp đi lắp lại của những cảnh vật trực tiếp khơi dậy những cảm xúc ấy, chúng ta thấy có những điểm đáng chú ý sau đây.

Vẻ đẹp của cảnh núi – sông. Trong ca dao, “nước”, “non”, “sông”, “núi” là những từ có tần số xuất hiện rất cao. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì nước ta có địa hình phức tạp, nhiều núi, nhiều sông, núi và sông gắn chặt với đời sống con người, nên núi sông đi vào ca dao nhiều cũng không có gì đặc biệt. Đáng chú ý là ở chỗ, trong nhiều câu ca dao, núi – sông thường đi liền với nhau, tạo nên một phong cảnh gợi cảm xúc thẩm mỹ:

Sông Tuần một dãy nông sờ
Hàm Rồng một dãy lờ mờ núi cao
Vui thay núi thẳm nông sâu
Thuyền đi hai dãy như sao hôm rằm

*

Đường mô vui bằng đường Thượng Tứ
Cảnh mô đẹp bằng cảnh núi Ngự, sông Hương

Có rất nhiều câu ca dao trong đó núi – sông đi với nhau tạo nên một hình ảnh thống nhất về vẻ đẹp của thiên nhiên:

Núi Truồi ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu.

*

Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa núi Tam Đảo, kìa sông Tam Kì.

Dường như trong cảm thức dân gian, núi chỉ đẹp khi có sông và sông chỉ đẹp khi đi với núi. Sông với núi kết hợp thành một đôi SƠN THỦY như một nguồn cảm hứng của tình yêu hay của lòng tự hào về quê hương:

Sáng trăng dạo cẳng đi chơi
Dạo miền sơn thủy là nơi hữu tình.

*

Nhìn xem phong cảnh làng ta
Có sơn có thủy bao la hữu tình.

Từ cặp đôi núi sông, sơn thủy này đã hình thành nên biểu tượng nước non phổ biến trong ca dao:

Non kia ai đắp mà cao
Sông kia ai bới ai đào mà sâu
Nước non là nước non trời
Ai phân được nước ai dời được non.

Nước biếc non xanh trở thành dấu hiệu của vẻ đẹp phong cảnh, thành niềm tự hào về nét đẹp của mỗi vùng quê:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

*

Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh
Đền Hùng Phú Thọ nước biếc non xanh hữu tình.

Vì sao trong ca dao cái đẹp của phong cảnh thường gắn với hình tượng “núi sông”, “sơn thủy”, “nước non”, “non xanh nước biếc”? Ở đây có thể có nhiều cách giải thích khác nhau. Trước hết chúng ta thấy trong sâu thẳm ý thức con người, những gì hài hòa thường là cơ sở tạo nên cảm giác đẹp, dễ chịu, ưa thích. Trong tư duy phương Đông, hài hòa lớn nhất là hài hòa giữa Âm và Dương. Từ cặp hài hòa Âm – Dương sẽ đẻ ra vô số cặp hài hòa khác, phổ biến nhất là những cặp hài hòa mang tính cân đối, đối xứng như kiểu: ngày – đêm, trên – dưới, trong – ngoài, lên – xuống, trưa - tối v.v... Trong ca dao có rất nhiều câu thơ thể hiện nét tư duy ấy:

Thương em như lá đài bi
Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương.

*

Một người trên núi non Bồng
Một người dưới biển dốc lòng chờ nhau.

*

Ngược xuôi lên thác xuống ghềnh
Chim kêu bên nọ, vượn trèo bên kia.

Núi - sông sở dĩ trở thành biểu tượng của vẻ đẹp phong cảnh bởi vì nó là cặp hài hòa lớn nhất, rõ rệt nhất, huống chi ngoài điều đó ra, ở nước ta núi - sông vốn gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của con người, mọi công việc làm ăn, đói no, mọi sinh hoạt vui buồn đều gắn với sông, với núi; sông núi rất gần gũi, thân thiết với con người. Tất cả điều đó làm cho sông núi dễ trở thành biểu tượng tiêu biểu của cái đẹp phong cảnh thường được nhắc đến trong ca dao.

