Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2019

TRUYỆN KIỀU, PHÒNG THỬ NGHIỆM NHỮNG CÁCH ĐỌC

Lịch sử văn học, thực chất, là lịch sử của những cách đọc. Bởi thế, với tư cách là một tác phẩm văn học, Truyện Kiều không chỉ là 3254 câu lục bát do Nguyễn Du viết, mà còn bao gồm cả những gì đương thời và hậu thế viết về cái văn bản ấy.
Người đọc, bằng kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mỹ của mình, lấp đầy những khoảng trống/ trắng/ lặng, đáp trả những thách đố của văn bản, giả nhời những câu hỏi ẩn hiện của tác giả. Rồi lại có những người đọc những văn bản bậc hai ấy. Truyện Kiều, cứ như vậy, như được tiếp sức bởi hết những đợt sóng chữ này đến những đợt sóng chữ khác, nối dài, đi sâu và mở rộng cuộc sống của nó. Tác phẩm càng lớn, càng không cạn kiệt thông tin, thì càng được đọc nhiều, đọc bền, và quan trọng hơn, đọc mới.

Đối sánh kinh nghiệm với tác giả, mỗi người đọc, dường như, đều có một tác phẩm của mình và chomình. Truyện Kiều trong sự hình dung của anh và của tôi là không giống nhau. Nhưng không vì thế mà có bao nhiêu người đọc Truyện Kiều thì có bấy nhiêu cách đọc Truyện Kiều. Mỗi một cách đọc đều xuất phát từ một lý thuyết văn học và do đó, một phương pháp phê bình văn học. Tuy nhiên, chỉ có những siêu người đọc thì mới tìm ra được cách đọc mới, còn những độc giả thông thường chỉ là người đọc theo, mà đôi khi không tự biết, vì nó đã được xã hội hóa và đi vào tự động. Đến lúc ấy, để tránh nguy cơ nhàm chán, người ta lại phải đi tìm một cách đọc mới khác.

Cách đọc mới này, để thử thách tính hiệu quả của nó nhằm thuyết phục người theo, phải được đưa vào phòng thử nghiệm. Phòng thử nghiệm, đó là những tác phẩm lớn, chịu được thử thách của thời gian để trở thành cổ điển, như thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Công Trứ, Truyện Kiều… Tác phẩm lớn đã đành là không bao giờ cạn kiệt thông tin, nhưng, quan trọng hơn nó đã được những cách đọc trước khai phá, nên dễ nhận ra thành tựu của cách đọc sau qua một sự so sánh tối thiểu. Như vậy, mỗi một thử nghiệm cách đọc là một mũi tên bắn trúng hai đích: vừa khẳng định một phương pháp mới, lại vừa khám phá ra một chiều kích thẩm mỹ mới của tác phẩm. Hay nói khác, càng khám phá bao nhiêu thì càng khẳng định bấy nhiêu; hai là một không thể tách rời.

Với ý nghĩa đó, Truyện Kiều, từ khi ra đời đến nay, đã trở thành viên đá triết học, hoặc chiếc gậy điểm kim thạch của bao nhiêu cách đọc. Ở thời phê điểm trung đại chỉ có các ý kiến về Truyện Kiều nằm trong các bài luận, tựa, vịnh và tổng vịnh. Nếu người thơ viết để ký thác tâm sự, trình bày ý chí, thì người phê điểmviết chủ yếu cũng để ký thác tâm sự mình, bày tỏ sự đồng cảm với người. Thơ (bài, tập, truyện) chưa được coi như một thực - thể - chữ có thể tồn tại độc lập (tương đối, dĩ nhiên), mà chỉ là một mảnh gương phản chiếu lại phần nào chân dung tinh thần tác giả. Chỉ khi bước vào thời hiện đại có phê bình - như một bộ môn của khoa học văn học hẳn hoi, thì mới có cách đọc như một lý thuyết văn học. Đã có nhiều cách đọc Truyện Kiều, nhưng ở đây tôi chỉ nói đến một vài cách đọc tiêu biểu mang tính hệ hình và, cũng quan trọng không kém, là mang lại những khám phá nghệ thuật xuất sắc.

*

Trước hết là cách đọc/ phê bình tiểu sử học. Cách đọc này chủ yếu dựa trên quan niệm văn là người. Bởi vậy, nghiên cứu Nguyễn Du cũng là nghiên cứu Truyện Kiều, ngược lại nghiên cứu Truyện Kiều cũng là nghiên cứu Nguyễn Du. Truyền thống Đông Á xưa nay vốn là văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Ngày xưa, Mộng Liên Đường Chủ Nhân viết: “Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như khóc Thúy Kiều, việc tuy khác mà lòng thì là một”. Thời nay, René Crayssac cũng viết: “Cảnh ngộ của cô Kiều với cảnh ngộ của tiên sinh (tức Nguyễn Du - ĐLT) hình như cũng là một hội một thuyền đâu xa”. Thi nhân xưa sáng tác chủ yếu để ký thác vào đấy những nỗi lòng, cảnh ngộ của mình. Và, tất cả những điều đó, ở Nguyễn Du, được Đào Duy Anh khái quát lại thành một từ tâm sự, hẹp hơn tâm sự Nguyễn Du. Một kết tinh những trải nghiệm, dằn vặt, u uất, là động lực bên trong của sáng tạo nghệ thuật.

Năm 1943, trong công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều(1), Đào Duy Anh đã nghiên cứu kỹ về dòng họ, gia thế, thời thế, quê quán Nguyễn Du, thời điểm viết Truyện Kiều, để “dựng” nên một tiểu sử/ thân thế nhà thơ phù hợp với “lý thuyết tâm sự”. Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình khoa bảng. Cha, anh đều là quan lớn đầu triều của nhà Lê - Trịnh. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, nhà thơ sa vào cảnh “Kìa những kẻ màn loan trướng huệ/ Những tưởng mình cung quế hằng nga/ Một phen thay đổi sơn hà/ Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu” (Văn chiêu hồn). Rồi khi Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, ông theo không kịp. Ở lại chống Tây Sơn, nhưng âm mưu chống Tây Sơn cũng bất thành. Về sau, ông đành phải ra làm quan với nhà Nguyễn. Tuy được thăng tiến rất nhanh, nhưng Nguyễn Du vẫn giữ thái độ lừng khừng. Đặc biệt lúc hấp hối, chốc chốc ông lại sai người nhà sờ xem mình đã lạnh đến đâu rồi và sau cùng nói “được” và mất. Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng đến chết Nguyễn Du vẫn ôm một nỗi cô trung với nhà Lê. Tâm sự này của ông cùng một tâm sự với Thúy Kiều: yêu một người mà phải trao thân gửi phận cho người khác. Bởi thế, Nguyễn Du phóng/ sáng tác ra Truyện Kiều để trút tâm sự, cái tâm sự hoài Lê ấy, giải tỏa và thanh minh, mong rằng hậu thế ba trăm năm sau sẽ có người hiểu/ khóc mình: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.

Thế là tâm sự hoài Lê trở thành một từ - chìa khóa không chỉ giải thích được nhiều điều trong Truyện Kiềuvà các sáng tác khác của Nguyễn Du, mà còn mở sang cả văn thơ của các tác giả khác với tư cách là các di thần của nhà Lê, thậm chí lan sang cả con cháu họ, như trường hợp như Bà Huyện Thanh Quan chẳng hạn. Cách đọc này được hưởng ứng nồng nhiệt, một mặt vì nó phù hợp ở một mức độ nhất định với cách đọc truyền thống, với quan niệm trung đại về văn chương, mặt khác nó là sản phẩm của mỹ học lãng mạn, đề cao chủ thể sáng tạo, coi mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm là quan hệ nhân quả, nên biết nhân/ tác giả sẽ loại suy ra quả/ tác phẩm.

Nhưng dần dần người ta cũng thấy được, nếu tâm sự tác giả ở đây, mà tác giả chỉ là tác giả tiểu sử, thì phần nhiều chỉ giải thích được những cạnh khía chính trị - xã hội của tác phẩm, mà không khám phá được đặc thù nghệ thuật của nó. Ví như, biết bao người có tâm sự hoài Lê, nhưng sao chỉ có Nguyễn Du viết nên Truyện Kiều? Hoặc cái gì làm nên sự đặc sắc của nghệ thuật Truyện Kiều thì chìa khóa tâm sự hoài Lê không giải đáp nổi. Để trả lời câu hỏi này, người ta phải đi tìm những cách đọc khác. Trước hết cần phải mở rộng khái niệm tác giả. Tác giả mở rộng với tư cách là một nguyên nhân. Từ đây có cách đọc theo trường phái văn hóa - lịch sử của H. Taine: tác phẩm được coi như là sản phẩm của một trạng thái văn minh với ba khởi nguyên của nó (hoặc để đánh giá nó) là chủng tộc, thời điểm và môi trường. Rồi đến E. Zola, người khởi xướng trường phái tự nhiên chủ nghĩa, thì ba khởi nguyên ấy hội tụ thành một:khí chất của tác giả. Khí chất, theo ông, là cửa sổ để nhà văn nhìn ra thế giới và do đó, theo tôi, cũng là cửa sổ để người đọc nhìn vào thế giới của nhà văn.

Người đầu tiên và duy nhất mang cách đọc này thực hành ở Truyện Kiều là Trương Tửu trong tác phẩmNguyễn Du và Truyện Kiều(2) (1942). Khởi nguyên thời điểm được ông gọi là thời đại (Nguyễn Du), chủng tộc thành giòng họ, môi trường thành quê hương nội và ngoại. Nguyễn Du thuộc giòng giống nho sĩ - thư/ quan lại có tài thơ văn. Nước Nam bấy giờ có năm cây bút tài giỏi nhất, An Nam ngũ tuyệt, thì nhà Nguyễn Du đã chiếm mất ba, trong đó có cá nhân ông. Hồng lĩnh Lam giang quê ông là một cảnh tượng hùng vĩ, nơi núi rừng, đồng bằng và biển cả chỉ một cái quay đầu là thu gọn vào trong tầm mắt. Nhưng đấy cũng là nơi khắc nghiệt: đất đai cằn cỗi, gió Lào khô nóng và bão tố lũ lụt. Hơn nữa, trong lịch sử, đây lại là miền biên viễn, nơi con người luôn phải đối mặt với chiến tranh, nhưng cũng là nơi tìm đến của những kẻ thành tích bất hảo, hoặc những người yêu thích tự do. Điều này làm nên tính cách Nghệcứng cỏi, ham hiểu biết, giàu ý chí ở Nguyễn Du. Nhưng ở thi nhân còn được bổ sung một nết đất khác là Kinh Bắc quê mẹ: mềm mại, trọng tình cảm và giàu óc tưởng tượng. Tuy vậy, quê hương và giòng họ là những yếu tố tĩnh, nó chỉ được đánh thức và trở nên sống động và tác động, cả ở cạnh khía tích cực lẫn tiêu cực, bởi một yếu tố động là thời đại. Thời đại Nguyễn Du là thời đại nội chiến liên miên, Nho giáo, thứ tôn giáo độc tôn và của nhà nước, trên đà suy tàn. Và cũng vì chiến tranh nên xuất hiện hai tầng lớp mới chưa từng có trong xã hội Việt Nam bấy giờ là quan binh và thương nhân. Họ lũng loạn tầng lớp quan/ thư lại bằng cách vừa đối lập với nó vừa trở thành nó, để phục hưng trở lại Phật giáo, Đạo giáo, văn hóa dân gian (lễ hội), nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là cho ra đời tư tưởng thị dân. Đây là điều kiện cần cho sự lóe rạng của dân chủ, dù chỉ là thứ dân chủ đám đông.

Tất cả những khởi nguyên trên đã tạo ra khí chất, mà không hiểu sao Trương Tửu gọi là cá tính, của Nguyễn Du. Sự khác nhau giữa cá tính và tâm sự, theo Trương Tửu, là ở chỗ tâm sự thuộc về “cái phần sống hữu thức của con người”, còn cá tính là cái phần sống tiềm thức của người ta. Tiềm thức cũng là tư tưởng, nguyện vọng, tình cảm, ham muốn bị dồn nén xuống cõi vô thức, nhưng nó luôn tác động trở lại đời sống hữu thức ngoài sự nhận biết, sự kiểm soát của chúng ta. Cá tính Nguyễn Du là một tâm tính bất ổn “đi không yên ổn, ngồi không vững vàng”, một tình cảm thái quá, thường hay khóc mướn thương vay, mà tâm bệnh học gọi là hysterie (bệnh lo âu, ủy hoàng). Bệnh lo âu cũng dẫn Nguyễn Du đến hoang tưởng, thấy những điều mình tưởng tượng ra đều là thật. Nhưng, tâm bệnh này, từ góc độ người sáng tạo, lại trở thành lợi điểm. Nguyễn Du trở thành một nhà thơ có óc tưởng tượng phi thường. Đây là lý doTruyện Kiều trở thành một sản phẩm tuyệt vời của trí tưởng tượng, trong đó nhân vật không có thực, con ma Đạm Tiên, lại trở nên sống động, chân thực nhất. Ngoài ra, với tư cách là con cháu của một tầng lớp đang suy tàn, Nguyễn Du yêu thích sự tàn lụi, thậm chí nhìn thấy cái đẹp của sự lụi tàn. Không phải ngẫu nhiên mà trong Truyện Kiều nhiều buồn khổ, nhớ nhà, chia ly, đặc biệt là những trốn chạy của Kiều. Mà lần ra đi nào của nàng cũng vào lúc nửa đêm, có ánh trăng và tiếng gà gáy, cũng như cảnh tượng mồ mả. Những tượng trưng của chết chóc, tàn lụi, nhưng lại mang một chất thơ, một vẻ đẹp. Một vẻ đẹp của úa tàn. Như vậy, từ tâm sự đến cá tính (Nguyễn Du), nghiên cứu Truyện Kiều đã đi một bước từ nội dung xã hội sang đặc trưng nghệ thuật, từ cách đọc tiểu sử học sang cách đọc văn hóa - lịch sử, thậm chí cách đọc phân tâm học.

