Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2019

NHÀ THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU: CẦN NHỮNG CUỐN SÁCH “QUYẾN RŨ BẠN ĐỌC”

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Giám đốc NXB Hội Nhà văn chia sẻ với Thời Nay mối “nguy hại” trước hiện tượng nhiều người rời xa sách mà hễ có chút thời gian rảnh là cắm cúi “lướt mạng”. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Có người khuyên chúng tôi nên làm thế này thế kia để bán được sách với một phần thị hiếu của người đọc hiện nay. Tôi đã làm những tờ báo với lượng bản bán ra rất… khủng. Nhưng khi làm “Viết & đọc” thì tôi không làm như vậy. Chúng tôi không hạ thấp để không hướng tới bạn đọc phổ thông mà chúng tôi muốn cải thiện họ.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Phóng viên (PV): Thưa ông, lâu nay nhiều ý kiến than phiên rằng văn hóa đọc đang mất dần, tụt dốc. Ông có bình luận gì về sự đọc hiện nay?

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (NQT): Nghe cụm từ “văn hóa đọc’’ có vẻ như chẳng có chuyện gì ghê gớm và nó chẳng làm cho mấy người giật mình sợ hãi cả. Nhưng thật sự đó chính là dấu hiệu của những điều hết sức huy hiểm với bất cứ xã hội nào. Khi con người rời xa những cuốn sách là bắt đầu có nguy cơ rời xa trí tuệ và những vẻ đẹp nhân văn. Như thế là họ bắt đầu chìm vào một thế giới khác. Đó là thế giới sẽ giết chết tri thức và tâm hồn con người. Trung bình mỗi người Việt đọc chưa được 2 cuốn sách một năm là một con số đáng sợ. Như vậy, ngoài thời gian làm việc, họ đã tự đẩy con người họ vào những hành vi ở ngoài vùng ảnh hưởng của tri thức và văn hóa. Và kết quả của những con người ra khỏi vùng ảnh hưởng ấy sẽ là một kết quả chẳng có gì hay ho trong lâu dài.

PV: Thế còn có ý kiến cho rằng, người Việt bây giờ đọc tin nhiều hơn đọc sách. Ý kiến của ông?

NQT: Có người có vẻ mừng vui khi thấy người Việt đọc tin (báo điện tử) nhiều hơn như một sự thành công của một phía nào đấy của công nghệ. Trong một cuộc họp về xuất bản do Ban Tuyên giáo T.Ư tổ chức cuối năm 2018, tôi phát biểu rằng: tin tức cho người ta thấy được những gì đang xảy ra trong đời sống xã hội của một giờ, một ngày, một tuần… còn sách cho người ta biết được những gì đang xảy ra trong tâm hồn con người. Tôi đã từng ở trong một số gia đình người Mỹ, Úc, Ai-len… Đó là những nước mà kỹ nghệ báo chí và công nghệ thông tin đến rất sớm. Nhưng họ không chìm đắm vào các loại tin tức mà hầu hết thời gian rảnh họ đọc sách.

Có quá nhiều người Việt vùi vào mạng xã hội hầu hết các thời gian rảnh. Họ đang rơi vào nguy cơ tự hủy diệt tâm hồn họ từ từ mà họ không biết.

PV: Nhìn từ những báo cáo của ngành xuất bản thì thấy những năm qua, xuất bản Việt có nhiều khởi sắc. Nhưng theo ông, ngành xuất bản của chúng ta đã đáp ứng được/chinh phục được độc giả Việt Nam chưa?

NQT: Quả thực, số lượng người đọc sách ở Việt Nam đang tăng lên nhưng cũng chưa phải là một con số đáng kể. Để người Việt có một thói quen đọc sách chúng ta phải làm quá nhiều việc trong đó có ngành xuất bản. Hầu hết các NXB ở Việt Nam phải tự hạch toán. Đây là một thách thức lớn đối với họ. Bởi thế họ phải làm những cuốn sách mà chính họ không muốn, thậm chí những cuốn sách phi thẩm mỹ vì cái gọi là kinh tế thị trường. Những người viết sách của chúng ta chưa thật sự làm ra những cuốn sách “quyến rũ bạn đọc”.