Ngoài ra, ở đây cũng còn một lí do nữa. Sở dĩ ca dao tả phong cảnh thường nói đến sơn - thủy, nước - non có lẽ một phần vì theo quan niệm cổ xưa của phương Đông, núi sông là cốt tủy của sự sống, núi không thể thiếu sông, sông cần phải có núi, thiếu một trong hai cái đó, sự sống không tồn tại, như dương thiếu âm, âm không có dương. Hình ảnh sông núi bên nhau bởi vậy trở thành tượng trưng cho vẻ đẹp của vũ trụ, của đất trời. Để giải thích vì sao tranh sơn thủy Trung Hoa thường vẽ cảnh núi sông, danh họa đời Bắc Tống Quách Hy đã viết: “…núi có sông thì sinh động, có cây cỏ thì đẹp tươi, có khói mây thì mỹ lệ. Sông lấy núi làm khuôn mặt, lấy đình, tạ làm vui mắt, lấy người câu cá làm tinh thần. Cho nên sông có núi thì đẹp… Đó là sự bố trí của núi sông”(6). Trong ý nghĩa ấy có thể nói những câu ca dao về thiên nhiên là những bức tranh sơn thủy.

Bên cạnh “sơn thủy”,”nước non” khi nói đến phong cảnh, trong ca dao còn thường gặp hai chữ “hữu tình”:

Nhìn xem phong cảnh làng ta
Có sơn, có thủy bao la hữu tình.

*

Sáng trăng dạo cẳng đi chơi
Dạo miền sơn thủy là nơi hữu tình.

Ở đây vẻ đẹp của sơn thủy không chỉ còn là vẻ đẹp của sự hài hòa như bản chất của sự sống mà còn mang một sắc thái khác – sắc thái của tình yêu. Cảnh đẹp là cảnh phải có tình. Tình ở đây trước hết là tình yêu lứa đôi, có sơn có thủy, có mình có ta. Sơn thủy sở dĩ đẹp vì nó tượng trưng cho tình yêu, tượng trưng cho hình ảnh người con trai và người con gái cho sự sống có cặp có đôi:

Nước non, non nước khơi chừng
Ái ân đôi chữ, xin đừng xa nhau.

Chính từ cảm hứng về vẻ đẹp của nước non như biểu tượng của tình yêu trong ca dao, Tản Đà đã viết nên bài “Thề non nước” nổi tiếng:

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non…

Như chúng ta thấy cảnh đẹp là cảnh “hữu tình”. Nhưng “hữu tình” không phải chỉ là đẹp. “Hữu tình” cũng không phải chỉ gắn với tình yêu:

Ở đây sơn thủy hữu tình
Có thuyền, có bến, có mình có ta.

*

Đại Hoàng phong cảnh hữu tình
Của nhiều đất rộng, gái xinh, trai tài.

*

Kim Liên phong cảnh hữu tình
Dương cơ cũng lịch, địa hình cũng vui.

“Hữu tình” còn gắn với hạnh phúc, no ấm, với độ phì nhiêu của đất đai, với cuộc sống tấp nập và với chính sự hiện diện đẹp đẽ của con người. Rõ ràng cả ở đây thẩm mỹ của dân gian rất nhất quán: cái đẹp luôn gắn với cái có ích. Nhưng ở đây cũng cho thấy một nét tính cách nữa của người Việt, đó là coi trọng chữ tình. Cảnh quí không phải chỉ đẹp mà còn phải hữu tình, hay nói cách khác, đẹp là phải hữu tình, khen một phong cảnh “hữu tình” thì không chỉ là khen nó mỹ miều mà còn khen nó vì nó gợi ra những liên tưởng về tình yêu hoặc cuộc sống no ấm. Chữ tình này là một đặc điểm nổi bật trong tính cách người Việt, thể hiện cả trong thị hiếu thẩm mỹ, trong tình yêu, trong cuộc sống và do đó cả trong văn học, trong ca dao:

Yêu nhau căn dặn đủ điều
Càng say về nết, càng yêu vì tình

*

Sống mà chẳng có chữ tình
Thì em cũng quyết liều mình cho xong.



Tìm hiểu đặc điểm của thiên nhiên và phong cảnh như ngọn nguồn của cảm xúc về cái đẹp trong ca dao, chúng ta thấy những cảnh “hữu tình” thường là những cảnh động:

Ở đây phong cảnh vui thay
Trên chợ dưới bến lại có gốc cây hữu tình.

*

Trên trời có đám mây vàng
Bên sông nước chảy có nàng quay tơ.

Người dân quê tuy cuộc sống vất vả, làm lụng cực nhọc, hứng chịu đủ hậu quả thiên tai và bất công xã hội, nhưng nhìn chung cái nhìn của họ về cuộc sống vẫn trong sáng, thấm đượm lòng yêu thiên nhiên, yêu đời. Không có cái nhìn ấy không thể ngắm và vui với phong cảnh quê hương. Niềm vui ấy làm cho cảnh vật trở nên sống động, linh hoạt, tràn đầy sinh khí:

Trời xanh dưới nước cũng xanh
Trên non gió thổi dưới gành sóng xao.