Việc mở rộng con người tiểu sử, hay cụ thể hơn tâm sự Nguyễn Du, sau 1945 còn đi theo một hướng khác. Người ta thừa nhận Nguyễn Du có tâm sự, nhưng không phải tâm sự hoài Lê, bởi Nguyễn Du gắn với Trịnh chứ không gắn với Lê. Còn thái độ của ông với Tây Sơn cũng dần dần thay đổi, nên mới xây dựng nhân vật Từ Hải như là ảnh xạ của Quang Trung. Và việc ông theo nhà Nguyễn là thực lòng, cái thái độ lừng khừng khi làm quan chỉ là một phép ứng xử mang tính chất tự vệ của văn hóa quan trường… Tâm sự Nguyễn Du, bởi thế, là nỗi lòng của ông trước xã hội, là những điều trông thấy của một “nhà thơ có con mắt rất hiện thực” (Trương Chính). Từ đó, cụ thể hơn, tâm sự Nguyễn Du thể hiện sự uất ức của thi nhân với giai cấp phong kiến mà vào thời đó người ta thường đồng nhất với thống trị thối nát. Và, cách hiểu tâm sự ấy giờ đây không chỉ bó hẹp ở nhân vật Thúy Kiều mà mở rộng sang tất cả các nhân vật khác, nhất là cái hiện thực xã hội được phản ánh trong tác phẩm. Đây chính là tiền đề cho cách đọc Truyện Kiều như là một phản ánh xã hội thời Nguyễn Du và, do đó, Truyện Kiều là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, hay chí ít cũng là bước chuyển từ cổ điển sang hiện thực.

Tác phẩm tiêu biểu cho cách đọc phản ánh hiện thực này là Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du(3) (1972) của Lê Đình Kỵ. Là một người say mê các phương pháp sáng tác (dù bị phê phán kịch liệt) và chịu ảnh hưởng của nguyên lý văn học phản ánh hiện thực, Lê Đình Kỵ đã chứng minh rằngTruyện Kiều đã từ chủ nghĩa cổ điển với lối viết ước lệ, phi cá biệt hóa chuyển sang chủ nghĩa hiện thực với lối viết tả thực, cá biệt hóa. Do dó, Truyện Kiều đã phản ảnh được tình hình xã hội mà Nguyễn Du sống. Từ đó, Lê Đình Kỵ cho rằng có một xã hội Truyện Kiều với đầy đủ các vấn đề của nó. Đây là điều mới mẻ mà các truyện nôm cùng thời không làm được. Nhưng điều nhà nghiên cứu chú trọng hơn là các nhân vật mang tính hiện thực xã hội như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, Bạc Hạnh, Bạc Bà,… Đây là những sở cứ để Lê Đình Kỵ kết luận về chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Và dường như ông tin rằng nếu đặt Truyện Kiều vào chủ nghĩa hiện thực thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn khi để nó nằm trong chủ nghĩa cổ điển. Chỗ này là một sai lầm chết người của nhà nghiên cứu tài ba Lê Đình Kỵ, bởi tư tưởng văn học thì có sự tiến bộ, tức giai đoạn sau có thể hơn giai đoạn trước, nhưng sáng tác văn học ở những đỉnh cao của nó thì không có hơn kém, chỉ có khác mà thôi. Truyện Kiều hay, không vì nó đã thuộc về phạm trù chủ nghĩa hiện thực, mà là cái hay tự nó của một nghệ thuật đỉnh cao.

Trên đây là những cách đọc ngoại quan, tức từ bên ngoài nhìn vào văn bản, lấy yếu tố bên ngoài, cụ thể là tác giả tiểu sử và tác giả mở rộng (văn hóa - lịch sử, hiện thực xã hội, phân tâm học tiểu sử…), để giải thích văn bản. Còn cách giải thích văn bản từ văn bản, tức cách đọc nội quan được bắt đầu bằng phân tâm học văn bản ở các công trình của Đàm Quang Thiện, Lê Tuyên. Trên kia, trong phần nói về cách đọc văn hóa - lịch sử của Trương Tửu, tôi cũng có nhắc đến cái nhìn phân tâm học của ông vào Truyện Kiều. Nhưng phân tâm học kiểu Trương Tửu thì, rút cục, vẫn xuất phát từ tác giả. Trương Tửu đã khởi từ phân tích tâm bệnh chủ thể sáng tạo Nguyễn Du để cắt nghĩa về Truyện Kiều. Phân tâm học của Trương Tửu đem vào đọc Kiều, do vậy, vẫn là một phân tâm học tiểu sử, cách đọc ngoại quan đi từ tác giả đến tác phẩm. Phản ứng lại cách đọc của Trương Tửu, và phần nào là cả Đào Duy Anh, đó là lý do để tác giả Đàm Quang Thiện thực hiện công trình Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều(4) theo cách đọc phân tâm học văn bản, cách đọc nội quan.

Tài tử điện ảnh, bác sĩ, nhà phê bình văn học Đàm Quang Thiện tiến hành công trình Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều bằng một thái độ phản ứng rất gay gắt với các quan điểm phân tâm học “sinh lý và bệnh lý” của Trương Tửu khi lý giải Truyện Kiều. Khác với Trương Tửu, và khác cả với phần lớn những nhà nghiên cứu trước đấy, chủ trương lý giải Truyện Kiều từ các căn nguyên bên ngoài tác phẩm nhưtiểu sử, hoàn cảnh xã hội, văn hóa - lịch sử, Đàm Quang Thiện cắt nghĩa Kiều bằng chính các dữ kiện mà văn bản Truyện Kiều cung cấp, từ cái nhìn chủ đạo phân tâm học. Phương pháp đọc Truyện Kiều của Đàm Quang Thiện, ngày nay, ta gọi đích xác cách đọc phân tâm học văn bản.

Ngay từ mở đầu công trình, Đàm Quang Thiện đã quả quyết đời Kiều, và toàn bộ diễn biến Truyện Kiềubị chi phối và quy định bởi ý niệm “bạc mệnh”. Công trình của ông, do vậy, là một làm sáng, cắt nghĩa xoay quanh từ khóa hạt nhân trung tâm là ý niệm “bạc mệnh”, hay khác đi, còn gọi là mặc cảm bạc mệnh (complexe du pire destin). Không quan tâm đến các dữ kiện ngoài văn bản, tác giả đưa mọi lý giải về ý niệm bạc mệnh trong Truyện Kiều từ các dữ liệu được/trong văn bản cung cấp. Kiều trước nhất, tiên thiên của nàng là một người đa cảm, do được kế thừa sinh học (gènes) từ cha (Vương ông) và mẹ (Vương bà) đều là những người trọng tình cảm. Nhưng đa cảm chưa phải yếu tố quyết định, mà nó chỉ là một yếu tố thuận lợi để phức cảm bạc mệnh triển nở về sau. Ý niệm “bạc mệnh” đến với Kiều trước nhất ở lời tiên đoán tiền định của ông thầy coi tướng: “Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa” ngay khi thuở nàng Kiều “năm hãy còn thơ”. Đàm Quang Thiện vận dụng các thuyết phân tâm học để nhấn mạnh ý nghĩa niềm tin “bạc mệnh” ấy sẽ neo đậu, và đeo bám tâm sự Kiều suốt đời như một “đá tảng ném vào lòng cuộc đời” ngăn dòng sông tâm thức nàng “anh hoa phát tiết ra ngoài”.

Ý niệm bạc mệnh ấy, đeo bám Kiều, đến mức Đàm Quang Thiện nói là “thấm nhuần vào não chất, tâm cơ”, khiến con người tài học này soạn thành “một thiên Bạc Mệnh lại càng não nhân”. Lời ca, khúc nhạc như đứt từng khúc ruột. Kiều gọi đó là thiên “Bạc mệnh” ai oán như một tiền định. Và đỉnh điểm của ý niệm bạc mệnh đến trong một biến cố định mệnh, đẩy hẳn đời Kiều vào “bạc mệnh” là lần viếng mả Đạm Tiên. Khác với mọi người, khác với hai em Vân và Quan, chỉ riêng Kiều là khóc như mưa gió thảm sầu, một cách khác lạ, khi nghe chuyện Đạm Tiên: “Anh hoa phát tiết ra ngoài/ Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa/ Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay! thác xuống làm ma không chồng!”. Kiều khóc cho người mà như khóc cho mình. Ý niệm bạc mệnh đã vận vào thẳm sâu vô thức tâm hồn Kiều. Lần chạm mặt định mệnh với Đạm Tiên, con ma bạc mệnh này, như Đàm Quang Thiện bình luận: “đưa Vương Thúy Kiều vào một quỹ đạo “bạc mệnh” chính xác hơn, cụ thể hơn, thực tế hơn, và cũng tàn nhẫn, bỉ ổi hơn”.

Truyện Kiều cứ thế, là một triển diễn phức cảm bạc mệnh của nàng Kiều. Phức cảm bạc mệnh đã ăn sâu vào giấc mơ, mà giấc mơ là thế giới của vô thức. Ý niệm bạc mệnh như đá tảng neo đậu kết cấu nên tòa vô thức đời Kiều, và Truyện Kiều. Sử dụng lý thuyết hệ tâm thần của phân tâm học, Đàm Quang Thiện bằng ngôn ngữ của ông đã chứng minh mặc cảm bạc mệnh: “dù có khuynh hướng bị đẩy lùi nhưng không bao giờ chịu nằm im trong Bản ngã. Trái lại, chúng luôn luôn tìm cách hiện ra ở Cá ngã. Chúng lợi dụng mọi trường hợp nghỉ ngơi hoặc lơ đãng của Thượng ngã, trong việc kiểm duyệt, để ra khỏi Bản ngã và hiện ra ở Cá ngã”. Đàm Quang Thiện chú thích: Bản ngã (Es) tương đương với Vô thức (Inconscient), Cá ngã (Ich) tương đương với Hữu thức (Conscient) và Thượng ngã (Uber-Ich) là Cá ngã lý tưởng, tương đương với Lương tâm [ngày nay, ta thường dịch là Siêu thức (Sur-conscient)]. Và mặc cảm bạc mệnh chìm sâu, dồn nén dưới tầng vô thức đã quy định toàn bộ cuộc đời Thúy Kiều. Kiều dù nhiều lúc cố gắng chiến đấu, vật lộn với mặc cảm bạc mệnh để mong thoát ra, nhưng như quy luật phân tâm học: “khi Hữu thức và Vô thức xung đột với nhau thì bao giờ Hữu thức cũng thua, Vô thức cũng thắng”. Vì thế, mặc cảm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều bao giờ cũng thắng thế trong những tình huống xung đột. Và mặc cảm bạc mệnh, mà các hình thức phong phú của nó sẽ hiện lên trong các khúc, đoạn đời Kiều dưới nhiều hình thức như mặc cảm đoạn trường, mặc cảm Tiền Đường... Và cái mà có nhà phê bình trước kia, siêu hình mà gọi là thuyết định mệnh trong đời Kiều, giờ đây, với Đàm Quang Thiện, ông thấy rằng không có định mệnh chi hết mà chỉ có một mặc cảm bạc mệnh chi phối và dẫn đưa toàn bộ đời Kiều. Tất cả bí mật đời Kiều nằm ở mặc cảm bạc mệnh. Và mặc cảm ấy khi từ vô thức, được hữu thức hóa qua quá trình chuyển đổi nội tâm tự thân Kiều do cơ duyên ngẫu nhiên giác ngộ đạo Phật bởi Tam Hợp Đạo Cô đã chấm dứt mặc cảm bạc mệnh, chấm dứt 15 năm lưu lạc đời Kiều. Đàm Quang Thiện như đã viết ở phần kết quyển sách, chứng minh Nguyễn Du viết Truyện Kiều, không vì gì khác như thuyết thiên mệnh Khổng giáo, thuyết nhân quả Phật giáo, tâm sự phù Lê... và càng không phải là chứng minh Kiều như một con bệnh ẩn ức tính dục. Ông viết Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều, để thấy Truyện Kiều là một phân tích tâm lý thiên tài. Truyện Kiều cho thấy sức mạnh chi phối của các mặc cảm tâm lý trong đời con người là vô cùng to lớn. Công trình của Đàm Quang Thiện dù nhiều chỗ còn cho thấy có sự khiên cưỡng trong cách đọc Truyện Kiều từ phân tâm học. Tuy nhiên, hoạt động đọc này của ông đã thay đổi một hệ hình đọc, đọc không sự vào các sự kiện tiểu sử, mà dựa vào các dữ liệu được cung cấp bởi văn bản, mở ra một cách đọc hiện đại về tác phẩm văn học, cách đọc nội quan.

Tuy nhiên, xét từ lịch sử vấn đề, cách đọc nội quan lấy văn bản làm trung tâm của hoạt động đọc xuất hiện sớm nhất thì phải kể đến cách đọc hiện tượng luận về Truyện Kiều của Lê Tuyên. Một người vừa tốt nghiệp tiến sĩ văn chương ở Pháp về dạy Viện Đại học Huế. Là người chịu ảnh hưởng trực tiếp của hiện tượng luận Hussert và Bachelard, Lê Tuyên đã ứng dụng lý thuyết này vào đọc Truyện Kiều trong công trình Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh(5). Xuất phát từ hiện tượng luận hiện sinh kết hợp với sự phân tích thi pháp học sắc sảo và tinh tế, ông đã phát hiện ra một thời gian hiện sinh tồn tại trongTruyện Kiều gồm: 1) Thời gian ngoại tại và sự chuyển vần; 2) Thời gian nội tâm và dòng tâm lý; 3) Thời gian xã hội và sự phối hợp giữa con người và vũ trụ. Cùng với thời gian, một phạm trù khác, như là một cặp đôi với thời gian, của hiện tượng học cũng được Lê Tuyên đề cập đến là tồn tại. Theo ông, tồn tại là một quá trình thu giản hay phóng chiếu ý tưởng tính (intertionnalité) của chủ thể đến ngoại giới. Quan niệm chủ đạo này được Lê Tuyên nhấn mạnh trong một công trình khác của ông: “Như nhiều lần tôi đã quan niệm, cái nhìn của chúng ta là một cái nhìn nội giới, và khi ta phóng chiếu vào hiện tượng là chủ để tìm bản thể của ta”6. Hướng cái nhìn hiện tượng luận hiện sinh vào đọc Truyện Kiều, Lê Tuyên đã phát hiện ra những đặc điểm của tư duy thời gian từ chủ thể hiện sinh trong tác phẩm vĩ đại này.

