Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG: MÙA XUÂN SINH THÁI & VĂN CHƯƠNG

Sự suy thoái hệ sinh thái của một quốc gia không chỉ quy trách nhiệm cho những người quản lý đất nước mà cả cho sự thờ ơ của từng công dân, trong đó có những nhà văn.

Một ngày mùa Xuân, ông Diểu mang súng vào rừng đi săn. Ông chê những con chim xanh, những con gà rừng, chỉ mong bắn được sơn dương hay con khỉ đầu đàn. Cuối cùng thì ông đành bằng lòng với chiến lợi phẩm là một con khỉ đực. Nhưng không may cho ông: khỉ cái cứu khỉ đực, khỉ con thì kéo khẩu súng của ông cùng rơi xuống vực thẳm.
 GS. Huỳnh Như Phương

Ðúng lúc ông cởi trần leo lên mỏm đá bắt khỉ đực thì núi lở, áo quần ông bị vùi lấp trong đống mối. Ông Diểu ôm con khỉ bị thương trở về nhưng giữa đường đành bỏ lại vì đuối sức. Mình ông trần truồng, hai tay không, đi giữa màn mưa bụi, bên những khóm hoa tử huyền nở trắng như muối của rừng.

Ðó là tóm tắt truyện ngắn Muối của rừng mà Nguyễn Huy Thiệp viết cách nay đã hơn 25 năm. Dẫu biết thiên truyện nói những điều sâu rộng hơn rất nhiều, không hiểu sao tôi lại nhớ đến nó khi nghe chuyện những người đã nhẫn tâm giết hai con voọc chà vá chân xám ở Tây Nguyên hồi tháng 7 vừa qua. Cái ác của con người có điểm dừng hay không và thiên nhiên bao dung có ngăn được cái ác hay không?

Từ câu chuyện hai con voọc bị giết đến dự án thủy điện Ðồng Nai 6 và 6A mà Báo Người Lao Ðộng kiên quyết lên tiếng, những vấn đề về môi trường sinh thái trên đất nước ta chưa bao giờ khẩn thiết và gây bức xúc như bây giờ.

Trong cuộc đấu tranh vì một môi trường sống hòa hợp với con người, văn học đã làm được gì? Phải chăng văn học vẫn còn bàng quan với chuyện sống còn này? Hình như văn học cho đây là một đề tài tầm thường hay ít ra chưa phải là ưu tiên số một so với những vấn đề cao siêu đáng để tâm hơn nhiều?

Thật ra, văn học Việt Nam từng có những tác phẩm rất hay viết về con người giữa thiên nhiên và thiên nhiên bao bọc con người.

Ðất rừng phương Nam và Tiếng gọi ngàn của Ðoàn Giỏi tha thiết một tấm lòng với đất trời, sông nước quê hương.

Nguyễn Minh Châu từng viết Sống mãi với cây xanh, nói lên tâm sự của một người ba đời làm nghề trồng cây cho thủ đô Hà Nội, đau đớn trước cái chết của cây sấu già khi đường phố mở rộng.

Với Rừng hồi, Hoa trái quanh tôi, Ai đã đặt tên cho dòng sông…, thiên nhiên là nhân vật trung tâm mang tâm hồn mẹ trong bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Dù sao, đó mới là những nỗ lực lẻ loi. Một số nhà văn hiện nay hờn tủi với cuộc sống đô thị nhưng vẫn không dứt khỏi cơn say của xã hội tiêu thụ, dè bỉu văn hóa cổ truyền nhưng chưa nhận chân rõ những thảm họa sinh thái xuất phát từ sự quay lưng với truyền thống. Vấn đề không phải là hoài cổ, vì có muốn hoài cổ cũng không được. Vấn đề là thiết lập sự cân bằng sinh thái cần thiết cho cuộc sống của chính con người hiện tại và mọi ý đồ, dù mới manh nha, về việc phá vỡ sự cân bằng này phải bị lên án.

Năm ngoái, trong một bài nói chuyện ở Viện Văn học, nhà nghiên cứu người Mỹ Karen Thornber cho biết trường phái phê bình sinh thái, như một khoa học liên ngành, đã xuất hiện ở phương Tây từ những năm 70 thế kỷ trước. Ðó là trường phái xem sinh thái như một giá trị nhân văn và văn học vì con người phải có tiếng nói về chủ đề này.

Nếu thời cổ đại, nhiên giới là trung tâm; thời trung đại, thần giới là trung tâm; đến thời phục hưng và cận đại, nhân giới là trung tâm thì thời nay, sinh thái là trung tâm. Trong viễn tượng của một "quyết định luận sinh thái", đối lập văn hóa với thiên nhiên là một quan niệm đã lỗi thời.

Ðến năm 1992, Hiệp hội Nghiên cứu Văn chương và Môi trường được thành lập. Văn học tham gia vào việc bảo vệ sức khỏe môi trường cũng là bảo vệ chính con người và những giá trị thuộc về con người. Chủ nghĩa nhân văn mới không còn xem con người là "thước đo của mọi vật", thậm chí là "chúa tể của muôn loài" mà là một thành phần cộng sinh của thiên nhiên nên phải biết coi trọng từng đơn vị sinh thái: một cây thủy tùng, một giống loài sinh vật biển, một cánh rừng nguyên sinh…

Sự suy thoái hệ sinh thái của một quốc gia không chỉ quy trách nhiệm cho những người quản lý đất nước mà cả cho sự thờ ơ của từng công dân, trong đó có những nhà văn.

Vấn đề môi trường gắn liền với số phận nhân loại có thể nhận thấy qua tình trạng bất công về sinh thái: Tại sao một vùng cư dân này phải chịu đựng nguồn nước bị ô nhiễm do nước bẩn thải ra từ các nhà máy phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa của quốc gia?

Tại sao một tộc người thiểu số này lại phải hy sinh đất đai, xa lìa quê cha đất tổ để nhường chỗ làm thủy điện hay nhà máy điện hạt nhân vì quyền lợi của một cộng đồng lớn hơn?

Tại sao những dân tộc nhỏ chậm phát triển phải chịu đựng tình trạng hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường do những nước công nghiệp phát triển thải ra?

Nếu văn chương là tiếng nói của số phận con người thì những hiện tượng như vậy đều không xa lạ với văn chương. Ðó vừa là vấn đề đạo đức vừa là vấn đề thẩm mỹ.

Sự tương tác giữa con người và thiên nhiên cũng như giữa những yếu tố của môi trường với nhau dẫn đến khái niệm "chỉnh thể sinh thái": Sinh thái là một "dây chuyền sống", phá vỡ một mắt xích là phá hủy cả chỉnh thể đó.

Nhà nghiên cứu người Pháp Jacques Vernier cho biết số lượng cá voi xanh trên thế giới trước đây là 250.000 con, nay chỉ còn khoảng dưới 500 con! Trước kia, số bồ câu di trú ở Bắc Mỹ có đến hàng tỉ, thế mà con chim cuối cùng loài này đã chết ở vườn thú Cincinnati năm 1914!

Vào thế kỷ XVI, ước tính cứ 100 năm thì có một loài động vật biến mất; đầu thế kỷ XX, mỗi năm mất đi một loài; còn ngày nay thì mỗi ngày mất đi một loài! Chưa bao giờ nhân loại chứng kiến sự đa dạng sinh học bị xâm hại khủng khiếp như hiện nay. Ðây thực sự là một nguy cơ có quy mô toàn thế giới.
Bây giờ vẫn còn nhiều những ông Diểu mùa Xuân mang súng vào rừng, thậm chí vào ngay dưới những vòm cây bên rìa thành phố để mà tận diệt chim muông, cầm thú. Những ông Diểu hãnh tiến và thành đạt bây giờ chắc sẽ chẳng ai đi về hai tay không như ông Diểu trong Muối của rừng. Và cũng sẽ chẳng có khóm hoa tử huyền nào chờ đợi họ. Mưa Xuân cũng không còn rắc trên đầu họ. Chỉ có một bầu trời mù xám màu chì dành cho họ mà thôi.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Nguồn: NLĐ


LA MAI THI GIA: RƯỢU NGON CẶN CÁU CŨNG NGON

Đàn bà được ví với rượu, thì hẳn rồi, cả hai đều chứa chất men khiến cho người ta say. Rượu có dở có ngon, đàn bà cũng có đàn bà ngon đàn bà dở, mà cái ngon dở này phải trực tiếp nếm thử mới biết, chẳng thể qua kinh nghiệm truyền lại của người khác mà mình hùa theo khen chê được.
Nhà phê bình La Mai Thi Gia

Rượu ngon có khi còn có thể… đoán được khi nhìn qua độ trong của sắc rượu, mùi thơm của hơi men, còn người đàn bà đẹp, nét đẹp hình thể thì chỉ nhìn thôi đã thấy, nàng đẹp như một bông hoa đẹp tràn ngập sắc hương:

“Rượu ngon chưa uống đã say
Lựu, lan chưa bẻ đã bay hương nồng”

Nhưng đó chỉ mới ngắm nhìn và thưởng thức vị thơm của rượu và mùi hương của người đàn bà, còn lại phải thưởng thức bằng tất cả các giác quan thì mới mong thấu cảm cho đầy đủ. Muốn biết rượu ngon đến đâu thì phải nếm thử 1 ngụm, rồi 2 ngụm xem cái cay cay nồng nồng ấy nó đằm đằm trong cuống họng rồi chờ nghe cái cảm giác âm ấm lăn tăn chạy dọc theo đường ruột vào bao tử. Rượu đã ngon thì cho dù có bao nhiêu người tới trước, nếm trước, dù đã uống tới đáy chai, đáy hủ, đến phiên mình được vét cạn những giọt rượu cặn cuối cùng vẫn còn nghe thơm rưng rức.

Ừ thì chuyện gì mà ông cha đã đúc kết bao đời thì cấm cãi: “Rượu ngon cặn cáu cũng ngon”.

Còn đàn bà ngon? đàn bà mà “Người xinh cái bóng cũng xinh/ Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn” ấy? thì chắc cũng như rượu ngon, chỉ nhìn và đoán thôi chứ không thử không nếm, thì làm sao mà biết cho tường tận cái giòn và cái ngon ấy nó có vị làm sao. Xinh thì xinh mặt xinh mày, xinh từ mái tóc cho đến làn da, xinh từ vóc dáng cho đến cử chỉ nói năng, hành vi đi lại duyên dáng và quyến rũ. Cái đó thì hẳn là dễ thấy, dễ đánh giá rồi, còn xinh đến cả bóng dạng, bóng hình thì…hơi quá. Mà thôi, qua con mắt của kẻ tình si, cái gì quanh người đàn bà hắn yêu mà không trở thành là ảo diệu.