PV: Kinh nghiệm của những năm tháng làm báo và “cầm” trong tay nhiều tờ báo thị trường mỗi số lượng xuất bản không nhỏ có giúp gì cho ông khi làm một chuyên đề nặng tính văn chương - nghệ thuật như cuốn “Viết & đọc” của NXB vừa ra mắt?

NQT: Những tờ báo tôi làm có tiêu chí khác nhưng cũng cho tôi một vài kinh nghiệm. Đó là hãy làm đến tận cùng có thể với sự nghiêm túc, mới mẻ và nhân văn. Khi tôi làm An ninh thế giới cuối tháng hay Cảnh sát toàn cầu thì ở đó tính nhân văn luôn tràn ngập kể cả khi viết về tội ác. Nhưng “Viết & đọc” khó hơn trăm lần làm những tờ báo đó và đặc biệt báo hay tạp chí in đã và đang rơi vào khủng hoảng lớn. Nhiều tờ báo bán với lượng bản rất lớn trước kia cũng đã rơi vào bế tắc. Một cuốn sách chuyên đề văn chương như “Viết & đọc” lại càng khó khăn. Nhưng chúng tôi vẫn làm với một sự hứng khởi lớn. Nếu làm “Viết & đọc” chỉ vì lợi ích vật chất thì tôi vẫn còn đủ minh mẫn để không bao giờ làm nó. Nhưng chúng tôi muốn làm một ấn phẩm tốt nhất có thể và cho dù chỉ còn lại mươi người đọc nó. Nếu chỉ vì ít người đọc sách văn chương mà chúng ta chạy trốn không làm thì mãi mãi chúng ta không làm được gì cả. “Viết & đọc” được sự tài trợ từ một số cá nhân. Điều này động viên và cho chúng tôi nhận ra thêm một điều quan trọng là: cả những người chuyên về kinh doanh cũng nghĩ đến các sản phẩm văn hóa cần thiết cho xã hội như thế nào thì sao những người trực tiếp làm ra sản phẩn văn hóa cho xã hội lại thờ ơ?

PV: Trân trọng cảm ơn nhà thơ!

HOÀNG THU PHỐ (THỰC HIỆN)




MAI VĂN PHẤN: ĐÔI DÒNG VỀ SÁNG TẠO THƠ

Thơ đương đại đang phân hóa mạnh và khá đa dạng. Đó là tín hiệu đáng mừng của đời sống văn học hôm nay. Người đọc cũng phân hóa theo nhiều khuynh hướng đọc, tự do chọn lựa phong cách thơ yêu thích.
Nhà thơ Mai Văn Phấn

Tôi vốn là tác giả khởi nguồn và ra đi từ thơ truyền thống, kết hợp những tinh hoa của các khuynh hướng thơ khác, nhằm tìm đến một phong cách hiện đại mang đậm căn tính Việt. Thơ tôi mấy năm gần đây được các dịch giả và một số nhà xuất bản nước ngoài tuyển dịch sang một số ngôn ngữ khác. Kết quả cho thấy, những bài thơ tôi viết theo khuynh hướng cách tân được lựa chọn nhiều hơn. Vậy từ kinh nghiệm cá nhân, tôi xin tóm lược đôi dòng về công việc sáng tác.

Cũng như phần đông các tác giả cùng thế hệ, tôi từng chịu ảnh hưởng dòng thơ hiện thực và lãng mạn, một hệ hình thẩm mỹ vốn đã ổn định. Khuynh hướng này đã tạo được những đỉnh cao thơ Việt trong quá khứ, nhưng vì nó ngự trị văn đàn quá lâu nên đã trở thành thử thách lớn với những thế hệ thơ sau đó. Những tác phẩm ra đời kế tiếp theo khuynh hướng này thường mang cho bạn đọc cảm giác quen thuộc, đơn điệu, trơ mòn cảm xúc… Một số bài thơ của tôi trong giai đoạn khởi đầu đã chịu ảnh hưởng hiện thực và lãng mạn, nên khi dịch ra ngôn ngữ khác, đều có chung một nhận xét từ bên ngoài: đơn tuyến, ít gợi mở, lạc hậu.