Như vậy, cách đọc hiện tượng luận của Lê Tuyên, lấy chủ thể văn bản làm ga đi và ga đến của hoạt động diễn giải, đã mở ra, lần đầu tiên trong lịch sử phê bình văn học Việt Nam nói chung và lần đầu tiên trong cách đọc Truyện Kiều nói riêng, một cách đọc mới, tiếp cận tác phẩm từ văn bản, lấy văn bản làm đối tượng trung tâm cho hoạt động diễn giải, mở ra thời kỳ hiện đại cho phê bình văn học Việt Nam. Điều mà khoảng trên dưới hai mươi năm sau, cách đọc nội quan này, lại được tiếp tục, một cách độc lập, bởi các nhà nghiên cứu Phan Ngọc, Trần Đình Sử và một vài người khác.

Năm 1985, trước đổi mới một năm, Phan Ngọc với tác phẩm Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều(7) đã đưa ra một cách đọc mới từ phong cách học. Theo Phan Ngọc, mỗi một ký hiệu ngôn ngữ có hai mặt, mặt thông báo và mặt biểu cảm. Phong cách học chính là một khoa học chỉ nghiên cứu cái mặt biểu cảm của ngôn ngữ. Cụ thể hơn, nó nghiên cứu các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy. Để lựa chọn, ít nhất phải có từ hai phương án trở lên. Vậy nhà nghiên cứu phải làm cái thao tác đối lập để tìm ra các phương án này. Đó là sự đối lập cái âm, cái từ, cái câu, cái kiến trúc ngôn từ, cái thể loại đã có ở văn bản, tức là những cái đã được tác giả lựa chọn, với cái âm, cái từ, cái câu, cái kiến trúc ngôn từ, cái thể loại có thể dùng được mà vắng mặt trong văn bản do tác giả không lựa chọn. Và để xác định được phương án mà tác giả đã lựa chọn là có giá trị biểu cảm tốt nhất, người phê bình phải dùng phương pháp thay thế: lấy một hoặc nhiều phương án bị bỏ qua lần lượt thế vào chỗ phương án được lựa chọn để xác định hiệu quả nghệ thuật. Nếu hiệu quả nghệ thuật kém hơn thì sự lựa chọn của tác giả là đúng, còn không thì cái bỏ qua trở thành cái bỏ lỡ.

Một kiểu lựa chọn có giá trị thẩm mỹ thì, theo Phan Ngọc, trước hết nó phải được chuẩn bị về mặt ngữ cảnh, tức tạo ra một môi trường sống cho nó và của nó. Đánh giá một hiện tượng phong cách học chính là nhận xét xem nó có phù hợp với ngữ cảnh hay không. Ví như từ chuộc (động từ, bỏ tiền ra lấy lại một cái gì đó) trong bài thơ Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương, sở dĩ nó có nghĩa thứ hai, tức trở thành một đồng âm phong cách học (danh từ con chão chuộc, một loại ếch nhái), vì nó đã được chuẩn bị bởi ngữ cảnh gồm có những từ cóc, (nhái) bén, nòng nọc, (chẫu) chàng. Hoặc câu “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” của Nguyễn Du đã được nhà thơ chuẩn bị ngữ cảnh cho nó thật công phu. Trước hết, câu này lấy ý từ câu “Đào hoa y cựu tiếu đông phong” của Thôi Hộ nên nhờ tính liên văn bản này mà ta hiểu ngay. Cái ngơ ngác của Kim Trọng khi trở về vườn Thúy cũng chính là cái ngơ ngác của chàng thi sĩ đời Đường cách đây trên nghìn năm. Tuy nhiên, cây đào của Nguyễn Du còn là cây đào cụ thể, cá biệt từng chứng kiến cuộc gặp đầu tiên của Kim - Kiều và chiếc thoa của Thúy Kiều đã mắc vào đấy. Bởi vậy, ông nói “Hoa đào năm ngoái” chứ không nói “Hoa đào cười với gió đông như xưa” là vì ông muốn chứng minh một sự thực: Kim Trọng ra đi đúng một năm, nay trở về. Hơn nữa, nói hoa đào năm ngoái còn cười vớigió đông năm nay là đã xóa bỏ thời gian vật lý và thay vào đó thời gian tâm lý để khẳng định sự thống nhất của sự vật với con người.

Tuy nhiên, không phải công trình nghệ thuật nào cũng có phong cách, mà chỉ có phong cách khi tác phẩm đạt được tính cấu trúc, tức sự thống nhất hữu cơ của các bộ phận trong một chỉnh thể. Bởi vậy, chỉ biết một bộ phận là có thể suy ra cái toàn thể, như lý thuyết toàn đồ đã chứng minh. Chính vì phong cách là một phạm trù chất lượng, nên trong nghệ thuật có được phong cách là một hiện tượng rất đáng quý. Và, vì thế, không phải tác giả nào cũng có phong cách, thể loại nào cũng có phong cách, và thời nào cũng có phong cách.

Sau khi đã trình bày một cách sáng rõ quan niệm của mình về phong cách và phong cách học, Phan Ngọc đi sâu vào Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Ông đã thực hiện một loạt những đối lập Truyện Kiều với tất cả những gì liên quan đến Truyện Kiều trước đó để tìm ra cái bước đổi mới của Nguyễn Du.

Trước hết, ông đối lập với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để chứng minh rằng tư tưởngtài mệnh tương đố là của riêng Nguyễn Du. Bởi, viết Truyện Kiều, Tố Như đã xóa bỏ cái chủ đề tình và khổ của Thanh Tâm Tài Nhân để thay vào đó triết lý tài mệnh tương đố. Và triết lý này, như ông đã chứng minh rất thuyết phục, không hề là một sáo ngữ mà là một vấn đề nóng bỏng của thời đại, đòi hỏi Nguyễn Du phải trả lời. Cũng đối lập với Kim Vân Kiều truyện, Phan Ngọc đã làm nổi bật phương pháp tự sự của Truyện Kiều bằng các biện pháp như gạt bỏ âm mưu, lập hồ sơ, rút gọn sự việc… Đây là những nhận xét rất đúng, tinh tế của Phan Ngọc. Có điều đây không phải là những sáng tạo hoàn toàn chủ động của Nguyễn Du như Phan Ngọc ca ngợi, mà có phần do sự quy định thể loại khi Tố Như chuyển một cốt truyện từ tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi sang một truyện thơ.

Ngoài ra, đối lập với các truyện nôm xuất hiện trước, Phan Ngọc đã đi sâu vào những cống hiến mới của Nguyễn Du như bố cục Truyện Kiều theo yêu cầu của kịch, xuất hiện ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, xuất hiện nhân vật “ngồi một mình”, phương pháp phân tích tâm lý tàn nhẫn… để từ đó đi đến kết luận Truyện Kiều là một cuốn tiểu thuyết tâm lý. Là tiểu thuyết tâm lý, nó độc nhất vô nhị, chí ít là ở Việt Nam bấy giờ, và vượt xa tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa để sánh ngang với, kể cả khi đã đi trước về thời gian, tiểu thuyết tâm lý của Stendale. Cũng từ những đối lập và nhờ những đối lập, mà Phan Ngọc đã tìm thấy những đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Du trong kiến trúc câu thơ, trong ngôn ngữ, trong ngữ pháp. Có thể nói, cách đọc phong cách học đã giúp nhà nghiên cứu phát hiện ra những điều chưa từng được nói đến ở các đại gia nghiên cứu trước đó về Truyện Kiều.

Trong Thi pháp Truyện Kiều(8), Trần Đình Sử cũng có những khám phá mới, do một cách đọc mới, cách đọc thi pháp học. Ở đây, trong bài này, tôi chỉ nói đến một phát hiện giàu ý nghĩa của tác giả Thi pháp Truyện Kiều. Đó là chủ nghĩa cảm thương. Đây cũng là một mẫu mực của cách đọc đi từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ hình thức của nội dung đến nội dung của hình thức, từ giọt nước đến biển cả. Nghiên cứu cốt truyện Truyện Kiều, một phạm trù của thi pháp học lịch sử, Trần Đình Sử rút ra mô hình cốt truyện, một khái niệm khái quát hơn, giàu ý nghĩa thao tác hơn. Ông so sánh mô hình cốt truyện củaTruyện Kiều với mô hình cốt truyện của các truyện nôm Việt Nam và truyện tài tử giai nhân Trung Hoa để đi đến kết luận Truyện Kiều có đặc điểm của cốt truyện tiểu thuyết. Rồi theo lý thuyết của Norman Frichman, người đã dựa vào ba tham số khả biến của cốt truyện là số phận, tính cách và tư tưởng để chia thành 14 loại hình tiểu thuyết: loại hành động, loại tình khổ, loại bi kịch, loại cảm thương, loại trừng phạt, loại khâm phục (đối với số phận), loại giáo dục, loại khải thị, loại cảm thụ, loại thất vọng (đối với tư tưởng), Trần Đình Sử xác định xem Truyện Kiều thuộc loại hình tiểu thuyết nào. Ông cho rằng, Truyện Kiều không thuộc loại tiểu thuyết tính cách như tiểu thuyết hiện thực phương Tây, bởi các nhân vật trong thế giới Truyện Kiều bước vào tác phẩm như thế nào thì bước ra tác phẩm vẫn có tính cách như thế. Bởi vậy, đúng hơn Truyện Kiều là một tiểu thuyết số phận gồm đủ cả ba yếu tố - loại hình: tình khổ, cảm thương, bi kịch, trong đó cảm thương là yếu tố chủ đạo.

Tình khổ là đặc điểm của tiểu thuyết tài tử giai nhân. Nguyễn Du có tiếp thu truyện tình khổ trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng nội dung tình khổ ở đây đã chen vào yếu tố cảm thương. “Đúng là một truyện tình khổ và cảm thương nhưng không phải chỉ là một số phận khổ, mà là ý thức sâu sắc về những nỗi đau khổ đó, là nỗi đau trong số phận khổ đó”. Đồng thời, Truyện Kiều cũng đậm chất bi kịch, bởi trong chuỗi bất hạnh của đời Kiều bao giờ cũng có một chút lầm lỡ nào đó của nàng. Nếu Kiều chỉ bị vùi dập thì là đáng thương, nhưng mọi cố gắng khôi phục địa vị làm người của nàng lại chỉ làm cho nàng bị vùi dập tàn nhẫn hơn thì đó là bi kịch. Ở Truyện Kiều cảm thương và bi kịch hòa quyện với nhau tạo nên một sắc thái độc đáo. Nhưng, “khi nào Kiều tỏ ra mạnh mẽ, tính toán, cương liệt thì nàng rơi vào bi kịch sâu hơn. Còn khi nào nàng tỏ ra là một con người cô đơn, yếu đuối, nhỏ nhoi, dại dột, hãi sợ thì nàng lại là đối tượng của sự cảm thương mạnh mẽ. Sự kết hợp hai loại hình làm sâu thêm cho quan niệm bi kịch và cảm hứng cảm thương của tác phẩm”. Tuy kết hợp cả ba loại hình như vậy, nhưng trong suốt Truyện Kiều, nhân vật luôn thấy mình là “chiếc lá lìa rừng”, “E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa”, nên, Trần Đình Sử kết luận, Truyện Kiều chủ yếu nghiêng về truyện thuộc loại hình cảm thương.

Lấy mô hình tiểu thuyết cảm thương của Truyện Kiều, như một khái niệm - chìa khóa, chúng ta có thể tìm hiểu tính chất của văn học cuối Lê đầu Nguyễn (ở đây, Trần Đình Sử trình bày ngược lại, ông lấy cả giai đoạn văn học thời đại Nguyễn Du này để chứng minh cho trường hợp Truyện Kiều). Chúng ta thấy ở trào lưu văn học vẫn được gọi bằng cái tên ít giá trị khái niệm hóa là nhân đạo chủ nghĩa này, cũng có ba xu hướng: hiện thực, cảm thương và lãng mạn. Và, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy được xu hướng cảm thương chủ nghĩa là chủ đạo, quy định tính chất của toàn bộ giai đoạn văn học này.

Trần Đình Sử cũng còn lấy nhiều dẫn chứng ở văn học cuối Minh, khi Nho giáo đã chuyển sang Tâm học. Từ đó, nảy sinh văn học dân chủ, giải phóng cá tính và khuynh hướng chủ nghĩa cảm thương. Điều này có thể thấy rõ trong một loạt tác phẩm như Đào hoa phiến, Trường sinh điện, Liêu trai chí dị và đặc biệt trong Hồng lâu mộng. “Dù là chủ đề tình yêu, chủ đề chính trị, chủ đề sắc không, đều hầu như không có cái gì nói rõ hơn được sự thăng hoa của trào lưu chủ nghĩa cảm thương vốn có cơ sở sâu sắc trong Hồng lâu mộng. Chính chủ nghĩa cảm thương làm cho Hồng lâu mộng tỏa ra những luồng ánh sáng khác lạ”.