Nhưng bài viết này mục đích chính không phải để nói về cái đẹp từ hình đến bóng của người đàn bà- cái đẹp rất là chủ quan trong con mắt của kẻ tình si mà là muốn tự hỏi và tự nói lên cái nỗi thắc mắc của lòng mình là tại sao sự quyến rũ của người đàn bà “giòn” được ví như rượu ngon đến mức ông cha từ thời xa xưa đã có những câu nói hết sức là bất chấp đạo lý phong kiến:

“Rượu ngon cặn cáu cũng ngon
Thương em bất luận chồng con mấy đời”

Hay

“Rượu ngon càng ủ càng nồng
Hai, ba đời chồng, son vẫn càng son”

Có người cho rằng đây là những câu ca dao đầy tính nhân văn của người lao động Việt Nam, thể hiện tấm lòng bao dung quảng đại của người đàn ông đối với người đàn bà chẳng may hôn nhân giữa đường đứt gánh, là lòng vị tha của người đàn ông dành cho người đàn bà góa chồng, và cũng là tình yêu vô điều kiện của người đàn ông đến sau dành cho người đàn bà nạ dòng đã từng có chồng con trước ngày anh ta đến.

Nhưng tôi thì không nghĩ vậy, làm gì có chuyện vô điều kiện ở đây, ngoài tình yêu của cha mẹ dành cho con cái thì tôi dám khẳng định chẳng có thứ tình nào là vô điều kiện, kể cả sự tôn sùng bái vọng của con người đối với đấng thiêng liêng. Để có được tình yêu và sự đắm say như mới của người đàn ông hiện tại thì người đàn bà “hai ba đời chồng” hay “chồng con mấy đời” ấy trước tiên phải vẫn là một người đàn bà đẹp hay rất đẹp, vẫn hấp dẫn hay rất hấp dẫn, vẫn ngon nghẻ cả về hình thức lẫn nội dung, phải đẹp từ bên ngoài và giòn ở bên trong, cái giòn mà dẫu có từng gần gũi với bao người đàn ông hay từng sinh đẻ con cái vẫn không thể mất đi ở họ. Chính cái đẹp, cái giòn trong cơ thể họ, trong tâm hồn họ, trong tính cách họ, trong trí tuệ họ, trong cái tỉnh tình tinh và những cái linh tinh khác của họ, mới khiến cho người đàn ông đến sau bất chấp tất cả để được sở hữu họ.

Tất tật tật những thứ đó, gom lại thành một chữ “duyên” được không? Cái duyên bẩm sinh của người đàn bà từ khi lọt lòng mẹ cho đến lúc già nua, cái duyên chết người có thể khiến cho bao người đàn ông chới với khi gặp và khao khát có được họ. Chẳng phải ông cha mình đã từng day đi day lại điều này sao:

“Có chồng thì mặc có chồng
Còn duyên anh ẵm, anh bồng, anh hun”

Vì cái duyên đó mà có những người đàn bà “nạ dòng” vẫn khiến cho bao nhiêu người đàn ông tơ tưởng, từ người đàn ông trưởng thành dày dặn kinh nghiệm đến những chàng trai tơ mới lớn còn ngây ngô trong chuyện gái trai. Và cũng vì thiếu cái duyên đó mà bao nhiêu gái son cứ cả đời son mãi vì chẳng thể giữ được người đàn ông nào ở lại được lâu bên cạnh mình, chẳng sở hữu được người đàn ông nào của riêng mình để chính thức được làm “cơm” chứ không phải mãi mãi an phận “phở”, để được làm người đàn bà nạ dòng chứ không phải là gái tân cho đến già. Ai đó đã nói: “Đẹp không phải là hút người đến mà là để giữ người ở lại”, nếu chỉ là cái đẹp hình thức thì chẳng chóng sẽ chầy, người đến cứ đến ào ào nhưng đi thì cũng đi rất mau, bởi cái đẹp bên ngoài đâu thể nào vĩnh cửu, và sự vô duyên của người đàn bà chính là cái đuổi người ta đi mau nhất.

Mà nói đi rồi phải nói lại, cũng chẳng thể phủ nhận sạch trơn cái tình của người đàn ông đến sau dành cho người đàn bà “nạ dòng” mà họ yêu, ừ thì biết là chẳng có thứ tình yêu nào vô điều kiện, rằng người đàn bà hai ba đời chồng ấy vẫn còn đẹp, còn giòn, còn duyên, còn quyến rũ nhưng có lẽ khi đã yêu rồi thì đối với người đàn ông, đó chẳng còn là tiêu chí hàng đầu. Chẳng phải tôi đã nói ở trên rồi, rằng qua con mắt của kẻ tình si thì mọi thứ có liên quan đến người đàn bà họ yêu đều đẹp một cách bất thường đó hay sao?

Không chỉ trong ca dao bình dân mới ca ngợi những tình yêu đó, mà trong một truyện thơ nổi tiếng của dân tộc Thái nước ta, truyện thơ Tiễn dặn người yêu, người Thái cũng đã viết nên những câu thơ kinh điển về tình yêu bất diệt của đôi trai gái, bất chấp thời gian tàn phá nhan sắc của người đàn bà như thế nào, bất chấp cuộc sống khốn khổ của nàng trong tay hai đời chồng trước vũ phu như thế nào thì đối với người đàn ông đã từng yêu nàng khi nàng còn là một thiếu nữ mới lớn trẻ trung xinh tươi…thì nhan sắc của nàng vẫn như chưa từng thay đổi. Và anh đã dùng những lời lẽ yêu thương để dỗ dành người đàn bà mình yêu từ thời trai trẻ như thế này:

“Gái góa hai ba lần vẫn đẹp
Hơn gái tơ ba ngấn cổ cao
Má hồng hơn tuổi xuân đào
Yêu thương ắt hẵn dạt dào hơn xưa”

Trong con mắt của anh, gương mặt sạm đen nắng gió vùng núi cao vì bị đem ra chợ bán như một món hàng của người đàn bà anh yêu vẫn đẹp lắm, đôi má nàng vẫn hồng hào hơn những cô gái tuổi xuân xanh, và tình yêu của anh đối với nàng vẫn dạt dào hơn gấp bội phần.

Tôi mượn câu nói của Kim Trọng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du để kết thúc bài viết này, khi nghe nàng Kiều buông những lời xót xa cho thân phận 15 năm lưu lạc của mình để từ chối tình yêu của chàng, rằng:

“Thiếp từ ngộ biến đến giờ
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa”

Thì Kim đã dịu dàng đáp lại nàng bằng những lời âu yếm chân thành:

“Hoa tàn mà lại thêm tươi
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”

Ừ, thì tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ dân gian cho đến bác học, đâu đâu mà không nhắc tới cái chất men của người đàn bà, cái chất men mà người đàn ông yêu họ đã nếm một lần rồi là nhớ mãi, cái chất men mà khi dốc cạn bình rồi thì “cặn cáu vẫn ngon”.

LA MAI THI GIA
Nguồn: NVTPHCM



Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

TRẦN LÊ SƠN Ý: NHỮNG CÔNG-ÁN-THI-CA KHÔNG GIẢI ĐÁP?

Ở lãnh vực VHNT, tôi nhận thấy, dường như trước một hiện tượng hay, một phong trào, dư luận đám đông thường chẻ đôi: Bênh / chống.

Cũng thế, khi những cây bút trẻ trưởng thành sau biến cố tháng 4-1975, rầm rộ lên đường với chủ tâm chứng tỏ sự hiện diện, hoặc cho thấy “đẳng cấp” của mình; qua nhiều chọn lựa phong cách chữ, nghĩa khác nhau - Khiến một số người đọc hoang mang, ngơ ngác trước những xu hướng như:

- Không ngần ngại dấn sâu vào lãnh vực dục tính...

- “Lên đồng chữ, nghĩa” với những chủ đề lớn như sinh, tử, triết lý hư vô... (Hoặc)

- Lý luận, biện giải về tình yêu, đời thường với những từ ngữ “cao siêu” tới mức không ai hiểu, nhằm phô diễn kiến thức “tự đồng thiếp” của họ...
Nhà thơ Trần Lê Sơn Ý

Trước những hiện tượng này, dư luận thường chẻ đôi: Một số hưởng ứng, ủng hộ. Cho rằng đó là... “cách tân” là... “đổi mới”. Là ngang tầm... hiện đại. Số khác lắc đầu! Ngao ngán! Cho là vô nghĩa. Hoặc, chỉ cho thấy nỗ lực “phá sản” chữ, nghĩa một cách đáng lo ngại!

Đứng ngoài, rất xa mấy xu hướng trên, may mắn thay, người đọc vẫn gặp được những dòng thơ trong, lành của những cây bút thuộc thế hệ trưởng thành sau biến cố tháng 4-1975. Có nhiều người rất trẻ. Họ thuộc thế hệ sinh sau tháng 4-1975.

Trong số những người trẻ làm thơ, viết văn, thuộc thế hệ vừa kể, tôi thấy có Trần Lê Sơn Ý, sinh năm 1977, tác giả thi phẩm “Cơn ngạt thở tình cờ”. Người được nhà thơ Ý Nhi cho là có những bài thơ “rất trong” và, “rất tươi”.

 Không “đồng thiếp chữ, nghĩa” để chứng tỏ “đẳng cấp” mà, chỉ bằng vào những cảm xúc ghi nhận được từ đời thường, nhưng cõi-giới thi ca của Trần Lê Sơn Ý không vì thế mà không mới. Lạ. Thí dụ trong bài “Hẹn nhau một nụ cười”, Trần Lê Sơn Ý viết:

 “Hẹn nhau một nụ cười 

Giữa những làn xe
Ào ạt
Nụ cười không dừng lại mà trôi
Người đi xuôi ngược

Hẹn nhau một cái gật đầu
Mỗi lần đi ngang ô cửa
Bao giờ cũng tưởng tượng
Hoa tầm xuân giăng biếc góc đường

Hẹn nhau một cơn mưa xuân
Chiếc dù đỏ chói chang chặn bao lời bất tận
Bài hát đành là giai điệu nằm yên
Đợi...”

Và:

“Nụ cười thành đoá hoa bất thần
Nở giữa đi về dào dạt
Tôi cắm trong bình tôi
Ngày mai
Mùa còn đến kịp.”

Ba câu cuối, ở đoạn thơ trên, cho người đọc “đóa hoa bất thần” được “Tôi cắm trong bình tôi / Ngày mai / Mùa còn đến kịp.”

Hoặc mấy câu trong bài “Đồng thoại”, Trần Lê Sơn Ý viết:

“...Tôi đã hát những đêm đông xám buốt, những trưa vàng
Hát trên đầu ngọn sóng, hát dưới đồi sỏi xanh
Hát bằng nỗi sợ hãi của chú ve
Dưới sân khấu chỉ có mùa hè mặc áo đen làm thính giả...” 