*

Vì mây cho núi lên trời
Vì cơn gió thổi hoa cười với trăng…

*   

Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Bên bờ vải nhãn hai làng
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.

Thị hiếu thẩm mỹ dân gian bộc lộ ở đây không chỉ thể hiện cái nhìn lạc quan về cuộc sống. Trong gốc rễ sâu xa, nó gắn liền với vũ trụ quan của người dân quê, với ý niệm thô sơ về tự nhiên, xem sự sinh trưởng và vận động của vạn vật là sự sống và bản thân sự sống đã là đẹp. Đối với người dân quê, quả thực “cái đẹp là cuộc sống”. “Trên một mức độ nào đó, cây xào xạc, cành cây đu đưa, lá cây run rẩn cũng làm ta nghĩ đến cuộc sống của con người… Một phong cảnh đẹp là khi nó có hoạt khí”(7). Cái “hoạt khí” toát lên từ cảnh gió thổi, sóng xao, hoa cười, cá lội tung tăng chứng tỏ phong cảnh trong những câu ca dao trên tràn đầy sự sống và do đó theo thểm mỹ của những người dân quê, nó cũng tràn đầy cái đẹp.

Điều này cho phép chúng ta giải thích thêm một đặc điểm nữa của thiên nhiên và phong cảnh trong ca dao – đó là vì sao trong ca dao thường bắt gặp rất nhiều màu xanh:

Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.

*

Cát Chính có cây đa xanh
Có đường cái lớn chạy quanh trong làng.

*

Dừa xanh trên bến hai hang
Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu.

Không chỉ “rau xanh” (con cò lội bãi rau xanh/ Đắng cay chịu vậy than rằng cùng ai) mà còn có “sen xanh” (Xuống đầm ngắt lá sen xanh/ Thấy chim loan phượng đỗ cành xoan nâu), “nải chuối xanh” (Lọng vàng che nải chuối xanh/ Tiếc con chim phượng đậu nhành tre khô), rồi đến “đồng xanh” (Đường về Đông Việt loanh quanh/ Đồng xanh làng đẹp như tranh họa đồ), “rừng xanh” (Muốn tắm mát xuống ngọn sông Đào/ Muốn ăn sim chin thì vào rừng xanh), “núi xanh” (Chim  khôn bay lượn ngang trời/ Trong non non biếc, trông người người xa).

Đáng chú ý là không chỉ đồng xanh, rừng xanh, mà cả biển cũng xanh, trời cũng xanh, mây xanh, sông xanh, nước xanh, hồ xanh, đến chim cũng xanh:

Rừng xanh cả biển cũng xanh
Để xem cây quế ngả cành về đâu.

*

Trên trời có đám mây xanh
Có bông hoa lí, có nhành mẫu đơn.

*

Sông xanh phẳng lặng nước đầy
Tình chung hai chữ nghĩa này giao hoan.

*

Ai đi qua đò có biết
Dòng nước trong xanh biết là bao.

*

Con chim nhạn xanh xếp cánh bay chuyền
Phận em là gái thuyền quyên má đào.

Sự đậm đặc của màu xanh trong ca dao rõ ràng là sự phản ánh màu sắc của thiên nhiên nước ta, một vùng đất nhiệt đới có nhiều cây xanh, nhiều rừng, nhiều cánh đồng trồng lúa và có bờ biển dài từ Bắc đến Nam. Nhưng không phải chỉ như vậy. Cây xanh, đồng xanh, rừng xanh luôn luôn là biểu tượng của sự sinh trưởng, tốt tươi, trù phú. Màu xanh ở đây không chỉ là màu của thiên nhiên mà còn là màu của sự sống. Màu xanh trở thành tượng trưng cho vẻ đẹp của tự nhiên tràn đầy sức sống. Màu xanh cũng thể hiện cái nhìn tươi mới, yêu đời của người dân quê đối với phong cảnh thiên nhiên, thể hiện một nét đáng yêu trong thẩm mỹ dân gian. Chính cái màu xanh ấy và cùng với nó là những rung động thẩm mỹ chứa đầy tình yêu sự sống đã đi vào sáng tác của văn chương bác học làm cho câu thơ mang đậm chất thẩm mỹ dân gian:

Cỏ xanh như khói bến Xuân tươi
Lại có mưa Xuân vỗ nước trời.

                        (Nguyễn Trãi)

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

                              (Nguyễn Du)

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.