Chủ nghĩa cảm thương được dịch từ Sentimentalisme trước đây vẫn gọi là chủ nghĩa tình cảm, theo Trần Đình Sử, là một trào lưu văn học có tính quốc tế. Ở châu Âu nó xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XVIII, khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, làm cho nông dân, thợ thủ công bị phá sản, quan hệ đồng tiền lạnh lùng thống trị xã hội. Chủ nghĩa tình cảm đề cao những giá trị con người phổ biến, đề cao tình cảm tự nhiên, tư tưởng dân chủ, chống lại lý tính lạnh lùng. Từ đó đau xót cho số phận con người, không kể giàu nghèo, sang hèn. Dịch từ Sentimentalisme là chủ nghĩa cảm thương, phải chăng Trần Đình Sử muốn nhấn mạnh sắc thái phương Đông, nơi chưa có chủ nghĩa tư bản và lý tính chưa phát triển thành chủ nghĩa duy lý?

Chủ nghĩa cảm thương, mà đỉnh cao là ở Truyện Kiều, rõ ràng là một nét đậm, một nhịp mạnh trong văn học Việt Nam trung đại. Và ảnh hưởng của nó còn kéo dài đến đầu thế kỷ XX qua Tương Phố, Đông Hồ, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách. Thậm chí, cả Thơ mới cũng giàu giọng điệu cảm thương. Chính chủ nghĩa cảm thương là một nhân tố quan trọng kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực. Cũng như cái cười của người Việt, tôi nghĩ, chủ nghĩa cảm thương, trong gốc rễ sâu xa của nó, bắt nguồn từ tâm thức dân tộc. Trước, từ tâm lý tiểu nông, những người có một thân phận bấp bênh trước một thiên nhiên thất thường và một bộ máy bạo quyền. Sau, từ tâm lý tộc người, một cộng đồng cư dân nhỏ phải sống sát nách một người láng giềng khổng lồ, hay gây sự, nên hay rơi vào thương thân, tủi phận. Bởi vậy, trong văn học cũng như trong đời sống hiện nay, để dấn bước vào tương lai, hòa nhập vào thế giới hiện đại, việc khắc phục chủ nghĩa cảm thương phải được chú trọng.

Còn một cách đọc Truyện Kiều khác của Phạm Công Thiện xuất phát từ Phật giáo. Nhưng, khác với Thích Nhất Hạnh và nhiều người khác nữa, Phật giáo với Phạm Công Thiện không phải là đích đến mà chỉ là ga đi và phần nào góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng của Truyện Kiều. Trọng tâm của công trìnhNguyễn Du đại thi hào dân tộc (1996) (9) vẫn là phân tích ngôn ngữ. Một nhà thơ đọc một nhà thơ thì trước hết chú ý đến ngôn ngữ tác phẩm. Song không phải ngôn ngữ như một công cụ nhằm diễn đạt tư tưởng, mà một ngôn ngữ phát sinh tư tưởng. Hay, như Heidegger, “ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể”. Con người đi, đứng, nằm, ngồi và suy tư đều có ở trong ngôn ngữ. Phạm Công Thiện đã bộc lộ quan niệm đó về ngôn ngữ, khi thi nhân phân tích chữ trong ở câu mở Truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta”. Chữ trong của câu thơ trên, đáng lẽ phải gieo vần trắc, theo luật bb tt bb, thì Nguyễn Du lại đánh vần bằng. Nhưng, chính nhờ sự phá cách này, mà chữ trong giữ được thăng bằng giữa trăm năm chỉ thời gian và cõi người ta chỉ không gian. Như vậy, “chữ trong ở đây có thể chỉ mấy chữ đi trước, mà cũng có thể chỉ mấy chữ đi sau; có thể chỉ không gian và thời gian, và cũng có thể chỉ cái gì làm không gian thành không gian, làm thời gian thành thời gian, làm thời gian thành không gian và làm không gian thành thời gian, và đồng thời nói lên đồng thời tính và giới hạn tính của thời gian nguyên ủy” (tr. 46-47). Chữ trongcó được vai trò đó, theo Phạm Công Thiện, vì ở tiếng Việt nói trong (một cái gì đó) bao giờ cũng có ý nghĩa là trong lòng (một cái gì đó). Và, với sự phân tích chữ lòng chứ không phải chữ tâm, thi nhân chuyển từ triết lý “chữ” sang triết lý “nghĩa”, từ triết học ngôn ngữ sang triết học nhân sinh, hay triết học Phật giáo.

Trước đây, tôi cứ cho rằng, Phật giáo sau Lý - Trần, khi Nho giáo lên ngôi độc tôn, bị “đuổi” về quê sống với chùa làng, nên đã chuyển từ Thiền tông sang Tịnh độ tông, cho gần gũi với tầng lớp bình dân hơn. Bởi thế, Phật giáo Nguyễn Du trong Truyện Kiều, đặc biệt trong Văn tế thập loại chúng sinh, là Phật giáo dân gian. Bi kịch cá nhân và gia đình của ông kéo ông đến với Phật, nhưng cũng chỉ đủ mức độ để ông trở thành một nhà nho phi chính thống, nhà nho tài tử. Hẳn thế, nên các nhà nghiên cứu trước đây như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, sau này như Cao Huy Đỉnh hoặc là đi tìm những chủ đề Phật học trongTruyện Kiều, tức là biến tác phẩm nghệ thuật thành tư liệu cho nghiên cứu Phật giáo, hoặc là lấy tư tưởng Phật giáo làm hệ quy chiếu cho nghiên cứu Truyện Kiều, tức là một thứ Phật giáo ở vành ngoài. Thậm chí gần đây, Thích Nhất Hạnh trong Thả một bè lau(10) còn lấy Truyện Kiều ra để làm tài liệu giảng dạy về kinh nghiệm tu tập cho chúng Phật tử. Phạm Công Thiện, ngược lại, cho thấy “tất cả tư tưởng Phật giáo đã thâm nhập vào từng chữ nghĩa của Truyện Kiều trong tinh thần “phương tiện thiện xảo” cho đại chúng bình dân mà chẳng bỏ quên tinh thần tham quảng ẩn mật thập huyền môn của Phật giáo ngay trong cách chuyển vận ngôn ngữ của nghệ thuật thơ ca và thế lực ẩn tàng của tư tưởng “siêu việt” (tr. 337). Đó là cách tiếp cận, mới và sâu, một tác phẩm nghệ thuật của ông.

Để cắt nghĩa thành tựu nghệ thuật của Truyện Kiều và địa vị đại thi hào dân tộc của Nguyễn Du, Phạm Công Thiện cho rằng Nguyễn Du không chỉ là một nhà Phật học, hay một học giả Thiền tông chỉ biết thuần về phương diện kiến thức, mà chính là một hành giả Thiền tông, tức người đã trải qua một quá trình tu tập có thành tựu. Như vậy, Nguyễn Du không chỉ là một thi sĩ - triết gia như Nguyễn Gia Thiều, Tagore, Holderlin…, mà chính là một thi sĩ - thiền sư, dù một thiền sư - cư sĩ. Trong bài thơ “Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch đài” nhân chuyến đi sứ Trung Quốc, Nguyễn Du đã nói đến quá trình tu tập và đốn ngộ của mình:

Ngã độc kim cương thiên biến linh,
Kì trung áo chỉ đa bất minh.
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,
Chung tri vô tự thị chân kinh.

(Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến
Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều.
Cho đến dưới đài đá phân kinh,
Cuối cùng “vô tự” biết là chân kinh.)

Bỏ ra hàng nghìn lần để ngồi đọc kinh Kim Cương thì không phải là việc làm của nhà nghiên cứu, mà của người hành trì Thiền tông, người có trình độ căn cơ vượt lên trên hệ thống nhân quả, người nắm bắt được thực tướng của các pháp qua kiến thức nhờ vào định thức Duyên khởi, người biết vượt qua ngôn ngữ (công cụ) để thấy kinh không chữ mới là chân kinh. Hơn nữa, trong bài thơ đề động Nhị Thanh ở Lạng Sơn, Nguyễn Du còn viết:

Mãn cảnh giai không hà hữu tướng
Thử tâm thường định bất ly thiền
(Mọi cảnh đều không sao có tướng
Tâm này thường Định chẳng lìa Thiền)

Tuy nhiên, Nguyễn Du không hoàn toàn là một thiền sư “đạo sĩ”, bởi nếu là một người toàn thành như vậy thì ông không thể sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật theo nghĩa thông thường. Người nghệ sĩ thuần túy thì không cần sáng tác. Còn một Thiền sư - “đạo sĩ” như Nguyễn Du thì luôn luôn trở về với cuộc đời để cứu giúp kẻ lâm nạn bởi vọng tưởng bằng những Truyện Kiều, Văn tế thập đại chúng sinh, thơ chữ Hán, mà không hề biến tác phẩm nghệ thuật thành công cụ truyền giáo. Chính sự cân bằng, đúng hơn sự là một, của/ giữa nhà thơ và thiền giả đã tạo ra một tác phẩm mà trong đó triết học Phật giáo vừa ở bình diện tổng thể vừa nằm trong từng tế bào tác phẩm là từ ngữ. Nhà phê bình, do đó, có thể chuyển từ phân tích văn bản sang khoái lạc văn bản, phạm trù thưởng ngoạn.

*

Cuối cùng, đọc những cách đọc cũng là một cách đọc. Một mặt, cách đọc này cho người ta thấy được một lịch sử tiếp nhận thi phẩm. Mỗi một cách đọc lại lấn biên, thậm chí mở ra một không gian mới. Truyện Kiều, vì thế, là một đa thế giới, những thi giới khi thì tồn tại song song, khi thì lồng ghép, xoắn luyến vào nhau. Mặt khác, đọc những cách đọc còn cho thấy một tiến trình nhận thức Truyện Kiều nói riêng và văn học nói chung. Đây chính là lịch sử của phê bình văn học, đúng hơn lịch sử tư tưởng phê bình văn học, nhìn từ lý thuyết hệ hình.

Trước hết, có thể thấy cách đọc Truyện Kiều của Đào Duy Anh, của Trương Tửu, của Lê Đình Kỵ đều xuất phát từ tác giả tiểu sử hoặc tác giả mở rộng. Đây là phương pháp phê bình ngoại quan, lấy tác giả để giải thích tác phẩm theo nguyên tắc ngoại suy nhân quả. Tôi gọi đó là lối tiếp cận tác phẩm từ tác giả. Lối tiếp cận này so với phê điểm trung đại và phê bình ấn tượng thì nó đã mang tính khoa học, tìm ra những duyên cớ sáng tác và động cơ sáng tạo, đồng thời lý giải được một số những đặc sắc nghệ thuật, như trong trường hợp các sự kiện tiểu sử được Đào Duy Anh và Trương Tửu khái quát hóa lên thành các từ - chìa khóa như tâm sự Nguyễn Du hay cá tính Nguyễn Du. Tuy nhiên, thời đại Nguyễn Du cũng đã lùi xa và bản thân ông cũng ít được ghi chép, nên người ta không biết được nhiều về tác giả Truyện Kiều. Hơn nữa, kể cả khi đã biết chắc chắn một sự kiện nào đó thì việc lý giải nó ở mỗi người cũng mỗi khác, như các sự kiện: thái độ của Nguyễn Du với nhà Tây Sơn, lý do ông ra làm quan với nhà Nguyễn… Nhưng có lẽ, điều đáng nói hơn cả, lối tiếp cận tiểu sử học nhiều khi do quá chú trọng đến nhân thân tác giả, hoặc những hoàn cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội tác động đến tác giả, đã tạo ra sự đảo lộn mục đích - phương tiện: đáng lẽ nghiên cứu tác phẩm thì hóa ra thành nghiên cứu tác giả. Tác phẩm chỉ còn là tài liệu để làm sang và làm sáng tác giả mà thôi. Hoặc trong trường hợp không đến nỗi tệ như vậy, thì lối tiếp cận từ tác giả dễ khiến nhà nghiên cứu chỉ chăm chăm đi tìm nghĩa chủ ý mà tác giả đan cài vào tác phẩm. Nhưng tác phẩm lại không chỉ có nghĩa chủ ý mà còn có nghĩa kiến tạo, tức là nghĩa do văn bản tạo ra. Bởi lẽ, thứ nhất văn bản là một hệ thống ngôn ngữ/ ký hiệu có tính tự trị, tự phát sinh ra tư tưởng;thứ hai tác phẩm không phải chỉ được sáng tác bằng hữu thức, mà chủ yếu còn bằng vô thức của nhà văn, nên tác phẩm bao giờ cũng dài rộng hơn nhà văn, khiến anh ta cũng không biết hết tác phẩm của mình. Đây chính là chỗ cần sự có mặt của những cách đọc mới, những cách đọc từ lối tiếp cận tác phẩm từ văn bản. Tôi gọi đấy là phương pháp phê bình nội quan dựa trên sự phân tích văn bản. Như cách đọcTruyện Kiều từ hiện tượng luận hiện sinh của Lê Tuyên, phân tâm học văn bản của Đàm Quang Thiện, phong cách học của Phan Ngọc, thi pháp học của Trần Đình Sử…

Từ lối tiếp cận tác phẩm từ tác giả đến lối tiếp cận tác phẩm từ văn bản là sự thay đổi hệ hình những cách đọc: từ tiền hiện đại sang hiện đại. Đây là một sự thay đổi lớn, sự thay đổi ở tất cả những ý niệm ngôn ngữ, nghĩa và ý nghĩa… Ví như, từ đây nó quan niệm rằng mấy ngàn câu thơ Truyện Kiều do Nguyễn Du viết ra chưa phải là tác phẩm mà mới chỉ là văn bản. Truyện Kiều như là một tác phẩm chỉ tồn tại khi có người đọc văn bản ấy, tức tác phẩm = văn bản + sự đọc. Từ đây hình thành lối tiếp cận thứ ba,tiếp cận tác phẩm từ người đọc, hoặc các phương pháp phê bình nội - ngoại quan, với những cách đọc mỹ học tiếp nhận, thông diễn học, nữ quyền luận, hậu thực dân/ thuộc địa… Sự chuyển đổi từ lối tiếp cận thứ hai sang lối tiếp cận thứ ba ở Việt Nam còn đang biến diễn, nên chưa có nhiều thành tựu. Riêng ởTruyện Kiều thì người ta có thể thấy đậm nhạt cách đọc hiện tượng học thông diễn từ cái nhìn Phật học của Phạm Công Thiện.