Tôi nghĩ, không cần phải có một khả năng liên tưởng mạnh mẽ gì, chỉ với chút lắng tâm, nghiêng hồn, ta cũng có thể thấy một loạt hình ảnh và, những cảm thức đậm thi tính tương tác chặt chẽ với nhau, như một nối kết bất khả chia, lìa - - Giữa “chú ve, nỗi sợ hãi, sân khấu (mùa hè) thính giả” và, bất ngờ hình ảnh thật mới mẻ: “mùa hè mặc áo đen”...

(Thính giả nào mặc áo đen trong đoạn thơ này (?) Nếu không phải chính là chú ve lắng nghe tiếng hát mình dội lại niềm cô tịch, mang tên “nỗi sợ hãi”?)

Trước đó, Trần Lê Sơn Ý cũng cho người đọc cảm thức riêng, bất ngờ của cô, khi:

“Chỉ xin làm con phù du đơn độc
Một lần bay chạm mặt bình minh
”

Không “đồng thiếp chữ, nghĩa” để chứng tỏ “đẳng cấp”, không khai thác dục tính để chứng tỏ... “bản lĩnh”... thời thượng như một số những cây bút trẻ khác, Trần Lê Sơn Ý chỉ bằng vào những cảm xúc ghi nhận được từ đời thường... Nhưng cõi-giới thi ca của Trần Lê Sơn Ý, tự thân “rất trong” và “rất tươi”, đã mang lại cho người đọc một thổ-ngơi khác. Chúng như những cơn gió đưa hơi mát và, chút heo may về giữa đất trời phỏng, rẫy nắng hạn. Chúng như những trận mưa êm đềm, lay tỉnh ta thức giấc giữa ngột ngạt đêm; để thấy mình tách thoát khỏi mạch chảy dằn xóc xu hướng “thức ăn nhanh”, “mì ăn liền” hiện nay:

“Em nhận ra niềm vui kia mang gương mặt của nỗi buồn
Và từ đó nỗi buồn cứ theo em mỗi lần bay lên và rơi xuống”

(Trích “Bông tuyết”)
Hoặc:

“Này đôi mắt của bình nguyên
Đừng giấu trong veo trên đầu ngọn cỏ
Tôi sợ mặt trời lên 
Này đôi mắt của bình nguyên
Đừng giấu giọng nói của mình trong mắt lồ ô
Tôi làm sao tìm nổi
Chẳng lẽ ngàn năm ngồi đợi gió mơ hồ 
Này đôi mắt của bình nguyên
Đừng giấu đỏ hoe vào sau bờm ngựa
Hãy cứ nhìn tôi như lá cỏ ấy
Cho ngựa ăn đi rồi dắt chúng ra về”

(Trích “Đôi mắt bình nguyên”).

Tuy nhiên, một khía cạnh khác trong thơ Trần Lê Sơn Ý khiến tôi chú ý nhiều nhất, là những câu thơ như những câu hỏi bình thường, nhưng gợi mở của chúng lại dẫn đắt tôi tới liên tưởng của những... “công án”. Tôi muốn gọi đó là “công-án-thơ”, trong cõi-giới thi ca Trần Lê Sơn Ý.

Thí dụ trong bài thơ “Gọi mưa”, Trần Lê Sơn Ý viết:

“Đôi mắt em làm tôi nhớ tiếng chuông chùa”

Trước nhất, với tôi, câu thơ này, như cánh cửa mở rộng, thênh thang cho mỗi người một cảm nhận riêng - - Một câu thơ hôm nay (cũng như) hôm qua, ít có.

Và, chính tính thênh thang, mở rộng của câu thơ, đem đến cho tôi câu hỏi: Tiếng chuông chùa nào?

- Tiếng chuông chùa gợi niềm an lạc?
-Tiếng chuông chùa phổ độ chúng sinh?
-Tiếng chuông chùa chiêu hồn quỷ đói?
- Tiếng chuông chùa lưu ý ta cuộc đời vô thường? (Hay)
- Tiếng chuông chùa nhắc nhở ta buông bỏ “ngã chấp”?
... 

Cũng thế, chỉ cách hai câu, Trần Lê Sơn Ý viết:

“Và tiếng hát em sẽ trở lại
Những ngôi mộ trên cao cũng bớt u buồn
”...

Trong tôi, lại dấy lên những câu hỏi: Tiếng hát nào?

- Tiếng hát chia sẻ nỗi buồn, nhập được vào những ngôi mộ?
-Tiếng hát là chiếc cầu nối âm, dương?
-Tiếng hát thâu ngắn khoảng cách giữa hiện thực và cõi u linh?
- Tiếng hát đem ánh sáng bình minh vào sâu hầm mộ tối? (Hay)
- Tiếng hát như những lời ru chân thiết, dành cho những lãng quên, vốn là bản chất lạnh lùng, tàn khốc của thời gian?

Tôi không biết. Tôi không có câu trả lời rốt ráo. Ngay Trần Lê Sơn Ý, tôi nghĩ, cũng sẽ không có câu trả lời rốt ráo cho “công-án-thơ” của mình.

Với tôi, đó là những câu thơ hiếm hoi. Những câu-thơ-mở tới những tầng trời khác.

Bằng vào tự tin khi tách biệt mình khỏi những xu hướng “đồng thiếp”; bằng vào những “công-án”, tình cờ hiện ra như những điểm son trong thơ của mình, tôi cho đó là những dấu ấn mạnh mẽ nhất trong cõi-giới thơ Trần Lê Sơn Ý vậy.

DU TỬ LÊ
Garden Grove, June 2015
Nguồn: dutule.com




Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

NHÀ THƠ NGUYỄN TẤN VIỆT: CON ĐƯỜNG CỦA SỰ MƠ HỒ

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không sao thoát khỏi hình ảnh về nhà thơ Nguyễn Tấn Việt. Đó là một con đường đơn độc - con đường của thơ ca - và Nguyễn Tấn Việt đi trên con đường ấy từ thuở mười tám đôi mươi cho đến giờ. Ông cứ thế kiên nhẫn bước đi chưa một lần ngừng bước. Dù cho thời tiết và con người thay đổi thế nào, quanh ông và tay ông chưa bao giờ dời bỏ ngọn lửa của thơ ca.
Nhà thơ Nguyễn Tấn Việt

Thơ ca chạm vào ông giống như lửa chạm vào xăng không gì có thể ngăn nổi. Không ít người đã từng kêu lên: thơ đã chết. Nhưng ông là một trong không nhiều nhà thơ là sự minh chứng tin cậy nhất rằng, thơ ca vẫn sống mãnh liệt trong đời sống con người. Gương mặt ông đẹp nhất, thánh thiện nhất và uy quyền nhất là những khi ông đọc thơ. Ông đứng đọc thơ giống như một con chim đang bay thẳng đứng lên trời xanh và vừa bay vừa cất tiếng hót. Khi ông đọc thơ thì mọi ưu phiền không phải trong ông mà trong chúng ta vụt tan biến.

Sau khi Nguyễn Tấn Việt tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, ông trở thành phiên dịch cho các chuyên gia Thụy Điển trong những ngày đầu xây dựng Nhà máy Giấy Bãi Bằng. Đấy là những năm 70 của thế kỷ trước. Ngày ấy, những chùm thơ của ông thường xuyên xuất hiện trên Báo Văn nghệ và các tờ báo lớn. Nhưng rồi đến một ngày, ông phải lựa chọn một trong hai con đường. Một con đường của hiện thực vật chất (làm việc cho người nước ngoài) và một con đường của sáng tạo mơ hồ (thơ ca). Ông đã chọn con đường của sự mơ hồ và bước đi với tình yêu lớn mà không hề lưỡng lự. Đấy là con đường mà mỗi nhà thơ phải tự đi một mình. Ông dời bỏ công việc phiên dịch cho các chuyên gia Thụy Điển để về làm biên tập thơ cho một tạp chí nhỏ hai tháng ra một kỳ của một phòng sáng tác thuộc một Ty Văn hóa Thông tin.

Làm cho các chuyên gia nước ngoài ngày đó và cả bây giờ luôn luôn là một cơ hội tốt để thay đổi đời sống. Ngày ấy, một sự thật hiển nhiên là chỉ những vỏ chai, vỏ đồ hộp vứt quanh các khu chuyên gia nước ngoài không thôi cũng là một nguồn thu đáng kể của một số người. Nhưng Nguyễn Tấn Việt đã dời bỏ con đường chắc chắn là đảm bảo một đời sống vật chất cho ông và gia đình ông để đi theo một con đường mà ông cũng chắc chắn biết đời sống vật chất sẽ khó khăn. Nhưng không chỉ khó khăn mà ông phải sống một đời sống vô cùng khó khăn.

Vợ chồng ông có năm người con, vợ ông làm ruộng, còn ông là một công chức quèn, chính thế mà ông phải gánh chịu những năm tháng khốc liệt của cơm áo. Vậy mà ông không hề kêu ca, phiền muộn và chưa một lần thơ ông đánh mất bản chất thiêng liêng của nó. Cứ khi một câu thơ vang lên thì thế gian ông đang sống với nỗi kinh hãi về đồng tiền lại ngay tức khắc biến thành thiên đường của cái đẹp và tình người sâu nặng. Thơ ca đã giải phóng ông khỏi sự đầy đọa của đời sống vật chất. Ông đọc thơ trong quán nước chè và trong nhà trường. Ông đọc thơ trong hội nghị và trên giường ngủ. Ông đọc thơ trong tiệc cưới và trong nhà tù. Dù đọc thơ ở đâu ông cũng đắm say và uy quyền như thế. Bởi với ông, thơ ca không là sở hữu của riêng ai, thơ ca là của đời sống.

Người ta kể rằng: có một người bạn cưới con mời ông đến dự tiệc. Ông trịnh trọng trao một phong bao mừng hạnh phúc đôi uyên ương mới. Nhưng trong phong bao đó không phải là tiền mà là một bài thơ. Khi mở phong bao ra, vợ người bạn đã "sầm mặt" vì không thấy tiền. Sự thiêng liêng và giá trị nhân văn đã bị xúc phạm. Người đàn bà kia đã đánh mất cái giá trị vĩnh hằng của văn hóa và thay vào đó là nuối tiếc cái giá trị ngắn ngủi của những đồng tiền. Người đàn bà đó không phải là trường hợp cá biệt. Có thể chưa từng có câu chuyện như thế. Nhưng người nào đó làm ra câu chuyện này chỉ nhằm thông báo về một đời sống tinh thần đang bị vật chất đe dọa. Những năm tháng thiếu thốn về vật chất và nhiều giá lạnh của tình người, chỉ có thơ ca mới cứu thoát ông và làm trong sạch ông khi xung quanh ông biết bao điều và bao người đang bị phủ đầy rác bụi.