Tôi đã cố gắng bước qua cái ranh giới vô hình trong quan niệm nghệ thuật cũ, nơi từ trong nhà trường mình được học tập, từng chịu ảnh hưởng vùng khí hậu văn học khi còn ở tuổi đôi mươi để đến với những hệ hình thẩm mỹ khác. Tôi hội nhập, và có lúc cũng bị xóa nhòa, rồi sau đó thoát ra khỏi những trào lưu ấy. Đó không phải một sai lầm, mà chính là một hành trình giúp tôi có được những tinh hoa của các khuynh hướng thơ khác, chủ yếu thịnh hành trong thế kỷ vừa qua. Tôi coi những tinh hoa đó là những dòng phù sa làm màu mỡ thêm cánh đồng thơ để gieo lên đó hạt giống của riêng mình, đơm hoa trái Việt.

Sự khác biệt giữa thơ tôi trước đây và bây giờ, như đã nói đôi lần, chính là cách thiết lập không gian và kết nối điểm nhìn. Có thể tạm ví giai đoạn khởi đầu của thơ tôi là hình học phẳng, với những hình thể rõ nét, dễ xác định. Chúng được mô phỏng, thậm chí sao chép lại các hiện tượng đời sống rồi kết nối các thi ảnh bằng cảm xúc. Nhiều khi cảm xúc ấy chỉ tập trung vào các thán ngữ, thán từ nên khi dịch sang ngôn ngữ khác, bài thơ đã không còn sức nặng, không còn thần thái như trong văn bản gốc.

Giai đoạn gần đây tôi chú trọng tạo dựng không gian đa chiều, đa điểm nhìn, mời gọi bạn đọc đồng sáng tạo với mình trong một thế giới thơ riêng, tạo được thái độ bình đẳng, gợi mở, không áp đặt bạn đọc khi tiếp nhận văn bản. Không gian đa chiều có khả năng kết nối, làm đồng hiện các chiều không-thời-gian, phục hoạt quá khứ, cho/ bắt nó cật vấn hiện tại, đối thoại với tương lai. Trong không gian đa điểm nhìn này, thái độ công dân, bản lĩnh nghệ sỹ, cũng như cái tôi nhà thơ được hiển lộ chân thực nhất dưới những góc quan sát khách quan và đa chiều của bạn đọc. Tôi đã từng gặp khó khăn khi mới tiếp cận thủ pháp này, bởi nếu biên độ tưởng tượng không mở rộng, nội lực sáng tạo không đủ mạnh và cảm xúc chưa thật sự thăng hoa thì người viết rất khó làm chủ được một không gian rộng lớn đã mở ra với những hình ảnh chuyển dịch đa phương, phức hợp, có lúc như không còn biên giới.

Không gian thơ đa chiều, đa điểm nhìn cũng tạo độ mở lớn cho người đọc khi tiếp cận tác phẩm. Mỗi người đọc thường đến với bài thơ bằng kinh nghiệm, trải nghiệm riêng và có thể cho ra nhiều kết quả khác biệt. Tôi nhớ lần trò chuyện với dịch giả - nhà thơ Erik Bergqvist, người đã cùng dịch giả Maja Thrane dịch thơ của tôi sang tiếng Thụy Điển, ông đã gọi những “kết quả khác biệt” như tôi vừa nêu là sự “tù mù” cần thiết của một văn bản thơ. Sự “tù mù” trong văn bản thơ hiện đại có thể ví như những nét vẽ đứt đoạn được kết nối với hình cạnh bên của khối lập phương để diễn tả phần chìm khuất của không gian phía sau, nơi mắt thường không thể quan sát. Hai dịch giả Thụy Điển đã yêu cầu tôi diễn giải, làm sáng tỏ những nơi “tù mù” trong những bài thơ của tôi, và qua đó, họ cũng hé lộ một phần bí quyết nghề nghiệp dịch thuật. Đó là cách các dịch giả trải rộng và soi tỏ sự “tù mù” trong một không gian thơ đến mức cần thiết, rồi sau đó họ lại “gói/ phong kín” chúng lại bằng vẻ đẹp bí ẩn, bằng đặc thù riêng của ngôn ngữ Thụy Điển. Khă năng, đúng hơn là tài năng của dịch giả chính là chuyển ngữ được những bí ẩn, lạ lẫm của thơ từ ngôn ngữ gốc, tạo nên sự hấp dẫn, quyến rũ của văn bản thơ trong những ngôn ngữ khác. Nói rộng hơn việc dịch thơ, là đưa một không gian văn hóa của dân tộc này dịch chuyển tương đồng với văn hóa của dân tộc khác mà không làm mất đi diện mạo, cội rễ tinh thần của văn bản gốc.