Như vậy, qua việc đọc những cách đọc Truyện Kiều, hay lấy Truyện Kiều làm phòng thử nghiệm những cách đọc, bạn đọc không chỉ thấy lịch sử phát triển của tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, mà còn là lịch sử thám mã những không gian nghệ thuật tác phẩm. Tức một lịch sử văn học thực chất.

(Bài viết này được sự trợ giúp của Quỹ khoa học Công nghệ Quốc gia Nafosted)

Tháng 6.2014
ĐỖ LAI THÚY
Nguồn: SH308/10-14


-----------------------------
1. Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Quan hải tùng thư xb, Huế, 1943.
2. Trương Tửu, Nguyễn Du và Truyện Kiều, Nxb. Hàn Thuyên, H., 1942.
3. Lê Đình Kỵ, Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb. Khoa học Xã hội, H.,1972.
4. Đàm Quang Thiện, Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều, Nam Chi Tùng Thư xb, 1965, Sài Gòn.
5. Lê Tuyên, Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh, T/c Đại học, số 9/1959.
6. Lê Tuyên, Thể tánh của thi ca, Seacapt, Hoa Kỳ, 2000.
7. Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1985.
8. Trần Đình Sử, Thi pháp Truyện Kiều. Nxb. Giáo dục, 2002.
9. Phạm Công Thiện, Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, Viện Triết lý Việt Nam và Triết học Thế giới xuất bản, California, USA, 1996.
10. Thích Nhất Hạnh, Thả một bè lau, Nxb. Tôn giáo, 2008.  

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2019

NHỚ PHAN VŨ - NGHỆ SĨ CỦA NHÂN DÂN

Phan Vũ không chỉ là nhà viết kịch, viết truyện, làm thơ, mà còn là họa sĩ vẽ chân dung và phong cảnh. Việc hội họa của Phan Vũ không nhiều người biết. Cách đây mấy năm, Phan Vũ đưa tranh đi triển lãm ở Pháp. Về nước, Phan Vũ cho tôi biết bà con đến xem rất đông, nhất là Việt kiều.
Nhà thơ Phan Vũ và vợ - nhà báo Diễm Chi.

Trưa ấy, tôi ghé nhà Phan Vũ theo lời nhắn của một người bạn. Cùng ngồi chơi với Phan Vũ có nhà văn Phạm Gia Thanh - biên tập viên kịch bản Xưởng Phim truyện Hà Nội. Phạm Gia Thanh hỏi tôi sao lại đến giờ này, không đi uống bia à? Tôi bảo: “Vừa từ hàng bia về đây!” “Sao về sớm thế?”. “Hết tiền thì về”. “Thế mai lấy tiền đâu mà uống?” - Tôi nói. “Vừa gặp Cao Nhị bên Báo Văn hóa, Cao Nhị nói: “Ngày mai tới đây viết cho tớ một bài về hành khách đi tàu, tớ sẽ ứng trước cho cậu 20 đồng”.

Phan Vũ liền rút ra 20 đồng đưa cho tôi và bảo: “Đây là tiền để chiều nay cậu uống bia, tớ biết cậu không có bia là người lờ đờ”. Nhận tiền bỏ vào túi, tôi hỏi ngay: “Ông nhắn tôi đến là có việc gì?”. Vũ che miệng húng hắng ho, rồi bảo: “Tớ sẽ nói ngay, việc cũng quan trọng đấy, nhưng trước khi nói, tớ đọc cho cậu nghe cái trường ca vừa làm xong. Trường ca có tên: "Hà Nội phố”. Nói rồi, Phan Vũ lên giọng. Trường ca dài hơn 1000 câu, Phan Vũ đọc một mạch. Tôi bảo:

- Hay lắm! Tớ thích cái điệp khúc “Em ơi! Hà Nội - phố”. Câu này có thể hiểu theo 2 cách: Em là người Hà Nội và Em cũng là Hà Nội phố.

Phan Vũ cười:

- Cách hiểu của cậu hơi lạ so với những người khác, nhưng lại hợp với suy nghĩ của tớ.

Tôi bảo:

- Gửi cho Báo Văn nghệ đăng.

Phan Vũ cười nhạt:

- Chẳng có cái văn bản nào về việc cấm đăng bài của bọn tớ, nhưng tác phẩm của bọn tớ sáng tạo ra gửi đến các báo đều ít khi được in. Thế nhưng báo cho cậu một tin vui là vẫn có nơi họ sử dụng bài viết và kịch nói của tớ. Hai hôm nữa, tức là 8 giờ sáng ngày mốt, thứ Sáu, bên Đài Tiếng nói Việt Nam dựng vở kịch nói của tớ viết về Cụ Hồ và Lê Quảng Ba từ Trung Quốc về nước. Họ đề nghị tớ nhờ cậu làm cố vấn về ngôn ngữ và sự kiện, vì cậu có thâm niên ở Việt Bắc hơn 10 năm, và lại là tác giả của cuốn sách viết về Hoàng Văn Thụ. Xuân Đài nhớ đến đúng giờ giúp mình nhé!

Hai hôm sau, tôi đến đúng giờ ở phòng thu phố Bà Triệu. Anh biên tập viên Phòng Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam đã ngồi sẵn. Các diễn viên vào phòng thu âm diễn kịch chỉ bằng tiếng. Đó là đặc trưng của kịch truyền thanh. Họ diễn đến đâu, anh biên tập ra hiệu dừng lại đến đó và đề nghị tôi có ý kiến. Thực ra ý kiến của tôi cũng không nhiều, lúc này tôi chỉ nhớ 1 chi tiết.

Tôi bảo với họ: “Trong tiếng Tày, “Pác” là mồm, “Pắc” là “cắm”! Các bạn phải gọi là “Pác Pó”, tức là cái miệng hang, còn “Pắc Pó” là sai”. Biên tập viên và Phan Vũ tiếp thu ngay, buộc diễn viên phải diễn lại.

Theo anh biên tập viên, vở kịch của Phan Vũ sẽ phát vào tối thứ Bảy (vào giờ nào thì lúc này tôi quên mất rồi). Chiều hôm đó, tôi đến báo cho ông Nguyễn Chí Kim – Vụ trưởng Vụ Tuyên giáo Ban Dân tộc Trung ương, đề nghị anh báo cho anh Lê Quảng Ba – Trưởng ban Dân tộc (tương đương Bộ trưởng) và toàn thể cán bộ, công nhân viên trong Ban đón nghe. Sáng thứ Hai, ông Kim báo cho tôi biết ông Lê Quảng Ba rất khen kịch của Phan Vũ, hay về nghệ thuật, lại chính xác về sự việc. Tôi rất mừng và đề nghị ông Kim nên cấp cho Phan Vũ một cái giấy khen và ít tiền gọi là để động viên.

Ông Kim cười: “Giấy khen thì dễ rồi, còn tiền theo Xuân Đài bao nhiêu thì vừa?”. Tôi bảo: “Chút ít gọi là động viên thôi ông, khoảng 100 đồng là vừa”. Ông Kim bảo: “Tôi sẽ báo cáo với ông Lê Quảng Ba và xuống phòng tài vụ làm ngay”.

Tôi nhớ thêm kỷ niệm nữa về Phan Vũ hồi đó. Số là có cháu Nguyễn Thu Quyên, nhà ở phố Nguyễn Thái Học, vừa tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trong một lần tìm gặp tôi, bảo: “Cách đây mấy hôm, chú Phùng Quán - bạn của bố cháu đến chơi, chú đọc thơ cho cả nhà nghe, sau đó chú đọc trường ca "Hà Nội phố" của ông Phan Vũ mà không cần bản thảo cầm tay. Chú Đài ơi, cháu muốn ông Phan Vũ cho cháu 1 bản chép tay thì làm sao ạ? Chú giúp được không?”. “Được! Chú sẽ viết vài dòng giới thiệu cháu với ông Phan Vũ và đề nghị ông ấy chép cho cháu. Ông Phan Vũ là người thoải mái, rất quý mến bạn đọc nên chú tin ông ấy sẽ chép cho cháu”. Tôi viết vài dòng cho Phan Vũ và chỉ số nhà ở phố Hàng Bún cho cháu Quyên.

Mấy hôm sau, cháu Thu Quyên đến gặp tôi, hớn hở khoe bản thảo "Hà Nội phố" do chính tay Phan Vũ chép, và nói: “Trước lúc đi, cháu có nhét vào phong bì một chút tiền và viết mấy dòng: Thơ chú các báo không chịu đăng, cháu là nhân dân, nhân dân yêu chú, đây là số tiền nhuận bút của nhân dân, mong chú không từ chối!”. Cháu nói dối chú Phan Vũ sau khi đưa bì thư: “Trong đây là bài thơ cháu mới làm, lúc nào cháu về chú hãy đọc”. Nói rồi cháu ôm tạm biệt chú và đi ngay.

Tôi gõ đầu cháu Quyên: “Con ranh, khôn thế! Biết cách cư xử của một người Hà Nội gốc!”.

Phan Vũ không chỉ là nhà viết kịch, viết truyện, làm thơ, mà còn là họa sĩ vẽ chân dung và phong cảnh. Việc hội họa của Phan Vũ không nhiều người biết. Cách đây mấy năm, Phan Vũ đưa tranh đi triển lãm ở Pháp. Về nước, Phan Vũ cho tôi biết bà con đến xem rất đông, nhất là Việt kiều.

Từ dạo đó, tôi và Phan Vũ hay gặp nhau ở căng tin Hội Văn nghệ uống bia. Mỗi lần, Phan Vũ lại đọc cho tôi nghe vài bài thơ, tôi thấy thơ Vũ hay, ý ở ngoài lời, ẩn dụ rất kín đáo. Tôi bảo Vũ: “Sao không in một tập thơ?” - “Không nhà xuất bản nào chịu chi tiền in cho mình, muốn in mình phải xuất tiền, mà tiền thì mình không có. Xuân Đài in tập thơ "Tạ tội" chắc cũng phải tự xuất tiền ra…”.

Gần đây Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam cộng tác cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn in tập thơ cho Phan Vũ, tập thơ tên là “Ta còn em” (trong đó có trường ca “Hà Nội phố”). Thế là thơ Phan Vũ đã đến với bạn đọc một cách đàng hoàng.

Chuyện về Phan Vũ nếu kể ra còn rất nhiều…

Tôi chỉ thêm 1 chuyện nhỏ. Cháu Việt Nga (con gái Phan Vũ) nhiều lần gọi tôi lên chơi với bố cháu, bố cháu hay nhắc đến bạn bè cũ. Có lần cháu nhắn tôi xuống Vũng Tàu chơi với bố, hai ông già ngồi trong căn hộ, ngắm biển trò chuyện hẳn thú vị lắm. Tôi bảo cháu: “Bây giờ chú còn mệt, bao giờ khỏe hơn chú sẽ đi”. Vậy là chẳng bao giờ gặp được anh nữa… Hẹn gặp anh nơi anh vừa mới đến, chờ nhé!

XUÂN ĐÀI
Nguồn: VNCA


Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC CHU VĂN SƠN: SUỐT MỘT ĐỜI ĐI TÌM CÁI ĐẸP

Từ CHLB Nga, Tiến sĩ Toán học Nguyễn Hùng Phong chia sẻ: “Trời phú cho Chu Văn Sơn một khả năng cảm nhận, một con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương”.

Khóa “Kiêu binh”

Vậy là thầy đã đi xa thật rồi. Ánh hồi quang cuối cùng của một thế hệ vàng giảng dạy và nghiên cứu văn học vụt tắt. Học trò của thầy không còn được trò chuyện cùng thầy khi gặp gỡ cafe hay chat cùng thầy trên facebook.
Tiến sĩ Chu Văn Sơn (1962 – 2019).

Có lẽ sẽ phải nhiều năm nữa mới lại có một người thầy giảng văn tài hoa và tinh tế ở trường phổ thông, khiến học trò yêu văn đẹp, mê văn hay như thầy đã làm được.

Thầy đã đi quãng đường 58 mùa xuân, mới thêm 8 nhịp của một phần hai kiếp nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày, vậy là cũng đủ tài hoa trọn một cuộc đời. Một người bạn đồng niên với thầy đã lặng đi khi em báo tin thầy rời cõi tạm. “Có lẽ trời xanh kia muốn giữ mãi hình ảnh trẻ trung của Chu Văn Sơn chứ không muốn có một Chu Văn Sơn lụ khụ”.

Nói xong, anh cố giấu những nỗi xúc động, vờ quay mặt nhìn xa xa... Cái đẹp bao giờ cũng mỏng manh và người tài hoa tuổi thọ hình như chẳng được dài?

Trương Trào chẳng phải có câu: "Tài tử mà lại đẹp, mỹ nhân mà lại biết làm văn ắt là không thọ được. Không phải do tạo hóa đố kỵ mà bởi hạng người đó không chỉ là báu vật của một thời mà là báu vật của muôn đời, nên không thể lưu lại lâu trên cõi thế mà hóa ra nhàm".

Đầu năm Kỷ Hợi này, một người bạn đồng niên, đồng môn của thầy là chị Lại Thái Hưng từ CHLB Đức về, hai chị em trò chuyện, chị lại nhắc đến thầy, đến những kỷ niệm của khóa kiêu binh.

Trong hơi thở của trời xuân rất khẽ, từng kỷ niệm của chị và những mẩu chuyện thầy từng kể cho em nghe cứ đan cài để thành một bức tranh xinh xắn về khóa học có một không hai ấy.