Người ta luôn luôn mang cảm giác khi ông đi đến đâu thì một đời sống tinh thần của thi ca hiện ra đến đó. Ông lôi kéo không chỉ những người làm thơ quen biết ông mà cả những người ông không biết viết một câu thơ nào vào thế giới của sự say đắm, sự nhân ái và sự thiêng liêng của thơ ca. Bởi thế mà ông sống không lừa dối ai và không thù hận ai. Bạn bè vô cùng ngạc nhiên về sự dịu dàng tinh tế của ông đối với cả những kẻ đố kỵ, ghen ghét và đôi khi có những hành động ác với ông trong cuộc sống thường nhật.

Ai đó không phải với ông, ông bước đến nhẹ nhàng và nói như nói với một người thân: Chúng mình là người làm thơ, ai lại đối với nhau như thế nhỉ. Bởi với ông, thơ ca là để chia sẻ chứ không phải để thách đố nhau. Vậy mà cho đến bây giờ, có những người đã qua lâu rồi cái tuổi "tri thiên mệnh" mà vẫn ghen ghét, đố kỵ với ông. Nhưng với ông, mặt lá nào cũng biếc xanh, mặt người nào cũng ngời sáng. Có lẽ đó là một trong những lý do để ông sinh ra những câu thơ: Nếu không yêu mặt đất/ Trên trời mây không bay. Hai câu thơ này trong bài thơ Những người sống trong mây đã tôn vinh ông lên giải nhất trong cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn cách đây bốn năm. Báo Văn nghệ đã nhận đúng giá trị của những câu thơ đó và đặt bài thơ và tác giả của nó vào đúng vị trí.

Ông từng nhận giải thưởng thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ông nhiều lần nhận giải thưởng thơ của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật toàn quốc và các giải thưởng uy tín khác. Nhưng tất cả những giải thưởng đó không làm con người ông thay đổi như nó vốn thường thay đổi không ít các nhà thơ. Sau mỗi giải thưởng, ông lại trở về một tỉnh miền núi nơi ông đang sống và làm việc để tiếp tục suy ngẫm và sáng tạo trong im lặng vốn là bản chất và ý thức của ông. Mỗi giải thưởng đối với ông như một vụ mùa. Mà thơ ca như những cánh đồng rộng lớn của thế gian. Ông chỉ biết đắm say gieo trồng và đắm say gieo trồng cho tới khi nào có thể.

Có không ít những người bạn thơ của ông đã không chịu nổi sự mơ hồ và cô độc trên con đường của thi ca đã phải rẽ sang ngả khác. Bởi không ít người đi mãi, đi mãi vẫn không thấy được lợi quyền gì cho riêng họ trên con đường ấy. Nhưng nhà thơ Nguyễn Tấn Việt chưa một lần lưỡng lự, chưa một lần hoang mang. Ông đi một mình trên con đường ấy trong mọi thách thức, trong mọi cám dỗ mà chẳng hề đổi thay.

Một nhà thơ đã nói với tôi: Tình yêu thơ lớn lao không vụ lợi của Nguyễn Tấn Việt làm cho tôi nhiều lúc phải xem lại chính bản thân mình. Lúc này, trong lòng tôi lại vang lên những câu thơ của ông :

Giấc ngủ ngủ trong mây
Sấm chớp rơi vào mặt
Nhưng không ai ngửa tay
Xin trời cao tiếng hát

     (Những người sống trong mây)

Tôi thường nghĩ, Nguyễn Tấn Việt không làm ra những câu thơ như những người xưa ngồi trong phòng hì hục với "thuật giả kim" mong tìm ra cái sản phẩm cuối cùng mà họ mong muốn mà tôi tin đời sống đi qua tâm hồn ông, đi qua tình yêu con người và thiên nhiên của ông và trở thành những câu thơ. Thơ ca không bao giờ là sản phẩm của "thuật giả kim ngôn từ" mà là sản phẩm của những biến động tâm hồn mang tính sự kiện.

Khá nhiều những người làm thơ của thế hệ sau ông đã mang thơ đến cho ông. Cái ông chờ đợi đầu tiên và quan trọng nhất ở những người làm thơ ấy là những thông điệp của tâm hồn họ, rồi sau đó mới đến những vấn đề thuộc kinh nghiệm và kỹ thuật. Chính vì thế mà một số học trò thơ ca trong những bước đi đầu của họ đã được ông truyền ngọn lửa của tình yêu con người và cái đẹp, những trải nghiệm sống, trải nghiệm sáng tạo, đã trở thành những nhà thơ có tên tuổi hiện nay.

Bây giờ, nhà thơ Nguyễn Tấn Việt vẫn sống và vẫn sáng tạo thơ ca cùng dịch thuật như ông đã làm mấy chục năm nay ở một tỉnh miền núi. Cuộc sống của ông vẫn như thuở trước. Ông hình như chẳng lúc nào nghĩ mình phải ăn như thế nào, uống như thế nào. Ông chẳng bao giờ phải nghĩ mình sẽ ở trong một ngôi nhà như thế nào và đi chiếc xe như thế nào. Vật chất, chất lượng A và chất lượng Z, với ông đều như nhau. Những thứ đó chẳng mảy may chạm vào lòng ông. Chỉ có thơ ca ngày đêm với ông như hình với bóng. Thiếu thơ ca ông sẽ ốm đau. Ông chỉ vụt trở nên tinh thông, trở nên đẹp đẽ, trở nên ngùn ngụt như một con cá khi được trả lại đại dương thơ ca mênh mông. Khi không có thơ ca thì một miếng ăn mặn nhạt ông cũng không phân biệt được rõ ràng. Ông không là người làm đột biến thơ ca nước nhà nhưng ông là người giữ cho những phẩm tính của thơ ca và của thi sỹ luôn luôn trong sáng và thiêng liêng.

Trên những con đường của một thị xã miền núi, ông vẫn đạp xe như muôn vàn người dân khác. Rất ít người nhận biết được ông là một nhà thơ. Chỉ có vẻ đẹp của đời sống và những bất trắc của phận người nhận ra ông là một thi sỹ.

NGUYỄN HOÀ BÌNH

__________________________________

Nhà thơ Nguyễn Tấn Việt sinh ngày 26 tháng 12 năm 1948, quê tại xóm Chùa Cát, thôn Lam Điền, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông từng công tác tại Sở Văn hoá thông tin tỉnh Hoà Bình. Hiện về sống ở quê nhà Chương Mỹ.
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Tác phẩm đã xuất bản:
- Màu cây miền châu thổ (tập thơ in chung với Hoàng Hữu, 1976)
- Ba con nai trắng biết bay (tập truyện dịch, 1983)
- Cánh giang bay lẻ (tập thơ, 1992)
- Văn hoá gia đình người Mường (tập chuyên đề khoa học, 1994)
- Mảnh trăng núi (tập thơ, 1995)
- Giọt nắng trong mơ (tập thơ, 1996)
- Mùa hoa chuông (tập thơ in chung với Đặng Ngọc Thành và Lò Cao Nhum, 1997)
- Hạt gạo đồng trời (tập thơ, 2000)
- Rừng xanh một mình (tập thơ, 2003)

Giải thưởng văn học:
- Giải A về thơ của tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
- Giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam với tập thơ Hạt gạo đồng trời.

Nguồn: NVTPHCM

Thơ NGUYỄN TẤN VIỆT


NHỮNG NGƯỜI SỐNG TRONG MÂY

Chén trà pha trong mây
Vác núi đi kín nước
Lời mời, mời trong mây
Lấy ra từ đá sắc
Giãy ngủ ngủ trong mây
Sấm chớp rơi vào mặt

Nhưng không ai ngửa tay
Xin trời cao tiếng hát

Tình yêu yêu trong mây
Trước khi đi gặp người
Anh phải qua gặp thác
Ngày hai bận sóng đôi
Ngày bốn lần đỏ mắt

Những người sống trong mây
Càng bám sâu lòng đất
Hương thơm thơm trong mây
Bay lòng thung sâu nhất
Cối giã gạo trong mây
Hơi sương bốc lên mát
Viên đạn bắn trong mây
Đồ kẻ thù trước mặt

Nếu không yêu mặt đất
Trên trời mây không bay.


CON TÀU MÂY TRẮNG

Tôi chạy theo con tàu mây trắng
Khi các con tôi hát bài về mẹ cha và các
thiên thần
Những vì sao bay ra từ những đôi môi đính
vào cánh đồng những con cò trắng
Sóng biển cồn lên bởi những cánh chuồn chuồn

Tôi chạy theo bài hát của các con tôi
Bài hát mà tôi không tìm cho cha tôi được
Tôi là người, là cỏ cây, là mây nước
Bốn phía chân trời không một dấu chân tôi

Tôi bay bằng những bài hát của những thiên thần
Con quạ trắng kêu 60 năm không ngủ
Tôi không còn chân tay, không còn mặt mũi
Chỉ có trái tim run rẩy với sương mờ.


NGƯỜI THẾ KỶ TRƯỚC 

Có một người từ thế kỷ trước
Nước mắt màu nõn chuối
Nụ cười lợt hoa ngâu
Lừa khi tôi ngủ trưa gối đầu lên tay
Nằm mộng
Người trở về
Dúi vào tay tôi lá cả đẫm sương
Cài vào áo tôi cành hoa trinh nữ
Vùi vào tóc tôi lời thề
Hoang dã

Tan mơ tôi hoảng sợ
Thề không bao giờ nằm mộng.


CÓ THỂ       

Có thể hái hoa ta chẳng có nhau
Cũng sương nắng thôi bốn mùa đều có thật

Bạn cứ hát tôi xa nghe bạn hát
Dù tôi đang không ý nghĩ không lời

Bạn bè ơi! Bản nhạc có thiếu tôi
Đừng bận lòng hát tôi khi chạm cốc
Nhưng xin nhớ khi cạn khô lời chúc
Xin bạn đừng đập cốc gọi tên tôi.


GIẤC NGỦ CON NGƯỜI     

Tình cờ tôi được ngắm con người
Ngủ ngồi
Hướng về vườn cây cảnh
Lồng một khoảng đêm vào ngày
Tay buông lỏng
Như vừa buông một cánh chim bay
Bờ mi khép vào gương mặt mở
Giấc ngủ sâu - nước lặng hồ mây
Anh ngủ ngồi - thai nhi trong bụng mẹ
Khoảng nắng như bọc hồng
Giấc ngủ thơm hương mật ong
Bờ môi ngậm
Tiếng chào cây cỏ
Và bài ca hát hết con đường
Tôi từng núi xa ngắm bao biển bao trời
Chưa bao giờ mây bay trong tôi
Bằng giấc ngủ ngồi
Bằng hương thơm giấc ngủ một con người.