Cách thiết lập không gian thơ của tôi hiện nay tương đối đồng điệu với không gian thơ các tác giả đương đại ngoài nước mà tôi đã đọc được. Do vậy, vấn đề cốt tử với tôi hiện nay chính là làm hiển lộ, thêm đậm nét căn tính Việt trong từng tác phẩm. Theo tôi, đây chính là bản đồ biên giới xác định thơ của chúng ta có bản sắc khác với thơ các dân tộc khác. Nếu trong thơ thiếu căn tính này, có nghĩa, các nhà thơ đã đánh mất danh tính, giá trị khác biệt cần có.

Vậy thế nào là căn tính dân tộc trong tác phẩm thơ? Từ góc nhìn của người sáng tác, tôi quan niệm căn tính dân tộc là một thuộc tính mở và luôn được tiếp biến từ thị hiếu, tâm lý tiếp nhận của người đọc đương thời. Bởi, chính thị hiếu, tâm lý của mỗi người luôn được kết tinh và tiếp biến từ nền tảng văn hóa, lịch sử, phong tục, tập quán dân tộc. Khi căn tính dân tộc trong sáng tạo bắt đầu ổn định để trầm tích thành giá trị truyền thống, thì cũng là lúc cần thiết, nó phải giã từ giá trị đã bắt đầu cũ ấy để ra đi tìm những giá trị mới khác. Căn tính dân tộc làm nên cốt cách văn hóa của mỗi con người trong dân tộc ấy. Tương tự như vậy, căn tính dân tộc trong thơ đã làm nên diện mạo tinh thần của mỗi nhà thơ, là gương mặt tiêu biểu được tạo dựng bằng ngôn ngữ thơ của dân tộc. Mối tương quan giữa nghệ sỹ và căn tính dân tộc không chỉ đơn thuần là mối gắn kết như cây và cội, dòng sông và đôi bờ…, mà chính là sự tương liên bình đẳng, làm cho nhau phong phú thêm, giàu có thêm. Do vậy được hiểu, căn tính dân tộc luôn được bồi đắp, mở rộng bằng tác phẩm của nghệ sỹ, cũng như theo quá trình phát triển của quốc gia, dân tộc.

Căn tính dân tộc luôn thường trực trong mỗi cá thể sáng tạo. Nhà thơ biết thắp sáng nó để tự thân anh ta càng mạnh mẽ, thực hiện thành công những cuộc ra đi. Hành trình của sáng tạo chính là liên tiếp những cuộc lên đường tìm đến những giá trị mới khác. Căn tính dân tộc trong thơ không phải là thuộc tính truyền thống dân tộc Việt trong sự hoàn tất, đó là một vẻ đẹp mới được cải biến từ bên trong, mang âm hưởng của những giá trị mang tính nhân loại. Chưa bao giờ như lúc này, thế giới hỗn độn với những đứt gãy của nó cần được hiển thị bằng một “tư duy thi ca” mới đủ sức nắm bắt cảm thức thời đại mà không bị chính sự hỗn độn của thực tại nhấn chìm.

Hải Phòng, 25.2.2018
MAI VĂN PHẤN
Nguồn: Vanvn


Thứ Tư, 10 tháng 4, 2019

MỘT NÉT BÍ ẨN CỦA THƠ BÍCH KHÊ

Nhà thơ Bích Khê (1916-1946), tên thật là Lê Quang Lương, sinh trưởng từ xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, trong một gia đình Nho học có truyền thống đấu tranh cách mạng. Bích Khê đã có thơ đăng ở báo Tiếng dân từ những năm 1931-1932. Cho đến cuối năm 1936, nhiều sáng tác theo lối thơ Đường luật của ông đều đặn xuất hiện trên các tờ báo lớn. Từ năm 1936, Bích Khê bắt đầu sáng tác thơ tự do và nhanh chóng trở thành một trong những nhà thơ cách tân hàng đầu trong phong trào Thơ mới (1932-1945) với tập thơ “Tinh huyết” (1939). Ông qua đời sớm do bệnh lao năm 1946.
Nhà thơ Bích Khê