Năm học 1979-1983 của khoa Văn, cái tên hồi đó còn thêm số I đằng sau là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, với nhiều cái đầu tiên. Lần đầu tiên tổ chức thi học sinh giỏi trên quy mô toàn quốc.

Lần đầu tiên có chuyện đội tuyển được vào thẳng Sư phạm. Khóa ấy, như lời thầy kể thì “toàn những tay khá cả”. Đi kèm với đó là kiêu và quậy. Như lời chị Hưng nói, đó là đám “kiêu binh” đã khiến các thầy cô phải điên đầu.

Có những giờ giảng mà nhìn xuống lớp học chỉ lưa thưa vài sinh viên, còn đâu là nghỉ học cứ như bãi khóa. Nguyên nhân cũng bởi nhiều thầy cô dạy “buồn chết đi được”, đấy là sau này lúc vui chuyện thì thầy tỉ tê kể cho em nghe. Nhiều biện pháp đã được Đảng ủy khoa, Ban chủ nhiệm khoa, Liên chi đoàn khoa áp dụng nhưng chẳng ăn thua. Kiêu binh vẫn cứ bỏ tiết.

Chỉ đến khi những giờ giảng của các giáo sư Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Phan Trọng Luận… thì lạ thay, chẳng ai bảo ai, lớp học lúc nào cũng chật kín.

Sau đó, xuất hiện những bài vè, bài họa thơ chân dung các thầy: “Vừa dạy vừa hát/ Là thầy Thế Cường/ Vừa dạy vừa “lườm”/ Là thầy Trường Phát/ Vừa dạy vừa quát/ Là thầy Hoàng Dung/ Thầy Lưu Đức Trung/ Hiền chi hiền thế…”.

Nhắc đến chuyện làm vè, thì đỉnh cao phải kể “nửa đêm truyền hịch”, “rạng ngày bố cáo” đã làm náo loạn xô chậu và ầm ĩ đèn đuốc trong khu nhà A7 ký túc xá của sinh viên khoa Văn. Nhiều bài hịch, bài cáo, những khoá sau vẫn còn truyền tụng, như “Cáo cử nhân đăng trường ứng thí”, “Cáo tú tài tựu trường”, “Hịch sống vệ sinh”....

Lụy cái đẹp

Hình như trong quãng thời gian vừa tròn một con giáp được làm học trò của thầy, tôi chưa bao giờ gặp thầy vào mùa hè? Có lẽ như thế. Tôi chỉ gặp thầy vào mùa xuân và mùa thu. Tại sao tôi nhớ như vậy, vì hình như thầy cũng không ham la đà bia rượu. Mà bia rượu thì tập trung mùa hè.

Phải rồi, mùa hè, còn là mùa thầy bị “nhốt” để ra đề thi học sinh giỏi và đề thi tuyển sinh quốc gia, đề thi tuyển sinh đại học. Tốt nghiệp, ra trường đi làm tôi mới hiểu vì sao những giờ giảng của thầy luôn được đông đảo học trò đến lớp ngồi nghe như thế.

Có bạn tôi mới đây nhắc lại bài giảng, thầy đã nói sự khác nhau của sinh viên năm 1-2-3-4 là ở chữ R.

Năm nhất thì “Rạo rực”, năm hai “Ríu rít”; năm 3 “Rộn ràng” và năm tư thì “Rệu rã” Cảm giác của chúng tôi thì giờ học của thầy lúc nào cũng đầy đủ và không khí thầy trò rất gần gũi. Gần như giờ thầy lên lớp ai cũng ghi chép rất đầy đủ về cái thế giới nghệ thuật có vườn tình và tình nhân.

Ra trường, đi làm, thầy trò càng có thêm những dịp chia sẻ chuyện của khoa khi những cơn lốc bất ngờ ào qua, tôi càng biết, càng hiểu và càng thêm yêu quý thầy.

Mặc dù tôi không theo nghề dạy học mà đi làm báo nhưng đôi lúc hứng chí tôi vẫn lên lớp cho một số sinh viên chuyên ngành báo chí. Thầy là tấm gương để tôi soi vào làm sao có những giờ giảng mà chẳng cần điểm danh sinh viên vẫn đến lớp đều.

Muốn vậy, người thầy, ngoài kỹ năng sư phạm, còn phải có yếu tố của một nhà khoa học và một người nghệ sĩ. Lý thuyết thì đơn giản như vậy đấy nhưng để thực hành được thì phải rèn luyện kiên trì cộng với một chút của trời cho mà không phải ai cũng có.

Trời đã phú cho thầy con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương, bằng tư duy khoa học và kỹ năng sư phạm, thầy như một khối nam châm có sức hút sinh viên vào các bài giảng, dù chúng có tản mát hay nhẩn nha rong chơi, mải mê chinh chiến và yêu đương ở góc biển chân trời nào cũng đều thấy tiếc nếu không được nghe thầy giảng bài.

Đôi khi, tôi lại vẩn vơ nghĩ, bây giờ công nghệ hiện đại, sinh viên lên lớp có thể quay clip toàn bộ bài giảng, hay livestream bài giảng của thầy, nhưng cái thú vẫn là được trực tiếp ngồi nghe thầy giảng bài rồi đôi khi hỏi cắt ngang một câu vừa nảy ra trong đầu. Dù bị bất ngờ nhưng thầy vẫn trả lời gãy gọn và lại nhập vào làn bài giảng mà không hề lạc hướng.
“Tự tình cùng cái đẹp” – cuốn sách cuối cùng của Tiến sĩ Chu Văn Sơn.

Trong ghi chép của tôi về giờ giảng của thầy có một lát cắt về sinh viên sư phạm. Ngay từ đầu thầy đã muốn kích thích sinh viên sáng tạo bằng cách phá vỡ và vượt lên những nếp tư duy cũ kỹ hằn sâu và ăn sâu thành thói quen vô thức, phản xạ khó bỏ của con người. Thầy cắt nghĩa màu sắc để người ta nhận ra sinh viên sư phạm là gì: là cái chất chân phương, mực thước.

“Điều này yếu tố tích cực của nó là đem lại cho số đông những người trong xã hội, đặc biệt là những người già một cảm giác yên tâm”. Chỉ một câu nhưng thầy dừng lại đôi chỗ, cười thành tiếng như muốn nhấn mạnh đến mấy chữ “người già”, đến “cảm giác yên tâm”.

Bỗng có tiếng một nữ sinh hỏi vọng lên: “Chúng ta là lãng tử”. Thầy trả lời ngay: Chúng ta đừng hiểu lãng tử theo nghĩa phất phơ. Lãng tử, nghĩa gốc của nó là người lãng mạn. Mà lãng mạn không phải là người sống kiểu tài tử, phù phiếm, thậm chí nhom nhem.

Theo tôi, lãng tử là người có một đời sống tinh thần thật sự phóng túng”. Câu trả lời của thầy thuyết phục sinh viên ngay để thầy tiếp tục lái vô-lăng về làn bài giảng.

“Các bậc phụ huynh nhìn thấy chân phương mực thước là yên tâm để họ trao gửi con gái mình cho chúng ta”. Lẽ ra phải là trao gửi “con cái” nhưng thầy nháy mắt đùa vui với mấy cậu sinh viên chúng tôi, “mỳ chính cánh” trong lớp, mà đổi thành “con gái”. Trao gửi con gái cho mấy anh sinh viên văn khoa thì cứ yên tâm.

Thầy cắt nghĩa, thực chất sinh viên sư phạm tự cắt xén mình mà không biết. Điều đáng buồn ở tuổi trẻ sư phạm đó là bị đám đông vô hình cuốn đi.

“Theo tôi nghĩ, khi chúng ta có cá nhân mạnh thì chúng ta sẽ có ý thức cá nhân mạnh. Ý thức cá nhân mạnh tức là luôn luôn khao khát mình được là mình chứ không phải là bản sao của người khác. Mình không phải là cái bóng của người khác, và mình không phải là sự hòa tan vào đám đông. Mình phải là mình. Tất nhiên đừng phủ nhận đám đông, đừng bất chấp đám đông. Tôi nhắc lại: không nên để mình bị hòa tan vào đám đông. Càng không nên là người bị uốn nắn. Chúng ta phải là mình, trước hết là mình”.

Thầy đi xa mãi rồi, một đời tài hoa, một đời luỵ cái đẹp, sẽ chẳng còn cơ hội cho em được đọc những bản thảo thầy gửi qua email như “Ăngkor những đối cực của cái đẹp”, như ngày nào nữa.

Nhớ đến Hoài Thanh

“Đọc Chu Văn Sơn, hoặc một bài viết nghiêm túc đăng báo hay chỉ một note nhỏ trên facebook, tôi luôn thấy thú vị. Thú vị vì ở anh luôn có những phát hiện rất tinh tế, bất ngờ. Anh nhìn thấy, phát hiện ra những cái đẹp mà ít người nhìn thấy. Một ngòi bút thật tài hoa và tinh tế. Trời phú cho Chu Văn Sơn một khả năng cảm nhận, một con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương.

Không hiểu sao, đọc Chu Văn Sơn tôi cứ hay liên tưởng đến Hoài Thanh. Có lẽ vì bởi ở Chu Văn Sơn có những điểm tương đồng với tác giả của "Thi nhân Việt Nam"?

Tiến sĩ Toán học Nguyễn Hùng Phong - CHLB Nga

Tiếng kêu vô nghĩa

“Ở một đoạn khác, thầy giảng về hai mệnh đề. Thứ nhất, chúng ta trưởng thành trong cô đơn. Thứ hai, chúng ta sáng tạo trong cô đơn.

“Cô đơn là khi mà cái tôi đối diện với chính nó. Đối diện với chính nó thì bao giờ cũng trả lời được câu hỏi rất tốt thế này: Mình là ai nhỉ? Mình là ai trong cõi đời này? Mình định trở thành ai? Mình là gì ở trong cõi đời này?”

Vừa lúc đó, ngoài đường Xuân Thủy có tiếng hú dài của ôtô cấp cứu 115 hay cảnh sát 113 dẹp đường, khiến cả lớp cười rộ lên. Còn thầy cũng tếu táo: “Đó, câu trả lời: Mình chỉ là tiếng kêu vô nghĩa”.

Nhật ký của Khải Mông

KIỀU MAI SƠN
Theo ANTGCT
ĐỌC BÀI KHÁC:



PHƯƠNG TRÀ VÀ “TRÁI NGỌT” VĂN CHƯƠNG

Mấy năm nay, thỉnh thoảng tôi lại nghe Phương Trà đoạt giải văn chương, báo chí. Nóng hôi hổi là giải nhất cuộc thi truyện ngắn “Người lao động hôm nay” do Báo Người Lao Động tổ chức năm 2018-2019, với tác phẩm Dưới ánh sáng thiên đường. Lễ trao giải vừa diễn ra vào cuối tháng 7 rồi tại TP Hồ Chí Minh.
Nhà văn Phương Trà

Lao động chữ

Thực sự, tôi không quá bất ngờ khi Phương Trà đoạt giải, bởi chị là một cây bút đã khẳng định năng lực ở nhiều thể loại: bút ký, phóng sự, tạp văn, truyện ngắn… Vậy, ứng với “đầu đề” cuộc thi trên, Phương Trà viết gì trong truyện ngắn được giải nhất?

Truyện ngắn Dưới ánh sáng thiên đường khắc họa hình ảnh người thầy thuốc hết lòng vì bệnh nhân, đã chạy đua với thời gian để hồi sinh những trái tim đang suy kiệt. Sử dụng khéo léo một số từ ngữ chuyên môn, dồn nén thời gian trong không gian nhỏ hẹp của phòng cấp cứu, tác phẩm đánh thức sự đồng cảm với những người thầy thuốc giàu đức hy sinh.

Cuốn hút theo nhịp điệu câu chuyện căng thẳng cứu người của một bác sĩ, cuối cùng người đọc nhận ra những phù hoa hào nhoáng trong đời sống, những danh vọng và sự nổi tiếng mà nhiều người sục sôi tìm kiếm thật ra nhỏ bé và tầm thường biết bao…

Chợt nhớ, Phương Trà đang là phóng viên Báo Phú Yên phụ trách lĩnh vực y tế. Hèn chi, tác giả sử dụng thuật ngữ y khoa, mô tả công việc nghề y rất trôi. Thế nhưng, hai chuyện viết báo và viết văn… khác đấy.

Nhà văn Trần Nhã Thụy (NXB Hội Nhà văn, thành viên Ban Giám khảo cuộc thi) nhận xét: “Truyện ngắn Dưới ánh sáng thiên đường viết về một công việc lao động vừa cao cấp vừa rất đặc thù: can thiệp mạch vành. Những thao tác trong phòng cấp cứu được mô tả lại như những thước phim tư liệu sống động. Dường như chưa thấy một truyện ngắn nào viết kỹ lưỡng về nghề y như thế. Vừa kỹ lưỡng, vừa đầy cảm xúc thăng hoa...”.

Trong Dưới ánh sáng thiên đường, trái tim của vị bác sĩ thấu cảm nỗi tuyệt vọng của những trái tim đang hấp hối. “Từ ô cửa lớn hơn bàn tay, anh dõi vào những đám mây sáng đến chói mắt và tự hỏi sau khi tiếng chuông sự sống gióng lên hồi cuối cùng, những người bị nhồi máu cơ tim cấp phải chăng đã cảm nhận thứ ánh sáng tương tự như thế này khi trái tim dần lịm đi vì thiếu máu tưới rồi vĩnh viễn ngừng đập. Họ sẽ cảm nhận thứ ánh sáng của thiên đường hay ý thức sẽ vùng vẫy trong tuyệt vọng khi những cơn đau thắt ngực xé toạc và bóp nát từng hơi thở yếu ớt”. Và anh “tìm mọi cách hồi sinh chúng, mặc cho những đe dọa ngấm ngầm từ tia X, mặc cho ngoài kia người ta toan tính, tranh đua”. Vì bao trái tim khác, vị bác sĩ làm việc quên giờ giấc, quên bản thân mình…

Ý thức nghiệp văn

Phương Trà tâm sự: “Sau một thời gian trở lại với lĩnh vực y tế, tôi nghĩ mình nên có một tập truyện ngắn về y khoa, về những người làm công việc hết sức đặc thù, với nhiều đòi hỏi khắt khe về lao động trí óc lẫn chân tay. Đó là công việc đầy áp lực, khắc nghiệt, nguy hiểm. Và tôi bắt đầu viết, bằng cảm nhận của mình sau nhiều lần tác nghiệp ở những nơi “đầu sóng ngọn gió” của bệnh viện, chứng kiến những người thầy thuốc chạy đua với thời gian, giành giật sự sống cho bệnh nhân.