                          (Hàn Mặc Tử)

Cái đẹp thiên nhiên là nguồn cảm hứng lớn của ca dao. Nó là cái đẹp đầu tiên, cái đẹp có trước. Người có đẹp thì người cũng chỉ là một bộ phận của tự nhiên: “Người ta hoa đất”. Trong thẩm mỹ dân gian vẻ đẹp của con người và thiên nhiên hòa với nhau, tô điểm cho nhau, nhưng dường như cái đẹp của thiên nhiên vẫn cao hơn, như là thước đo, như là chuẩn mực:

Thấy em mắt phượng môi son
Mày ngài da tuyết đào non trên cành.

Điều này giải thích vì sao trong ca dao vẻ đẹp của con người thường được ví với cây, với lá, với hoa:

Em như cái búp hoa hồng
Anh giơ tay muốn bẻ về bồng nâng niu.

*

Gái Dự Quần đẹp như hoa lí
Trai thanh tân có ý mà theo.

*

Nhác trông thấy một bóng người
Răng đen nhưng nhức, miệng cười như hoa.

Vẻ đẹp của thiên nhiên tràn ngập trong ca dao, hiện lên trên phong cảnh, trên hình dáng và khuôn mặt con người. Thái độ đối với cái đẹp của thiên nhiên ấy vừa phản ánh vũ trụ quan thô sơ của người dân quê coi con người và thiên nhiên như là một, vừa nói lên tình yêu của họ đối với thiên nhiên, một tình yêu vừa có ý nghĩa mỹ học sâu sắc, vừa chứa đựng trong nó một nhãn quan về môi trường rất nhân văn và hiện đại.

Tìm hiểu cái đẹp của thiên nhiên và phong cảnh trong ca dao chính là tìm hiểu cách con người cảm nhận vẻ đẹp của thế giới xung quanh, tìm hiểu đặc điểm của những rung động thẩm mỹ đã để lại dấu vết trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, trong cách đề cao, khen ngợi những cảnh vật được ưa thích. Từ những khảo sát bước đầu trên đây, chúng ta thấy tình yêu thiên nhiên, trong đó có yêu cái đẹp của thiên nhiên, phong cảnh là một nét nổi bật trong tính cách người Việt. Đối với người dân quê, cảnh đẹp là cảnh có sơn có thủy, sông núi hài hòa, núi sông uốn lượng mềm mại, cảnh vật luân chuyển, hoạt động, tràn đầy sinh khí và sức sống (“xanh tươi”) nhưng cũng đầy tình tứ, gắn bó, tương thông với con người (“hữu tình”). Cảnh đẹp ấy bên cạnh hình dáng uyển chuyển và màu sắc tươi tắn còn là hình ảnh của ấm no, hạnh phúc. Trong thẩm mỹ của người dân quê, cái đẹp và cái có ích không loại bỏ nhau mà gắn chặt với nhau.

Nghệ thuật là nơi tập trung cao nhất quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực, nhưng cái đẹp không chỉ có trong nghệ thuật. Cái đẹp có cả trong thiên nhiên trong phong cảnh. Rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên là một bộ phận trong kinh nghiệm thẩm mỹ của con người. Tìm hiểu những rung động thẩm mỹ thể hiện qua ca dao truyền thống cũng là một cách tiếp cận bản sắc văn hóa của người Việt và tìm hiểu cái đẹp của nghệ thuật. “Mỹ học tự nhiên sẽ cho chúng ta những cơ sở cần thiết để xây dựng triết học nghệ thuật”(8).

NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 635, tháng 11/2014


Chú thích:

 (1) Hà Văn Tấn – Bản sắc văn hóa Việt cổ, trong sách: “Đến với lịch sử Văn hóa Việt Nam”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2005, trang 151.

(2) Ca dao trích dẫn được lấy từ bộ sách: Nguyễn Xuân Kính, Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), Nxb. Văn hóa Thông tin, 2001.

(3) Từ trong di sản… Nxb. Tác phẩm mới, HN, 1981, trang 32,62,76.

(4) Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Bốn phương, HN, 1951, trang 22.

(5) Xem Đinh Gia Khánh: Câu mở đầu trong ca dao,…. .

(6) Theo Lưu Cương Kỷ - Phạm Minh Hoa: Chu Dịch và Mỹ học, Nxb Văn hóa – Thông tin, HN, 2002, trang 46.

(7) N.G. Tchernyishevxki. Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với hiện thực. Nxb. Văn hóa – Nghệ thuật, HN, 1962, trang 27,28.

(8) Vladimir Soloviev: Cái đẹp trong thiên nhiên, trong sách “Siêu lý tình yêu” (Phạm Vĩnh Cư dịch), Nxb. Tri Thức, Hà Nội, tập 3, trang 9.


ĐỌC BÀI KHÁC:

·         TIA NẮNG THU BỒN…


BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...