Trong Trường thơ loạn, không riêng gì Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử  mà cả Bích Khê đều bí ẩn. Chế Lan Viên như ngọn “Tháp Chàm lẻ loi và bí mật”, Hàn Mạc Tử thầm lặng như thủy triều theo những mùa trăng, còn Bích Khê thì tràn lên như màu hoàng hoa của những điệu nhạc cổ. Có phải người ta gọi “trường thơ loạn” là vì họ nghĩ và viết khác thường, không như những thi sỹ bình thường khác? Có phải vì vậy mà người đương thời thường khi khó mà hiểu tường tận những gì họ nói? Ví như thơ Bích Khê. Một người tinh tường như Hoài Thanh “ đã đọc không biết mấy chục lần… thấy trong đó những câu thơ đẹp. Nhưng không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. Hình như vẫn còn gì nữa…”.*

Có thể có nhiều những điều bí ẩn trong thơ Bích Khê. Chẳng hạn vì sao chỉ trong ba tháng Bích Khê đã làm được một công việc “thần dị” như vậy; Hoặc vì sao Bích Khê tìm đến “thơ lõa thể” như một mê đắm “tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc”(Duy tân) như vậy, vv 

Nhưng trong khuôn khổ một bài phát biểu nhỏ, xin thử đi tìm một nét của cái “hình như vẫn còn gì nữa” mà Hoài Thanh từ Novembre 1941 đã viết những dòng đầy phân vân kia.

Chúng ta đều biết Bích Khê mê thơ Đường, sáng tác hàng trăm bài thơ Đường luật từ lúc mới mười bốn, mười lăm tuổi. Rồi từ Đường luật, Bích Khê tiếp xúc với thơ Hàn Mạc Tử, với thơ phương Tây, đặc biệt mê đắm thơ tượng trưng của Charles Baudelaire (Baudelaire người là vua thi sỹ - Ăn mày). Từ nửa cuối phong trào thơ mới, sau lời khích của Hàn Mạc Tử, Bích Khê đột nhiên chuyển sang kiểu thơ tượng trưng, với tâm nguyện “trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sỹ phi thường, bằng không sẽ không bao giờ làm thơ nữa”. Thế rồi, năm 1939, khi tập Tinh huyết ra đời, là “một đóa hoa thần dị” như Hàn Mạc Tử đã viết trong lời chứng.

Điều làm nên “thần dị” này là sự kết tinh, gặp gỡ giữa hai lối tư duy thơ, thơ Đường và thơ tượng trưng của phương Tây trong ngòi bút Bích Khê. Sự kết tinh đó thể hiện trên nhiều phương diện, hòa trộn trong câu thơ từ nhạc điệu, hình ảnh, màu sắc, hương vị…làm cho thơ Bích Khê mang một vẻ đẹp dị thường, “hay vào loại bậc nhất trong thơ Việt Nam”. Chẳng hạn:

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông

(Tỳ bà)

Trong câu thơ trên có thể nhận ra dấu vết thơ Đường khá rõ. Ngôn từ phảng phất sắc thái “buồn vương” dịu nhẹ đến “cây ngô đồng” hiện hữu trong thơ Đường như một biểu tượng (Ngô đồng nhất diệp lạc/ Thiên hạ cộng tri thu). Nhưng cũng trong câu thơ trên có thể nhận ra dấu vết của thơ tượng trưng phương Tây hòa trộn trong màu sắc và nhạc điệu: màu vàng như một “biểu tượng” đặc trưng trong mênh mông buổi tàn thu. (Charles Baudelaire trong bài mang tính tuyên ngôn Correpondances cũng có sự hòa trộn rất đặc trưng này: Les parfums, les couleurs et les sons de respondent ). Một lối tư duy thơ rất khác lạ so với tư duy lãng mạn đương thời, lại khác xa với tư duy thơ hiện thực, có phần bí ẩn, với sự hòa tan trong lớp vỏ ngôn từ những vô thức, trực giác, ám thị…và không còn ráo riết với nghĩa, bớt đi rất nhiều sự rõ ràng, vươn tới cái mà ông cha ta vẫn nói: “ý tại ngôn ngoại”. Cái ý ở ngoài lời này chính là một đòi hỏi rất cao đối với thơ, cũng là cái để thơ kích thích suy nghĩ tiếp của người đọc, cũng chính là cái mỗi người đọc, tùy theo quan niệm thẫm mỹ của mình, tùy theo kinh nghiệm sống của mình, tùy theo tâm trạng của mình lĩnh hội theo cách của mỗi người. Tôi đồ rằng, đó chính là cái mà Hoài Thanh muốn nói: “hình như vẫn còn gì nữa…” trong những câu thơ của Bích Khê.