Nhân vật trong Dưới ánh sáng thiên đường tất nhiên là hư cấu, song toàn bộ chất liệu đều từ cuộc sống. Chính những người thầy thuốc say mê, tận tụy với công việc đã truyền cảm hứng cho tôi viết truyện này cũng như truyện Máu hiếm hay Chỗ nghẽn trong tim trước đó”.

Theo Phương Trà, viết văn rất nhọc nhằn. Nhờ làm báo, chị đi nhiều, gặp nhiều nên có chút ít “vốn liếng” để viết văn. Nhưng cũng vì ngày ngày tháng tháng “cày” báo nên mỗi khi viết văn, chị phải cố để không “mắc bệnh nghề nghiệp”, để truyện không… thấm đẫm tính báo chí.

Khi tôi hỏi về “kinh nghiệm đoạt nhiều giải”, Phương Trà bộc bạch: “Tôi chẳng có kinh nghiệm gì, cũng không phải là người “săn” giải thưởng. Tôi viết bằng cảm xúc, từ sự thôi thúc bên trong, và thấy phù hợp với tiêu chí cuộc thi thì gửi. Đoạt giải nhất Cuộc thi truyện ngắn “Người lao động hôm nay” là niềm vui lớn và quá bất ngờ đối với tôi. Điều hạnh phúc nhất là truyện ngắn mà tôi viết bằng tấm lòng, tâm huyết đã được các nhà văn thành viên Ban Giám khảo đồng cảm và được bạn đọc đón nhận”.

Phương Trà tâm đắc lời một nhà văn tại lễ trao giải trên: “Giải thưởng (văn chương) dù lớn dù nhỏ, dù giải nhất hay khuyến khích, cũng đều mang chung một ý nghĩa: Khuyến khích. Tức khích lệ, động viên, đồng hành cùng người viết trên con đường chữ nghĩa ngàn dặm nhọc nhằn. Giải to không kiêu. Giải nhỏ không buồn. Không giải nhẹ nhàng. Đó mới thực sự là nhà văn”.

ĐÀO ĐỨC TUẤN
Nguồn: PYO

__________________________________

Phương Trà tên đầy đủ là Trịnh Thị Phương Trà, sinh năm 1976, quê xã An Định, huyện Tuy An, là phóng viên Báo Phú Yên, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Yên. Tác phẩm đã xuất bản: Nơi hai dòng sông đi qua (tập bút ký - phóng sự, 2005), Giấc mơ ban ngày (tập truyện ngắn, 2009), Ngược gió (tập bút ký - phóng sự, 2013), Nghe nắng qua thềm (tập tạp văn, 2017). Giải B Giải thưởng Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Yên lần thứ IV (giai đoạn 2010-2015), giải khuyến khích Văn học Nghệ thuật năm 2017 của Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, giải A Báo chí tỉnh Phú Yên năm 2017, 2018…


ĐỌC BÀI KHÁC:




Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

TIA NẮNG THU BỒN…

Năm 1972 tôi được phân công dạy văn lớp 10 (hệ 10 năm) ở trường cấp III Quốc Oai, Hà Tây. Trong chương trình văn học hiện đại có Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn. Trong lời giới thiệu tác phẩm, sách giáo khoa viết: “Thu Bồn là một nhà thơ miền Nam trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bài ca chim Chơ rao là bản trường ca ca ngợi tinh thần đấu tranh quật khởi của đồng bào Tây Nguyên, ca ngợi mối tình đoàn kết Kinh Thượng”.

Lúc ấy tôi không hề biết Thu Bồn là ai chỉ đoán rằng Thu Bồn là một nhà thơ từ miền Bắc vào lấy bút danh Thu Bồn, tên một dòng sông miền Trung, như Xuân Thiều lấy bút danh Nguyễn Thiều Nam… Và rồi suy nghĩ ấy cứ định vị trong tôi nhiều năm. Nhưng có một điều: đọc và dạy Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn tôi thật sự cảm phục, ngạc nhiên đến sững sờ. Hồi đó tôi chưa hề đến Tây Nguyên, chỉ biết Tây Nguyên qua Trường ca Đam Sam và nhất là qua tác phẩm Đất nước đứng lên... Thế mà đọc Bài ca chim Chơ rao, tôi đã cảm nhận được chất bi tráng, dữ dội, chất Tây Nguyên thấm đẫm trong từng lời thơ. Đến nay đã hơn 40 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ đoạn trích nói về cái chết của hai chiến sĩ cách mạng: Hùng người Kinh và Rin người Thượng.
Nhà thơ Thu Bồn

Đây là đoạn mở đầu:

Máy rú xe từ từ lăn bánh
Hai chiến sĩ điềm nhiên đến pháp trường
Hùng và Rin nhìn trời mây cây cỏ
Lần cuối cùng vĩnh biệt quê hương
Hai chiến sĩ bị kẻ thù trói chặt vào cây để hành hình
Trên nương sáng nay lúa vừa ngậm sữa
Chúng đem Hùng, Rin trói chặt vào cây
Thu Bồn ca ngợi tinh thần dũng cảm bất khuất của hai anh
Ôi chim đại bàng trong bão tố
Đầu sắp rơi mà cánh vẫn tung bay

Trước cái chết Rin nhớ về người mẹ đã cơ cực suốt đời để nuôi anh:

Mẹ ơi! Con vẫn ở giữa lòng đất nước
Trời nắng thiêu nghe rìu mẹ chém cây
Chiếc rìu cùn như đời mẹ cực
Đã cho con bao bát cơm đầy

Anh xót xa nhớ tới người yêu, cô Sao, đang bị giặc giam cầm:

Sao ơi! Em là con bướm trắng
Mắc giữa cành gai sắc dập vùi
Bao giờ em thoát đời tù ngục
Về với lũ làng múa hát vui

Rin nuối tiếc vì đã không còn được trở về quê Hùng uống nước dừa và gặp người con gái đẹp, người yêu của Hùng, Rin nghĩ về mối tình đoàn kết Kinh Thượng:

Thôi, những người con dân tộc
Sẽ thay Rin đi uống nước dừa
Nước ngọt như mối tình Kinh Thượng
Gạt hết hiềm thù cay đắng năm xưa

Kẻ thù man rợ tra tấn Hùng và Rin và chúng thiêu sống các anh. Giọng thơ Thu Bồn vừa đau đớn vừa hào sảng:

Sợi dây trói cháy thành tro bụi
Nhưng tim anh hùng còn đập giữa khói đen
Hai ngọn đuốc rùng rùng tiến lại
Cái chết đâu làm ta phải yếu hèn

Lửa rực hai khuôn mặt bầu rạng rỡ
Hai vòng tay lửa siết vào nhau
Người anh em ơi ! Đây là lời của Đảng
Gắn bó đến cùng cả lúc thương đau

Hai chiến sĩ hy sinh rồi, Thu Bồn đã miêu tả một cách thật gợi cảm sống động nỗi đau thương uất hận. Đây là của con người:

Ơi ới tiếng người tiếng cồng gào thét

Và của cảnh vật:

Dừa réo lên vuốt cong ngàn tia kiếm

Loài vật cũng tỏ thái độ:

Con hổ gầm rung vách núi
Bầy voi đi phun nước trắng dòng sông

Tình thương yêu của dân làng với hai chiến sĩ người Kinh và người Thượng khiến linh hồn các anh luôn được sưởi ấm:

Lệ dân làng thấm sâu vào đất
Ủ nóng hai anh giữa núi đồi
Hãy nhận lấy những hoa rừng đẹp nhất
Cả quê hương vùng dậy kia rồi

Toàn bộ đoạn trích trong sách giáo khoa hay từng câu từng chữ, từng hình ảnh. Nhưng tôi thấy Thu Bồn đặc biệt xuất thần trong đoạn kết:

Chim Chơ rao ơi! Bay về buôn vắng
Báo tin buồn đi khắp mọi nơi
Mặt trời đã rụng hai tia nắng
Rừng Tây Nguyên lửa đỏ sáng ngời

Người ta thường ví kẻ thù là bóng tối, bóng đêm và cách mạng là ánh sáng, ánh nắng. Ví hai chiến sĩ cách mạng người Kinh và Thượng như hai tia nắng nhà thơ muốn nói: họ là những người góp phần làm nên ánh sáng, nắng ấm trong cuộc đời này. Họ đã hy sinh, như hai tia nắng rụng nhưng ánh sáng, nắng ấm của cách mạng thì còn mãi. Sự hy sinh của hai anh càng làm ánh lửa của tinh thần bất khuất của người dân Tây Nguyên thêm rạng rỡ.

 Bài ca chim Chơ rao để lại trong tôi ấn tượng về tài thơ độc đáo của Thu Bồn. Tuy câu chữ, hình ảnh không mới lạ nhưng đọc lên thấy cả một không khí Tây Nguyên đầy bi tráng, giọng thơ cuồn cuộn như nước sông Ba… Sau đó tôi còn được nghe nhiều chuyện về ông. Chuyện ông cõng con vượt Trường Sơn ra Bắc, chuyện càng uống rượu nói càng hay và những mối tình thường xuyên thay đổi của ông. Đến khi Thu Bồn vào Sài Gòn rồi về Bình Dương đóng đô ở suối Lồ Ồ thì tôi mới có dịp gặp. Lúc ấy tên tuổi nhà thơ, đại tá Thu Bồn lan rộng cả dải đất miền Đông. Ông đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, giao tiếp bằng rượu, thơ và… cải lương cùng vợ ông, nghệ sĩ cải lương Lý Bạch Huệ biểu diễn. Ở Đồng Nai, vợ chồng ông thường tham gia sinh hoạt ở Hội Văn nghệ. Các buổi họp mặt anh em văn nghệ Đồng Nai, lễ mừng thọ nhà văn Hoàng Văn Bổn 70 tuổi, các trại sáng tác do Hội văn nghệ tổ chức tại Đà Lạt đều có mặt. Ông có mối quan hệ thân thiết với nhiều anh em văn nghệ Đồng Nai, trong đó nhà văn Hoàng Văn Bổn là bạn viết cùng trang lứa. Ngoài ra còn có các cây bút đàn em khác như Nguyễn Đức Thọ, Phạm Thanh Quang, Xuân Bảo, Hiền An Giang, Đặng Minh Hân, Hải Ba… đều coi ông như người thầy, người anh. Ông đã từng giới thiệu chất lính trong thơ Phạm Thanh Quang, phóng xe đến nhà Hải Ba để lấy bài thơ in trong một tuyển tập, uống rượu và nói chuyện văn cùng nhà văn Nguyễn Đức Thọ. Các cây bút Đồng Nai vẫn nhớ những lời nhận xét thẳng thắn, thấu lý đạt tình của ông về thơ trong trại sáng tác ở Đà Lạt năm nào. Trên dọc đường đi và khi tới Đà Lạt ông gặp từng người trao đổi về sáng tác của họ nhằm giúp anh em văn nghệ nâng cao chất lượng thơ lên. Vợ chồng ông còn rất thân thiết với Trường trung học sư phạm Đồng Nai, Sở giáo dục đào tạo Đồng Nai, đã từng đi biểu diễn giao lưu ở một số trường trong tỉnh. Không chỉ giới văn nghệ sĩ, các nhà giáo mà cả những người làm kinh tế cũng biết đến Thu Bồn. Ông là một nhà thơ đầy cá tính. Vóc dáng cao lớn, tóc bạc phơ phủ kín gáy, giọng Quảng Nam đặc sệt. Ở ông, người ta vừa thấy sự tinh tế, thông minh, tài hoa của một người có tầm văn hóa sâu rộng lại vừa đậm chất Tây Nguyên: bộc trực, chân thật, hoang dã… Sự tinh tế, tài hoa thể hiện rõ nét trong bài thơ Tạm biệt, một tuyệt bút của ông. Bao nhiêu người làm thơ về Huế, về sông Hương thấy ở sông Hương dòng sông thơ mộng, trữ tình. Nhưng ít người như Thu Bồn, phát hiện ở dòng sông này cái khía cạnh văn hóa, lịch sử:

Con sông dùng dằng con sông chẳng dứt
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Con sông chảy vào lòng tạo nên nét thâm trầm, sâu lắng, dịu dàng của xứ Huế, con người Huế.

Chất Tây Nguyên thì đã thành gốc rễ của đời ông. Đến nhà Thu Bồn chúng ta sẽ thấy cả Tây Nguyên giữa đồi núi Bình Dương. Một căn nhà rông với đủ gùi, rựa, cồng chiêng, rượu cần. Nghe đâu bằng sức lao động của mình ông đã dựng nên căn nhà này, Thu Bồn rinh cả Tây Nguyên về nhà ông. Còn chất bộc trực, chân thật thì nhiều người phải ngạc nhiên, buồn cười. Ông đã không ưa ai thì nói vỗ vào mặt, không ngại ngùng nể nang, nhưng ông lại là người rất tình nghĩa, quý trọng nghĩa tình đồng đội, quý trọng bạn văn.