CHÂN TRỜI         

Tôi từ chân trời lạ
Vọng về quê cha mờ nắng hóa chân tời
Tôi đâu ngờ khói bay bóng núi
Là cõi lòng của tôi
Tôi đâu ngờ dưới hồng tím chiều mây
Cha tôi ngồi đan giỏ khô màu tóc
Các con tôi, em cười, anh khóc
Giành nhau trái vàng dập nắng lấy nhân ăn
Tôi đâu ngờ dưới bảy sắc cầu vòng
Vợ tôi giật lùi cấy vào buốt giá
Cái rét quê chồng tím làn môi vợ
Nơi mặt trời về gặp gỡ sao hôm
Mẹ già tôi tựa cửa
Tiếng chim kêu đỏ vầng trăng khuyết
Cánh vạc bay gãy khúc ca chèo
Tôi bần thần trở về quê cha
Lại đăm đắm nơi chiều xa, lạ, cũ
Nỗi lòng cầm tay
Thành khói lên mờ nắng chân trời.


Thứ Hai, 11 tháng 2, 2019

VÀI SUY NGHĨ VỀ LỤC BÁT NGUYỄN BÍNH

Nguyễn Bính giữ lại cái vỏ cấu trúc câu thơ trong ca dao, đưa vào đó tư tưởng, tình cảm mới. Chúng ta bắt gặp hàng loạt cấu trúc ca dao trong thơ ông như bao giờ, ai đem, ai xui, ai đi, có cô, bao nhiêu - bấy nhiêu, anh đi, anh về, nào đâu…
Nhà thơ Nguyễn Bính

Gần đây, vì công việc cá nhân nên tôi tìm đọc lại Nguyễn Bính, chủ yếu là lục bát. Đọc chậm, nhẩn nha kiểu “trâu gặm cỏ”, khoanh tròn, tô đậm từng câu, từng bài để tìm điều mình mong muốn. Lúc này, mới thấy những nhà làm tổng tập tác giả thật… “vĩ đại”. Thay vì phải mò mẫm, lần theo tiểu sử để truy nguyên lại các tác phẩm đã xuất bản thì giờ chỉ cần một cuốn sách là gom đủ toàn bộ sáng tác của cả đời văn, rất thuận tiện cho việc tra cứu, nghiên cứu.

Về lục bát Nguyễn Bính, mọi người, dù là trong hay ngoài giới văn chương, hẳn đều biết đến một đặc điểm phong cách nổi bật, bao trùm, đó là sự thấm đượm chất dân gian, hồn quê của dân tộc. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình ở nhiều cấp độ chứng minh tính xác thực của nhận xét trên. Tuy nhiên, khi đọc lại tiểu sử nhà thơ, trong đầu tôi chợt nảy ra một thắc mắc. Nguyễn Bính sinh ra, trưởng thành trong thời điểm Hán học đã suy tàn nhưng những bậc túc nho còn nhiều, văn chương chữ Hán vẫn có hấp lực nhất định đối với những người cầm bút. Câu chuyện về Nguyễn Bính thi dịch thơ chữ Hán với Lê Tràng Kiều, họa sĩ Nguyệt Hồ ở tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ 5 dẫu mang tính chất giai thoại nhiều hơn sử liệu nhưng đã chỉ ra một điểm rằng Nguyễn Bính là người am hiểu về Hán học. Một con người có hiểu biết như thế, sinh ra trong hoàn cảnh văn chương như vậy chả lẽ trong sáng tác lục bát chỉ thuần mang hồn cốt làng quê Việt?

Để giải đáp cho thắc mắc đó, không cách nào khác ngoài việc quay lại với lục bát Nguyễn Bính theo hướng truy tìm những dấu vết Hán học, cụ thể là việc sử dụng các điển tích, điển cố văn học. Sau khoảng thời gian “cùng ăn cùng ngủ” với những câu “sáu nổi, tám chìm” của họ Nguyễn, kết quả tìm được rất đáng khích lệ. Trong tổng số 133 bài lục bát (theo Nguyễn Bính toàn tập do Nguyễn Bính Hồng Cầu biên soạn)(1), có 14 bài Nguyễn Bính sử dụng điển tích, điển cố với số lượng trích dẫn là 20 lần. Trong 20 điển tích, điển cố văn học ấy, chỉ có duy nhất một điển tích thuộc về văn học Việt Nam, đó là trường hợp Nguyễn Bính đề cập tới tích truyện nàng Thị Kính qua câu thơ Oan Thị Kính, oán tày đình trong bài Xây hồ bán nguyệt. 19 điển tích còn lại đều thuộc về văn học Trung Quốc. Bên cạnh những điển tích, điển cố khá quen thuộc với nhiều người như Chiêu Quân cống Hồ (Chiêu Quân lên ngựa mất rồi - Một con sông lạnh), mây tần (Mây tần lạc nẻo cố hương mất rồi - Nửa đêm nghe tiếng còi tàu), Tư Mã Tương Như cầu hôn Trác Văn Quân (Người xưa đã phụng cầu hoàng - Ngọc vô duyên), thanh nhãn (Mắt xanh thiên hạ thiếu gì - Con nhà nho cũ), Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng (Đã qua sông Dịch thì thôi không về - Nửa đêm nghe tiếng còi tàu), Hạng Vũ tự ải (Phải đâu Ba Thục hay bờ Ô giang - Nam kì cùng gió cùng mưa), Đào Uyên Minh khí tiết sáng ngời (Cẩn giờ lại hóa Uyên Minh họ Bùi - Con nhà nho cũ), Ngũ Tử Tư một đêm bạc tóc (Một đêm mái tóc quá quan thay màu - Nghĩ làm gì nữa), Bạch Cư Dị viết Tì bà hành (Lệ Giang Châu thấm cho đầy áo xanh - Một đêm li biệt), Thôi Hộ đề thơ (Hoa đào nở phụ gió đông - Xin chớ Hải Đường), thanh điểu (Lòng vàng lạc cánh chim xanh - Quê tôi), Nguyễn Bính còn sử dụng những điển tích có độ phổ biến ít hơn như “phá phủ trầm chu”, “chuyện Vĩ Sinh”… Nhìn vào hệ thống điển tích, điển cố kể trên, chúng ta cũng cảm nhận được phần nào cuộc đời và tâm trạng của ông. Lang thang khắp nơi trên dải đất hình chữ S, khi ở Hà Nội phù hoa, lúc ngược lên miền núi sơn cước, khi vào ăn dầm ở dề trong cơn mưa Huế hàng mấy tháng trời, lúc vào Sài Gòn nắng chang chang mà nhớ tết, khi về Hà Tiên vãn cảnh, Nguyễn Bính không lúc nào nguôi nỗi nhớ quê. Hình ảnh vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại là gợi nỗi nhớ quê hương thầm kín trong ông. Những điển tích về Kinh Kha, Hạng Vũ, Ngũ Tử Tư, những bậc anh hùng tài danh nhưng đều thất bại trong sự nghiệp, cũng là hình ảnh của Nguyễn Bính về giấc mộng công hầu dang dở của mình. Sự tích về Thôi Hộ, Trác Văn Quân, Chiêu Quân kín đáo phản ánh những mối tình dở dang của Nguyễn Bính với những bóng hồng trong cuộc đời mình. Với việc sử dụng điển tích, điển cố với mật độ tương đối: 14 bài trên tổng số 133 bài, chiếm tỉ lệ 10,5%, Nguyễn Bính đã cho thấy lục bát nói riêng và toàn bộ tác phẩm của mình nói chung bên cạnh vẻ chân quê “hương đồng gió nội” còn mang tính... bác học. Thiết nghĩ đây là điểm cần hết sức lưu tâm trong việc nghiên cứu lục bát nói chung và thơ Nguyễn Bính nói riêng.

2. Văn học dân gian là “mã nguồn mở” để các nhà thơ lựa chọn chất liệu đưa vào trong sáng tác của mình. Với thể thơ sinh ra từ văn học dân gian, cụ thể là ca dao như lục bát, điều này là tối quan trọng. Quay trở lại truyền thống, cách tân, đưa vào truyền thống hơi thở thời đại mình là “công thức” thành công của các nhà thơ thành danh bằng lục bát. Mỗi nhà thơ lại tùy biến công thức trên theo những cách khác nhau. Tản Đà và cụ Á Nam Trần Tuấn Khải bê nguyên từ hồn cốt đến hình thức ca dao vào trong sáng tác. Với kiểu “cắt dán 100%” này, bằng nghệ thuật dụng chữ điêu luyện, Tản Đà và Trần Tuấn Khải đã tạo cho bạn đọc những “nhầm lẫn” thú vị khi coi những bài phong dao do mình sáng tác là những bài ca dao dân gian(2). Tố Hữu chủ yếu mượn ca dao giọng điệu tâm tình ngọt ngào đằm thắm với đỉnh cao Việt Bắc. Nguyễn Duy thơ hóa thành ngữ, tục ngữ thành những bài lục bát gợi cảm, vừa quen thuộc vừa mới lạ. Tre Việt Nam, bài thơ xây nền cho vị trí của Nguyễn Duy trên văn đàn, được cấu tạo từ hàng loạt câu thành ngữ, tương ứng với đó là những câu lục bát giàu hình ảnh, đượm chất trữ tình. Ví như thành ngữ Cần cù bù thông minh được ông chuyển thành hình ảnh thơ: Rễ siêng không ngại đất nghèo/ Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù; thành ngữ Cha truyền con nối được chuyển thành Chẳng may thân gãy cành rơi/ Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng; hay Năng nhặt chặt bịchuyển thành Có gì đâu có gì đâu/ Mỡ màu ít chất dồn lâu hóa nhiều… Và với riêng mình, Nguyễn Bính đã lựa chọn cấu trúc câu thơ trong ca dao. Cấu trúc câu thơ ca dao là những mô hình đã được xác lập, định hình qua hàng ngàn phép thử. Do ổn định trong thời gian dài nên cấu trúc câu thơ ca dao trở nên hết sức quen thuộc và dễ nhận biết. Nguyễn Bính giữ lại cái vỏ cấu trúc câu thơ trong ca dao, đưa vào đó tư tưởng, tình cảm mới. Chúng ta bắt gặp hàng loạt cấu trúc ca dao trong thơ ông như bao giờ, ai đem, ai xui, ai đi, có cô, bao nhiêu - bấy nhiêu, anh đi, anh về, nào đâu…

- Bao giờ chạch đẻ ngọn đa (ca dao)/ Bao giờ bến mới gặp đò (Tương tư).
- Ai đem con sáo qua sông (ca dao)/ Ai đem trăng sáng giãi lên vườn chè (Thời trước).

Chính cách làm “bình cũ rượu mới” này đã tạo nên sự gần gũi, đồng cảm giữa bạn đọc với thơ Nguyễn Bính. Cái hồn cốt làng quê trong lục bát Nguyễn Bính cũng nằm chủ yếu ở đây chứ không hẳn ở những hình ảnh mang tính biểu tượng như cây đa, bến nước, sân đình, trầu cau, con tằm…

3. Ở Việt Nam, Truyện Kiều phổ biến ngang Kinh Thánh nơi trời Tây. Trước tác của Nguyễn Du có tầm ảnh hưởng như thế nào đến các “đại gia” lục bát Việt trong thế kỉ XX? Hai trong số các nhà thơ thành danh bằng lục bát chịu ảnh hưởng Truyện Kiều nhiều nhất đều là người miền Nam, hai cái tên quen thuộc: Bùi Giáng và Phạm Thiên Thư. Chỉ trong hai tập thơ Mười hai con mắt và Bèo mây bờ bến, chúng ta đã bắt gặp hàng loạt những bài thơ có dấu ấn của Truyện Kiều như Đờn bà phụ nữ, Cậy em, Liều là vui lắm, Nguyễn Du, Của em, Thiên nhai ngẫu hứng, Vô tận, Thượng thừa, Tình yêu của Từ Hải, Thúy Kiều Từ Hải, Mười hai con mắt… Nhà thơ hoàn tục từ Phật giới Phạm Thiên Thư hâm mộ tác phẩm của Nguyễn Du đến mức dám mạo phép tác giả… viết phần hai với tên gọi Đoạn trường vô thanh, gồm 3296 câu lục bát, hơn “phần một” tận 42 câu. Đây là một truyện thơ mang màu sắc Phật giáo rõ nét, có nhiều câu thơ hay, chỉ đáng tiếc dường như bị cái tên “vô thanh”… vận vào nên ít được bạn đọc, nhất là bạn đọc phổ thông biết đến.

Trái ngược với hai nhà thơ miền Nam, Nguyễn Bính chịu ảnh hưởng rất ít, thậm chí có thể nói là không chịu ảnh hưởng từ Truyện Kiều. Trong di sản lục bát của mình, Nguyễn Bính chỉ trích dẫn Truyện Kiều đúng hai lần, đó là các câu Trời cao sông rộng một màu bao latrong bài Con nhà nho cũ và Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân ở bài Qua nhà và viết một bài tập Kiều mang tính chất ứng mệnh. Nguyễn Bính cũng tuyệt nhiên không có những bài theo dạng “cảm hoài” về nàng Kiều, Nguyễn Du như Tản Đà, Tố Hữu, Nguyễn Duy hay nhiều nhà thơ khác. Đây là một điều lạ với một người hâm mộ cụ Tố Như bậc nhất như Nguyễn Bính. Phải chăng Nguyễn Bính học theo cụ Tam nguyên Yên Đổ, “kính nhi viễn chi” với lục bát Nguyễn Du? Không hẳn, vì cụ Tam nguyên cả đời không làm một bài lục bát nào, còn Nguyễn Bính thành danh nhờ thể loại này. Sự “tránh” này theo tôi có lẽ là biểu hiện cao nhất của lòng hâm mộ. Nguyễn Du đưa lục bát lên đỉnh cao, giúp văn học Việt tỏa hào quang của mình ra thế giới. Nguyễn Bính với khả năng “viết lục bát dễ như viết văn xuôi” chắc cũng luôn ấp ủ trong mình giấc mộng Tulong văn chương ấy. Và để giấc mộng trở thành hiện thực, cách tốt nhất có lẽ là tìm một con đường đi riêng cho mình, tránh xa những ảnh hưởng từ tiền nhân. Tôi nghĩ vậy, không biết có đúng không.

ĐOÀN MINH TÂM
Theo VNQĐ

______________________

1. Tôi không tính những truyện thơ như Tì bà truyện, Tiếng trống đêm xuân…

2. Đó là các bài: 1) Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. 2) Rủ nhau thăm cảnh Kiếm Hồ/ Thăm cầu Thê Húc, thăm chùa Ngọc Sơn/ Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn/ Hỏi ai tô điểm nên non nước này. 3)  Rủ nhau xuống bể tìm cua/ Mang về nấu quả mơ chua trên rừng/ Em ơi! Chua ngọt đã từng/ Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau. 4) Chiều chiều em đứng em trông/ Trông non non biếc, trông sông sông dài/ Trông mây mây kéo ngang trời/ Trông giăng giăng khuất, trông người người xa.




Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2019

ĐỌC LẠI NGUYÊN HỒNG ĐẦU THẾ KỶ XX

Viết ngắn, thiết nghĩ là nhà văn hướng tới công chúng trong tinh thần đồng sáng tạo. Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đã cung cấp cho các nhà văn đương thời những kinh nghiệm nghệ thuật quý giá khi bắt tay viết tiểu thuyết ngắn…
Nhà văn Nguyên Hồng

1. Đọc Nguyên Hồng theo tiêu chuẩn “canon” đầu thế kỷ XXI

Khi đọc tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến khái niệm “canon” do giáo sư Paul Lauter (Hoa Kỳ) đề xuất “Thật ra, mãi đến năm 1972, thuật ngữ “canon” (tiêu chuẩn đánh giá nhà văn và tác phẩm) mới bắt đầu được dùng trong những cuộc bàn cãi về vấn đề những văn bản nào đáng được nghiên cứu, chứ không chỉ là vấn đề những văn bản đó viết về điều gì, chúng được tổ chức và phát huy chức năng như thế nào. Nói một cách cụ thể, phương pháp nghiên cứu cũ nhằm vào việc xem xét những thăng trầm về vị trí của nhà văn. Nhưng cách làm đó hầu như hoàn toàn giới hạn trong sự miêu tả sự thăng trầm của một tác giả chứ không phân tích các yếu tố vật chất và tư tưởng vốn là gốc rễ của những thay đổi về uy tín của nhà văn. Nói cách khác, “tiêu chuẩn đánh giá tác giả và tác phẩm”, nhìn một cách rộng hơn, đó là bản thân vấn đề hoặc tính xã hội học của văn học, hơn là nghiên cứu có tính phê bình – lý luận về tác phẩm văn học và tác giả” (Tiếp cận đương đại văn hóa Mỹ, NXB Văn hóa – Thông tin, 2001, tr. 27-28). Nếu theo cách hiểu/quan niệm của học giả Hoa Kỳ thì, khi tiếp cận một tác giả/tác phẩm cần thiết đề lên hàng đầu “bản thân vấn đề hoặc tính xã hội học của văn học” (chúng tôi nhấn mạnh – BVT). Ở khoa Văn học, trường Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN) hiện nay có giảng dạy giáo trình Xã hội học nghệ thuật. Như vậy là, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã bước đầu cập nhật và tiếp cận thế giới trong cái nhìn đa chiều văn học - một hình thái ý thức xã hội đặc biệt. Chúng tôi cho rằng, khi bắt đầu cầm bút viết văn, đặc biệt tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ (1938), Nguyên Hồng bị hối thúc chủ yếu bởi cảnh sống, con đường sống như là “bước đường cùng” của người bình dân. Như đại thi hào Nguyễn Du từng viết trong kiệt tác Truyện Kiều “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Không khó giải thích vì sao trong sáng tác của Nguyên Hồng, nhân vật phụ nữ và trẻ em lại có vị trí trung tâm. Họ mang trên mình những vấn đề xã hội hiện đại- vấn đề quyền sống của con người, vấn đề bình đẳng giới, vấn đề bảo vệ những mầm non tương lai (trẻ em hôm nay thế giới ngày mai). Tương tự như Ngô Tất Tố viết Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan viết Bước đường cùng. Thiết nghĩ, đây là ba cuốn tiểu thuyết đều ra đời cách nay 80 năm, nhưng bài học lịch sử - nghệ thuật của chúng vẫn còn nóng hổi ý nghĩa thời sự xã hội. Nghĩa là nhà văn hướng tới, đứng về phía nhân dân cần lao, đau khổ như lời thơ của nhà thơ Hungary S. Petofi “Cày một tay/ Gươm một tay/ Đời nhân dân muôn nỗi đắng cay/ Máu cứ đổ mồ hôi cứ đổ” (Nhân dân). Cũng trên quan điểm này, có thể giải thích vì sao những tiểu thuyết chứa luận đề xã hội lớn lao như Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh, Đám cưới không có  giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,... lại gây hấn dư luận, hâm nóng văn đàn và có hấp lực lâu bền đến vậy. Theo lý thuyết văn học, tác phẩm có sức sống lâu bền là vì ở đó, nhà văn đã “nhúng bút vào sự thật” khi viết, đã can dự vào đời sống của con người, không chỉ nhằm nhận thức thế giới mà còn đề cao khát vọng cải biến nó theo nguyên tắc chân - thiện - mỹ.

2. Đọc Nguyên Hồng theo phương pháp “Khảo cổ học văn chương”.