***

Cuộc đời và tác phẩm của Thu Bồn là một minh chứng cho sự gắn bó máu thịt của nhà thơ với nhân dân, với Tổ quốc và cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhờ sự gắn bó đó Thu Bồn đã có hàng chục tập trường ca, thơ, tiểu thuyết, tiểu luận có giá trị. Sinh ra ở quê hương Quảng Nam, nhập ngũ từ năm 16 tuổi, tập kết ra Bắc trở về chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên vào năm 1960, anh bộ đội Hà Văn Trọng đã viết nên bản  trường ca Bài ca chim Chơ rao. Cái bút danh Thu Bồn có từ đó. Cánh chim Chơ rao đã đưa Thu Bồn ra nước ngoài nhận giải thưởng Văn học Á-Phi, đưa thẳng Thu Bồn vào Hội nhà văn Việt Nam, chẳng phải qua thủ tục hai người giới thiệu. Thu Bồn trở lại Tây Nguyên tiếp tục sáng tác và sau đó trở ra Hà Nội làm giáo vụ ở trường viết văn Nguyễn Du (cùng nhà văn Phan Tứ). Với năng khiếu bẩm sinh cộng với sự trải nghiệm cuộc sống, trải nghiệm văn hóa Thu Bồn luôn có một bút lực dồi dào. Tiếp theo Bài ca chim Chơ rao, ông đã viết nhiều trường ca và tập thơ, tiểu thuyết và tập sách cuối cùng của ông là tập tiểu luận Đánh đu cùng dâu bể. Con người sức vóc ấy, hăm hở đi, hăm hở viết, hăm hở làm kinh tế vườn đã phải dừng lại ở cột mốc 69 tuổi vào ngày 17/6/2003. Sau chuyến đi thực tế Tây Nguyên bị đột quỵ, ông yếu dần. Ngày Hội thơ Việt Nam đầu tiên ở Đồng Nai tổ chức ở Trung tâm văn hóa tỉnh, ngồi cạnh giáo sư Trần Thanh Đạm, ông còn gật gù khen nghệ sĩ Hồng Vân ngâm bài thơ Tạm biệt hay. Khi bước lên bục để chụp ảnh chân ông cất bước nặng nề, nhọc nhằn. Một thời gian sau trong buổi liên hoan tổng kết ở Hội văn nghệ Đồng Nai ở khách sạn 57 tôi để ý thấy ông buồn lặng lẽ không nói.

Bây giờ ông đã về trời. Cuối năm 2002 chúng ta mất nhà thơ lớn Tố Hữu, đầu năm 2003 nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi ra đi. Giữa năm 2003 nhà thơ Thu Bồn rời khỏi cõi đời. Một thế hệ nghệ sĩ cách mạng đã từng góp phần làm hưng phấn cả dân tộc trong chiến tranh và cách mạng lần lượt ra đi. Nhớ đến ông tôi nhẩm đọc câu thơ tuyệt vời của ông viết về cái chết:

Mặt trời đã rụng hai tia nắng

Mỗi nghệ sĩ chúng ta bằng tác tác phẩm của mình đã chiếu rọi vào tâm hồn, trí tuệ người đọc. Cái tia nắng lộng lẫy có tên Thu Bồn ấy đã rụng xuống nhưng ánh sáng từ những vần thơ của ông thì còn mãi.

BÙI QUANG TÚ
Nguồn: Văn Nghệ số 30/2019

ĐỌC BÀI KHÁC:



Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019

NHÀ VĂN TRẦN NHÃ THỤY: LÀM THƠ TẶNG VỢ RỒI VỀ… NẤU CƠM

Được độc giả biết đến với những tập truyện ngắn, tản văn đặc sắc, và một vài tiểu thuyết gây được tiếng vang, đã chuyển thể thành phim nhưng với nhiều anh em làm báo Sài Gòn, nhà văn Trần Nhã Thụy lại là người thích làm thơ, có những câu thơ rất hay, rất thú. Đặc biệt, anh thường làm nhiều thơ về vợ, người phụ nữ quê đất võ Bình Định nhưng rất dịu dàng. Người phụ nữ không chỉ là một nửa cuộc đời mà còn mang đến hạnh phúc cả phần đời còn lại cho anh, cùng hai cậu con trai kháu khỉnh và một gia đình hạnh phúc, để anh mặc sức “ngoại tình” với chữ nghĩa đêm đêm.
Nhà văn Trần Nhã Thuỵ

Gã giang hồ mê chơi nhưng… nhớ nhà

Như lần làm thơ về vợ, Trần Nhã Thụy đã viết thế này, “Cùng nhau một chặng đường trần/Mình đưa tay nắm những lần ngã đau/Đắng cay nuốt đã nhiều rồi/Thì thôi nước chảy qua cầu ngày xanh”. Dường như, với một người viết văn như anh, những câu thơ chân thành và đắm đượm nhất chính là thơ về vợ, người đã gắn bó với anh từ những ngày mới chân ướt chân ráo mưu sinh ở mảnh đất phồn hoa này. Dù chưa từng kể hết những cơ cực trên đường đời nhưng tôi phần nào hiểu được hoàn cảnh của đôi vợ chồng trẻ ấy. Sống bằng ngòi bút cả nghĩa bóng và nghĩa đen, nuôi hai con nhỏ, ở trong một căn phòng thuê lợp tôn đâu đó ngoại thành. Dần dần, anh chị mua đất, rồi dựng nhà và hồi cuối năm ngoái, căn nhà lại được hoàn chỉnh cho ngăn lắp, to đẹp hơn một chút nữa để những ngày hè oi bức, anh không phải ở trần trên gác viết văn mà mồ hôi lẫm chẫm như chính Trần Nhã Thụy từng tâm sự đâu đó. Có lẽ, thời gian nhiều năm ấy, với vô vàn khó khăn mà những người tỉnh lẻ lập nghiệp ở thành phố phải đổi mặt, nếu không có sự cảm thông, chia sẻ, gắng gượng thì tình yêu không thể nào dìu dắt người ta bước tiếp được. Và, sau nhiều những cay đắng nuốt sâu vào trong lòng ấy, anh chị càng hiểu, càng yêu và thương nhau hơn.

Nhưng, làm người cầm bút anh ý thức rằng. Cuộc sống dù cay đắng hay hạnh phúc thì vẫn phải sống, mà còn cố gắng sống tốt hơn. Vì vậy, anh chọn cách mỉm cười với tất cả mọi thứ, với thơ và đời. Như anh từng viết: Chiều chiều vo gạo nấu cơm/Ngồi trong xó bếp nghe thơm nỗi buồn. Có lẽ, đó là câu thơ tự đáy lòng, thốt chân thực về cảm xúc của anh. Như lần anh bật lên, sau những buổi sáng tập thể dục ở con đường nhỏ trước nhà. Người ta đi Mỹ đi Tàu/Còn mình quanh quẩn cái cầu Gò Dưa. Những câu thơ của Trần Nhã Thụy không nhiều, không cầu kỳ bóng bẩy nhưng cứ làm người ta nhớ mãi, ám ảnh như uống ly cà phê thơm ở một góc quán thơ mộng đâu đó không bao giờ quên. Và khá đặc biệt, bạn bè chỉ đọc thơ anh ở trang facebook cá nhân chứ ít bao giờ anh đưa lên báo, ngoài một lần các đồng nghiệp cũ ở tờ Tuổi Trẻ in một chùm giới thiệu mà thôi.

Thú thật, tôi ít thấy ai tài hoa mà lại chung thủy như anh. Có lẽ đó là cách để anh giữ gìn cuộc sống hôn nhân gia đình. Và thật kỳ lạ, không biết đùa hay thật nhưng dù là người am tường khá nhiều lĩnh vực, Trần Nhã Thụy bảo anh không biết dùng thẻ…ATM, nghĩa là tiền trong tài khoản tất cả đều do vợ giữ, bạn bè các báo chi trả nhuận bút, lương thưởng anh đều không biết. Hỏi thêm, anh cười hóm hỉnh, mình thì được vợ nuôi, tiền ăn sáng, ăn trưa hay cà phê đều có vợ đưa cho mỗi ngày mà chiều chiều lại đón con về ăn cơm vợ nữa thì cần chi tiền? Vậy mà lần nào ngồi nhậu với anh em, bè bạn, khi tính tiền thì anh đều giành trả, bảo mình…mới có tiền!

Cách đây ít bữa, trong dịp đại hội nhà văn thành phố, Trần Nhã Thụy được đông đảo đồng nghiệp tín nhiệm bầu làm Trưởng ban kiểm tra Hội Nhà văn TP HCM. Anh bảo, mình cả đời ở nhà cơm canh, làm ô-sin cho vợ con thì nay lại được làm ô-sin cho anh em trong hội, không biết có mấy năm tới, có làm được gì cho mọi người không. Hình như, sâu thẳm trong anh, cái chức danh ấy là vì bạn bè, vì anh em tình nghĩa nên Trần Nhã Thụy nhận lời chứ với anh, nó không phải là mục đích của người cầm bút.

Chiều nay ngồi rót quê nhà vào ly

Tôi quen anh cũng qua những bài báo. Dần dà, anh em không hẹn nhưng thi thoảng vẫn ngồi bên nhau, ở một quán quen bên bờ kênh Nhiêu Lộc, lặng lẽ nhìn dòng nước phía xa xa, ngắm con kênh từng trong xanh, rồi ngầu đục và lại trong xanh, như những thăng trầm hưng thịnh của thành phố non trẻ này. Cũng như tôi, dù có một căn nhà, một gia đình lẫn cuộc sống khá ổn định giữa Sài Gòn nhưng trong anh chưa bao giờ thôi khắc khoải về nỗi nhớ quê, vùng đất Quảng Ngãi nắng gió sinh ra, nuôi dưỡng anh suốt một tuổi thơ khốn khó. Anh vẫn kể, mình đam mê nhiều thứ. Đó không phải là tính cách mà phần nhiều do đòi hỏi của công việc khiến anh luôn tỉ mỉ, cặn kẽ tất cả những gì mình đặt bút viết, dù là một cái tản văn nho nhỏ in báo hay một cuốn tiểu thuyết vài trăm trang giấy. Ví như viết về người chơi đàn, anh kỳ công quan sát, học hỏi cách chơi đàn. Có khi anh tới tận xưởng đàn, tìm hiểu và chơi thử. Rồi viết về những người đi hát, anh cũng kỳ công vào quán karaoke nghe hát, cảm nhận bằng tất cả cơ học của giọng hát chứ không đơn thuần là âm điệu. Đó không chỉ đơn giản là sự đam mê, là tinh thần trách nhiệm, là hứng thú với trang viết của mình mà hơn tất thảy, với Trần Nhã Thụy, đó là trách nhiệm của mình với con chữ, với độc giả mỗi khi đặt bút trước trang giấy.

Với những người làm báo trẻ có chút nấn níu với văn chương ở thành phố này, nhiều người coi Trần Nhã Thụy là người anh trong cuộc sống, người thầy trong cầm bút và đối thủ trên…bàn nhậu. Dường như, trong làm báo, viết văn hay đời thực, anh đều để lại những ấn tượng khá riêng với người đối diện. Một nét riêng lặng lẽ, trầm trầm của người đã trải qua nhiều biến cố cuộc đời. Anh kể, mình làm báo đã hơn hai mươi năm, kinh qua nhiều cơ quan nhưng phần vì cái cái tôi quá lớn, phần nữa có khi chẳng vì lý do gì khiến anh ít khi nào trụ lâu ở một nơi nhất định, dù nghề báo đã nuôi sống anh, và gia đình lẫn cả văn chương. Vài năm trở lại đây, anh làm trưởng đại diện cho một tờ báo thị trường khá lớn nhưng ít người biết. Ai hỏi, anh bảo mình chỉ là “thằng viết dạo”, rồi cười. Có lẽ, Trần Nhã Thụy là vậy, anh ít khi nhận về mình những xưng danh, chức tước mà cứ vui vẻ ngước nhìn cuộc đời, như một đứa trẻ tò mò muốn tìm những trái chín trên cao vậy. Cái tâm thế luôn hàm ơn tất thảy mọi thứ xung quanh mình của người thành danh cùng văn chương nhưng dường như lại đi bên lề văn chương khiến Trần Nhã Thụy lúc nào cũng thong thả, thảnh thơi và ít bị cuốn vào vòng phù hoa ảo vọng. Anh viết nhiều, mà thật lạ là lại ít kỳ vọng, chả ham nổi tiếng. Đôi lần ngồi cà phê, tôi vẫn cười. Người như anh, văn như anh, đất Sài Gòn giờ hiếm lắm. Hiếm bởi cái tình với anh em, với đồng nghiệp khi văn chương đang ngày một mất đi tính nhân bản vốn có của nó, là làm đẹp cho cuộc đời. Ngay chính nhiều người cầm bút đang hằn học, đua ganh với nhau. Sống với đồng loại nhiều người còn ác lắm, cầm bút mà làm gì?

Rồi, như trong một lần tâm sự rất thật với chính mình và bè bạn, anh viết “Đời tôi là những vỉa hè/Cà phê cà pháo ngồi nghe chuyện đời”. Nếu biết nhiều về anh, có lẽ ai cũng hiểu điều này bởi sau hơn 20 năm cầm bút ở Sài Gòn, anh đã quá am hiểu, tường tận con người và vùng đất này. Tuy nhiên, điều băn khoăn nhất trong cuộc đời Trần Nhã Thụy vẫn là quê nhà. Và ước mơ ám ảnh anh, lại là sau này được về quê, được sống giữa một vùng tuổi thơ, trong căn nhà có mấy câu cau khẳng khiu mà năm nào cũng trĩu quả, có đồng lúa xanh xanh trước cửa mà lần nào về quê cũng đương thì con gái… Thế nên, anh viết “Bạn bè dăm đứa bôn ba/ Chiều nay ngồi rót quê nhà vào ly”.

ĐOÀN ĐẠI TRÍ
Nguồn: Tinh hoa Việt



BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...