Cũng theo quan điểm của học giả Hoa Kỳ Paul Lauter “Thuật ngữ “khảo cổ học văn chương” tôi chỉ dùng với ý nghĩa đơn giản là phát hiện lại những văn bản do một nguyên nhân nào đó đã bị lãng quên” (Sđd, tr.31). Ở Việt Nam thời hiện đại, do chiến tranh ác liệt kéo dài, nên thực tế trong khi tập trung tất cả cho mục đích cuối cùng đánh thắng giặc ngoại xâm, chúng ta đã vô tình/ hay cố ý “lãng quên” những văn sản quá khứ (Thơ mới lãng mạn, văn chương Tự lực văn đoàn, kể cả sáng tác của một vài nhà văn hiện thực danh tiếng, như Vũ Trọng Phụng,...). Từ sau Đổi mới (1986), cái nhìn của chúng ta về nhiều vấn đề đời sống chính trị, xã hội, văn hóa đã cởi mở hơn. Tuy nhiên chưa phải đã cởi mở hoàn toàn. Thiết nghĩ, văn sản  dân tộc quý giá trước 1945, kể cả trước 1975 ở miền Nam Việt Nam cũng cần được “khảo cổ học văn chương”. Bản thân Nguyên Hồng, trong đời văn cũng nếm trải thăng trầm, nhất là khoảng thời gian sau hòa bình (1954), khi bị coi là liên đới đến vụ án văn chương thế kỷ (Nhân văn - Giai phẩm). Đọc các tài liệu hiện có, nhất là qua các hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô Hoài thì thấy Nguyên Hồng còn nặng nỗi niềm, tâm sự. Còn như nghe những tiếng thở dài khẽ mà sâu vương vất. Đọc văn theo phương pháp “khảo cổ học văn chương”, theo tôi, là cách chiêu tuyết, cách truy phong thành tựu sáng tạo của không chỉ một nhà văn, mà cả một thế hệ nhà văn (cũng như truy phong danh hiệu Bà mẹ anh hùng, hay Anh hùng vậy). Công việc này chúng ta còn làm được rất ít. Trong nhiều năm qua, các tổ chức văn học (viện nghiên cứu, trường đại học, nhà xuất bản, Hội Nhà văn,...) đã có nhiều nỗ lực ghi công trạng cho lớp nhà văn tiền chiến, trong đó có Nguyên Hồng. Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT trao cho nhà văn Nguyên Hồng hoàn toàn xứng đáng. Nhưng Tuyển tập Nguyên Hồng (3 tập, NXB Văn học, 1995) thì quả thực là chưa tương xứng. Theo tôi, nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Nguyên Hồng (1918-2018), Hội NVVN cần sớm tổ chức biên soạn để xuất bản Nguyên Hồng toàn tập. Không có gì là muộn. Muộn còn hơn không. Văn sản Nguyên Hồng không thể bị lãng quên. Nếu có (vô tình hay hữu ý) là bởi những lý do ngoài văn chương. Nhìn sang địa hạt lịch sử thì thấy, nhờ có khảo cổ học mà phát lộ Hoàng Thành, từ đó minh định các giá trị văn hóa truyền thống tựa vững trên hào khí Đông A, Đại Việt. Khảo cổ học văn chương đồng thời là phương pháp cần thiết bổ sung để thẩm định các giá trị cổ điển. Đối với nền văn chương hiện đại Việt Nam thế kỷ XX, Nguyên Hồng  là 1 trong 40 nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT. Vinh dự này không phải người cầm bút nào cũng có được. Nguyên Hồng đã có một vị trí trang trọng trong Bảo tàng Văn học Việt Nam (được hiểu như là một sự kiện, sự vật có ý nghĩa “khảo cổ học văn chương”). Vì đối với Việt Nam (rộng ra là các nước khác), văn học là một bộ phận quan trọng của văn hóa. Văn học (nghệ thuật ngôn từ) góp phần bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ dân tộc (cho nên cái câu “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” của một học giả đầu thế kỷ XX có thể coi như một xác tín bền vững đòi hỏi chúng ta phải có biện pháp khẩn cấp bảo vệ tiếng Việt, văn chương Việt).

3. Đọc Nguyên Hồng theo tinh thần “Tái cấu trúc  văn học”. 

Quan điểm này cũng do học giả Hoa Kỳ Paul Lauter đề xuất. Ông nhấn mạnh  hai nguyên tắc  được gọi là “sự khác biệt và tính chất tiêu biểu” (Sđd, tr.33). Tất nhiên quan điểm của học giả là tựa trên nền móng văn hóa Mỹ - một quốc gia đa chủng tộc (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ), đa văn hóa. Văn hóa Mỹ chấp nhận sự khác biệt vì cá nhân luôn khác biệt. Bảy tỷ người trên hành tinh là 7 tỷ vân tay. Văn hóa Mỹ đề cao cá nhân (trừ trường hợp đề cao “siêu nhân”). Một thời gian dài chúng ta không đề cao, không chấp nhận “sự khác biệt”. Chỉ có “đồng phục”, “đồng ca”, “đồng loạt”, “đồng dạng”, “đồng nhất”,... Nhưng sáng tạo nghệ thuật lại có quy luật đặc thù -  đề cao lao động cá nhân, cá tính sáng tạo. Nhà khoa học cũng thẳng thắn phê phán cái gọi là “dòng chủ lưu” khi đánh giá thực tiễn sáng tác văn chương. Ông viết “Bởi vì chúng tôi – đặc biệt là những người da trắng và đàn ông trong số chúng tôi – quan tâm đến sự khác biệt, nên chúng tôi không thể dựa vào những gì mà chúng tôi đã được đào tạo ở chương trình sau đại học vốn chỉ tập trung vào dòng chủ lưu và cũng không thể dựa vào các cơ quan chính thống vốn tuân theo tính đồng nhất” (Sdd, tr. 34). Quan điểm này cũng gợi ý cho giới nghiên cứu văn học ở ta khi đánh giá toàn bộ nền văn học Việt Nam thời hiện đại thế kỷ XX, đặc biệt trong giai đoạn chiến tranh 1945-1975. Khái niệm “Văn học Việt Nam” lâu nay bị bó hẹp (trong các giáo trình đại học, các công trình nghiên cứu chính thống) chỉ là “Văn học cách mạng”. Nhưng xét cho cùng trên tinh thần khoa học thì, văn học Việt Nam là văn học dân tộc Việt, được cấu thành từ nhiều nguồn, nhiều bộ phận. Nó là một thực thể, không thể chỉ có đầu, hoặc chân tay, hoặc cái này cái kia. Vì thế khi đồng nghiệp của chúng tôi - PGS.TS Nguyễn Bá Thành - viết công trình Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 (NXB ĐHQG HN, 2015), đã không nhận được sự thống nhất trong đánh giá khi nhà nghiên cứu đã chú ý trên tinh thần khoa học, công bằng minh định bộ phận thơ ca sáng tác ở vùng đô thị dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Nghĩa là chúng ta vẫn còn bị ràng buộc bởi định kiến khi cho rằng văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1975 chỉ có “văn học cách  mạng”. Tương tự, từ sau 1975, khái niệm “Văn học Việt Nam” vẫn chưa được mở rông để bao trùm cả bộ phận sáng tác của kiều bào ở nước ngoài (lên tới hơn 4 triệu người).

Nhà nghiên cứu Mỹ nhấn mạnh “Tính đại diện có thể không đảm bảo cho tính đa dạng” (Sđ, tr.35). Từ đây, khi đọc lại Nguyên Hồng cũng như các tác gia trước 1945, chúng tôi cho rằng không nên xếp hạng văn học theo cái gọi là “dòng chủ lưu”. Tương tự khi tiếp cận văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1975, càng không nên chú mục vào bộ phận mang “tính đại diện”. Trước đây do nhiều nguyên nhân, chúng ta đã xếp hạng văn chương theo trào lưu, thứ tự: cách mạng, hiện thực, lãng mạn. Cách xếp hạng này xuất phát từ yêu cầu “văn học phục vụ chính trị”. Nhưng có một thực tế là, gần như toàn bộ các nhà văn hiện thực kịp khi Cách mạng tháng Tám (1945) thắng lợi đã nhất loạt đi theo Đảng, tích cực “Kháng chiến hóa văn hóa. Văn hóa hóa kháng chiến”. Quan điểm “tái cấu trúc văn học” là có căn cứ khoa học. Hiện chúng ta đang tích cực tái cấu trúc nền kinh tế thị trường (nhiều thành phần) định hướng XHCN. Vậy không có lý do gì để gạt ra ngoài thực thể văn học Việt các giá trị đích thực, dẫu chúng thuộc “dòng chủ  lưu” hay không.

TIỂU THUYẾT NGUYÊN HỒNG NHÌN TỪ HÌNH THỨC THỂ LOẠI

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ (người  sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu Tuyển tập Nguyên Hồng, 3 tập, NXB Văn học, 1995) khẳng định “Bỉ vỏ và Cửa biển là hai cái mốc lớn về tiểu thuyết của Nguyên Hồng” (Sđd tr.52). Nhưng trong quá trình biên tập, không hiểu vì lý do gì lại ghi dưới Bỉ vỏ thể loại “truyện” (!?). Trong khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ tiểu thuyết Nguyên Hồng mà chỉ tập trung vào cuốn tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ làm nên tên tuổi Nguyên Hồng trên văn đàn. Đến tận thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, dường như Bỉ vỏ, Tám Bính (tên nhân vật chính) đã gắn với tên tuổi nhà văn Nguyên Hồng (như thể Chí Phèo với Nam Cao, chị Dậu với Ngô Tất Tố, chị Hoài với Nguyễn Tuân, Xuân tóc đỏ với Vũ Trọng Phụng, và gần đây là Giang Minh Sài với Lê Lựu).

Bỉ vỏ viết năm 1935-1936 (xuất bản lần đầu 1938), khi Nguyên Hồng chưa đầy hai mươi tuổi. Điều ấy đến tận bây giờ vẫn khiến nhiều thế hệ độc giả kinh ngạc. Không đơn giản chỉ là tài năng văn chương. Lớn lao hơn là một tấm lòng trong thiên hạ khi nhà văn cúi xuống sát số phận những con người nhỏ bé dưới đáy, khốn cùng. Đó là nhân dân. Văn chương đứng về phía nhân dân thời nào cũng được kê cao thế đứng. Chủ nghĩa nhân đạo của nhà văn là vô cùng kích tấc. Nhưng chúng tôi, trong bài viết của mình, chỉ muốn bàn về dạng thức/ kiểu tiểu thuyết ngắn của Bỉ vỏ. Nghĩa là tiếp cận tác phẩm từ hình thức thể loại. Vì sao Bỉ vỏ được viết ngắn? Vì sao sau này tắm mình giữa dòng thác đời sống đấu tranh cách mạng nhà văn lại viết trường thiên tiểu thuyết, kiến trúc Cửa biển (4 quyển) thành một panorama (toàn cảnh, toàn bích) mang tính sử thi? Có thể hiểu, đó là thời kỳ Nguyên Hồng đi từ sông ra biển. Chinh phục đại dương cần những con tàu lớn.

Trước hết, theo chúng tôi, phải cần thiết trở lại quan điểm thẩm mỹ về cái đẹp của người Việt Nam nói chung, nhà văn nói riêng. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hượu, trong công trình Đến hiện đại từ truyền thống (NXB Văn hóa – Thông tin, 1994) thì, người Việt nghiêng thích cái đẹp có tính “phải khoảng” (nhỏ gọn, xinh xắn, vừa tầm). Trong các loại hình nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật ngôn từ, ta không có những công trình hoành tráng, tầm vĩ mô. Tất cả “vừa khoảng”. Nếu theo dõi tiểu thuyết hiện đại Việt Nam (thế kỷ XX) sẽ thấy, khởi phát như Tố Tâm(1925) của Hoàng Ngọc Phách, và trước đó là tiểu thuyết của của Đạm Phương nữ sử, đều ngắn (chỉ dưới 200 trang in). Lùi xa vào thời trung đại, nếu coi Truyện Kiều là một tiểu thuyết bằng thơ thì kiệt tác này cũng rất ngắn (chỉ có 3254 câu lục bát). Nguyên Hồng là nhà văn không khước từ truyền thống. Và rất thực tiễn. Khi viết Bỉ vỏ, chúng tôi cho rằng nhà văn có ý thức viết cho người bình dân xung quanh mình đọc. Vậy nên viết dài liệu có lợi ích gì? Phải chú ý đến hoàn cảnh viết Bỉ vỏ, chính là vì thế. Trong trường hợp này phải cậy vào phương pháp xã hội học nghệ thuật/ văn học. Không riêng Nguyên Hồng, các nhà văn thời tiền chiến đều viết ngắn (Sống mòn của Nam Cao, Số đỏcủa Vũ Trọng Phụng là một ví  dụ). Nghĩa là người sáng tác chú ý đến công chúng tiếp nhận nghệ thuật, không như thời bao cấp, nhà văn cứ viết không kể dài, đã có Nhà nước bao tiêu sản phẩm.

Bỉ vỏ đích thực là một tiểu thuyết ngắn (chỉ có 176 trang in, khổ 13x19); được cấu tạo trong ba phần (tương đương về số trang) với tổng số 25 mục/không phải là chương (đánh số La Mã, thứ tự 7, 7, 11). Một cấu trúc gọn nhẹ, năng động, uyển chuyển. Có thể là vô thức, Nguyên Hồng dã vận dụng phép tỉnh lược (được nhà văn M. Kundera nhất mực đề cao) khi viết (dồn nén, tước bỏ, cô đúc). Hãy quan sát đoạn mở đầu tiểu thuyết: vào ngay cao trào, không đuổi bướm bẻ hoa như các nhà văn lãng mạn. Đó là cao trào khi Bính (một cô gái con nhà lành, nhà nghèo ở noong7 thôn) bị gã tham Chung làm ở Sở đạc diền gạ gẫm, lường gạt rồi bỏ của chạy lấy người. Bính đứt ruột đồng ý bán con cho nhà giàu (với giá chỉ 13 đồng), rồi bỏ quê lên phố để tránh sự trừng phạt của lệ tục dành cho gái hư không chồng mà chửa. Rồi cô giá quăng thân vào gió bụi. Vào đời với bao cạm bẫy. Rồi gặp Năm Sài Gòn. Diễn tiến câu chuyện rất nhanh. Không câu giờ như một vài cây bút non tay hay đắp điếm những chỗ rò rỉ, lỗ hổng bằng những câu chuyện lê thê, sướt mướt và mùi mẫn.

Bỉ vỏ, sở dĩ chúng tôi xếp vào hình thức tiểu thuyết ngắn, ngoài sự cô đúc nhờ phép tỉnh lược, còn có một nhịp điệu(rythm) văn xuôi đặc biệt phù hợp với lối kể chuyện “đi tắt đón đầu”. Ví dụ chỉ cần mấy dòng gấp gáp là độc giả hiểu được chân tơ kẽ tóc nhân vật Năm Sài Gòn “Mới ba mươi hai tuổi mà án tích Năm kê chật một tờ giấy trong Sở  liêm phóng. Non hai phần ba đời Năm đã bị cảnh tù tội cướp mất (...). Cuộc đời Năm trải qua những phen nguy hiểm đã dày dạn như những lốt dao chém trên mặt, trên lưng và khắp hai cánh tay Năm”. Nguyên Hồng “bố trí” cho Tám Bính (cái tên từ khi làm gái tiếp khách làng chơi) gặp Năm Sài Gòn ngay cuối mục VI, phần thứ nhất. Riêng chúng tôi cứ tưởng tượng như cảnh Thúy Kiều gặp Từ Hải theo màn kịch của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Cũng không khác nào một tiếng sét ái tình như người ta nói. Năm Sài Gòn lập tức bị cuốn hút và dẫn dụ bởi Tám Bính. Rồi anh ta ra tay cứu vớt người đẹp theo mô-tip truyền thống. Năm Sài Gòn lập tức “lôi” Tám Bính ra khỏi hang ổ của mụ Tài - sế - cấu (một dạng Tú Bà thời hiện đại). Ở trang 58 (trên tổng số 176 trang tiểu thuyết), Tám Bính đã là người tự do. Và cô bắt đầu sống như vợ chồng với người đàn ông thứ hai. Một tên cướp khét tiếng nhưng là một con người tốt hiếm có trong cái “xã hội chó đẻ” bấy  giờ theo cách viết của Vũ Trọng Phụng. Chỉ có chưa đầy bốn trang tiểu thuyết, từ khi Tám Bính gặp Năm Sài Gòn và được anh giải phóng khỏi hang ổ điếm nhục, thời gian chỉ có vài ba tiếng đồng hồ. Từ đó cho đến kết thúc tiểu thuyết. Mọi chuyện đều trên thế mã hồi. Tất cả được đặt lên trên chuyến tàu định mệnh, trên một đường ray cố dịnh. Cứ thế lao lên phía trước, bất chấp cái phía trước ấy là mờ mịt hay le lói ánh sáng.

Nhưng Năm Sài  Gòn không phải là người đàn ông cuối cùng Tám Bính sống như vợ chồng trong đời mình. Bắt đầu là tham Chung ở sở đạc điền. Tiếp theo là Năm Sài Gòn tướng cướp khét tiếng đất cảng Hải Phòng. Sau nữa là ông mật thám đã bỏ tiền chuộc tội cho Tám Bính (nhà cô bị vu là chứa thuốc phiện). Đúng là “ba thu dồn lại một ngày dài ghê”. Chính tay Năm Sài Gòn đã làm chết đứa bé là con đẻ của Tám Bính bị bán và lưu lạc từ khi còn đỏ hỏn. Một cái kết không thể nào khác. Cảnh cuối là cuộc giáp mặt không mong muốn của Tám Bính với ông mật thám từng bỏ tiền ra cứu và lấy Tám Bính làm vợ cách đó 3 năm. Cả Năm Sài Gòn, cả Tám Bính đều bị tra tay vào còng. Tám Bình nhìn Năm Sài Gòn và chỉ thốt lên được “Thế là hết”. Một cái chết đã được báo trước. Một kết cục đã được báo trước. Tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, cảnh cuối như là một bi kịch chính thống. Nó thanh tẩy tâm hồn độc giả. Cho đến đầu thế kỷ XXI, khi Bỉ vỏ được chuyển thành kịch diễn trên sân khấu Thủ đô, nó vẫn còn lấy nhiều nước mắt của khán giả hôm nay vốn lạnh lùng. Đó là một điều kỳ diệu của nghệ thuật. Điều này ứng với nhận xét “Nơi tác phẩm kết thúc chính là nơi đời sống của nó bắt đầu”.

Đọc Bỉ vỏ là đọc theo cách đọc truyện ngắn (đọc một hơi, tiếp thu tức thì, đọng lại một ấn tượng,...). Nó giống như một truyện ngắn được tiểu thuyết hóa. Bỉ vỏ cũng dễ dàng lên sân khấu vì nhiều cảnh (screen), nhiều tình huống kịch tính. Rất ít nhà văn đương đại đọc lại các tác phẩm kinh điển, trong đó có Bỉ vỏ. Rất ít nhà văn ngày nay chịu học hỏi các bậc tiền nhân trong nghệ thuật viết ngắn. Đa số cứ muốn câu chuyện của mình kể ra là liên tu bất tận. vào cái thời Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ. Chư có internet, mạng xã hội, chưa có các trò giải trí nhan nhản như trên truyền hình bây giờ, chưa có văn hóa - nghe nhìn bành trướng. Nghĩa là văn hóa đọc đang ở thế  thượng phong. Nhưng các nhà văn đương thời không hề lạm dụng câu chữ, không câu giờ, không viết dài, không làm mất thời gian của độc giả. Văn học Việt Nam thời kỳ 1930-1945 không có những tác phẩm bây giờ gọi là sử thi, toàn cảnh. Vì sao  nhà văn viết ngắn? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời với các nhà nghiên cứu xã hội học nghệ thuật.

KẾT LUẬN

Trong văn học đương đại Việt Nam (từ sau 1975), tiểu thuyết ngắn đang trở thành một khuynh hướng sáng tác, một “tiểu thể loại” của tiểu thuyết (được quan niệm như một hình thức nghệ thuật đặc biệt). Trong tiểu luận Dòng tiểu thuyết ngắn trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986-2006) in trong sách Tiểu huyết đương đại (NXB Văn hóa – Thông tin, 2009), chúng tôi đã khảo sát kỹ lưỡng khuynh hướng này. Trong tiểu luận nói trên chúng tôi đã dẫn chứng nhiều tiểu thuyết ngắn thành công của thời kỳ này như Thời gian của người (156 trang) của Nguyễn Khải, Thiên sứ (180 trang) của Phạm Thị Hoài, Lạc rừng (190 trang) của Trung Trung Đỉnh, Thoạt kỳ thủy (158 trang) của Nguyễn Bình Phương, Tấm ván phóng dao (197 trang) của Mạc Can, Thiên thần sám hối (125 trang) của Tạ Duy Anh, Sông Mê (207 trang) của Châu Diên,... Viết ngắn, thiết nghĩ là nhà văn hướng tới công chúng trong tinh thần đồng sáng tạo. Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đã cung cấp cho các nhà văn đương thời những kinh nghiệm nghệ thuật quý giá khi bắt tay viết tiểu thuyết ngắn.

Cũng trong tiểu luận này, chúng tôi đã khái quát một số đặc trưng thể loại của tiểu thuyết ngắn: sự dồn nén dung lượng, sự giản lược cốt truyện và nhân vật, thay đổi cấu trúc tác phẩm (từ lịch sử - sự kiện sang lịch sử - tâm hồn). Viết tiểu thuyết ngắn, theo chúng tôi, là phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ của tác giả và độc giả ngày nay, vì suy cho cùng sáng tác là một hành động tương liên giữa “phát” và “nhận”. Hơn thế, viết ngắn là phù hợp với cơ chế đọc hiện nay trong cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa văn hóa đọc và văn hóa nghe nhìn. Rất có thể ý kiến của chúng tôi sẽ gây hấn nhà văn và giới phê bình “Viết dài để làm gì? Viết dài cho ai đọc?”. Đúng như  nhà văn Mỹ Filip Roth đã viết “Độc giả của tiểu thuyết sẽ chỉ còn những người thật sự sùng bái tiểu thuyết mà thôi”. Nhà văn Banglades Zia Rahman thì lo âu “Ngay cả người sáng tạo còn không muốn cứu tác phẩm văn học, làm gì còn ai cứu nữa” (theo báo Văn nghệ, số 3, ra ngày 20-1-2018).

Hà Nội, tháng 10-2018
BÙI VIỆT THẮNG
Nguồn: VHP

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...