Rất nhiều trong thơ Bích Khê những câu thơ gần như mờ nghĩa, phi lý tính, hay nói cách khác, không thể đưa lý trí ra để giải thích cho rõ ràng, để tìm ra cái nghĩa hiểu theo một cách thực dụng. Bởi vì Bích Khê không chủ trương miêu tả, không chủ trương mạch lạc, không chủ trương hiện thực… mà chủ trương gây ấn tượng. Mỗi câu thơ hướng đến một ấn tượng. Cũng như chủ nghĩa tượng trưng không chủ trương hiện thực, mà chủ trương đi sâu vào cõi tâm hồn, vào cõi linh cảm, vào cõi vô thức… rồi từ đó đi tới cái đẹp:

Vàng phai nằm im ôm non gầy
Chim yên neo mình nương xương cây
Đây mùa hoàng hoa, mùa hoàng hoa
Đông nam mây đùn nơi thành xa

(Hoàng hoa)

Chẳng thể nào hình dung ra cho trọn vẹn đó là “bức tranh” gì (Bích Khê vượt ra ngoài khuôn phép của hiện thực). Nhưng lại cảm nhận được một cách rõ rệt trong cảm thức của mỗi người như là một sự thực thể của hiện thực xa xôi nào đó, hình thành bởi rất nhiều liên tưởng mà ngôn từ gợi ra. Chỉ cảm nhận được mà không gọi tên được, chỉ hình dung được mà không vẽ ra được. Không hẳn là hiện thực, nhưng có vẻ như biêng biêng với hiện thực. Đó chính là siêu thực, một nấc thang của hiện thực, vượt lên trên hiện thực. Chẳng hạn như khi Nguyễn Du viết: Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương, thì hiện thực đã không còn “nguyên vẹn” nữa. Ở đây mọi ngôn từ đều hiện thực, từ các danh từ: ngọn đèn, tiếng chày, nguyệt, sương đều hiện thực, nhưng đã có một thực tại “ngoài thực tại”, hình thành bởi sự “quái đản” tương tác giữa các động từ “khêu” và danh từ “nguyệt” (khêu nguyệt), “nện” và “ trăng” (nện trăng) tạo ra. Ở trường hợp Bích Khê, nhà thơ như đã khoác lên hiện thực chiếc áo màu hoàng hoa và những gì chúng ta hình dung được là như một ý niệm về cái đẹp. Nói như  Hàn Mạc Tử: “Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì thực tế ấy thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu…”**.

Nếu như ở thơ Đường nói chung, các nhà thơ thường rất ít khi nói hết ý mình, chỉ gợi mở, chỉ dựng lên những tương quan giữa các chất liệu thơ, rồi để người đọc “tự luận”, tự tìm ra ý nghĩa…, thì Thơ Bích Khê cũng vậy. Bích Khê không chú tâm đến cái nhìn thấy, mà chú tâm khêu gợi. Hơn thế nữa, Bích Khê hòa trộn tất cả những: hương, hoa, nhạc, màu…vào một cảm thức đặc biệt để từ đó làm câu thơ bật sáng một cách dị thường, làm bất ngờ những ai đọc tới. Thoạt tiên người ta bất ngờ, người ta chưa thể hiểu ngay mà bị nhạc điệu dẫn đi, rồi người ta cảm nhận được, khi đã xuất hiện trong liên tưởng của họ những sợi tơ mỏng manh nối với một thực tại nào đó. Nhưng là sự cảm nhận khó gọi tên, lại càng khó giải thích cho ra ngọn ngành. Đấy là cách làm quen thuộc của các nhà thơ “trường thơ loạn”. Chế Lan Viên viết: Hàn Mạc Tử nói làm thơ tức là điên. Tôi thêm: làm thơ là làm sự phi thường. Thi sỹ không phải là người. Nó là người Mơ, người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xáo trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý *** .

Chẳng hạn:

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Tay đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Dây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi

(Tỳ bà)

Quả thực trong đoạn thơ trên và rất nhiều đoạn thơ khác của Bích Khê cảm giác như vẫn chưa thấy hết những gì nhà thơ muốn nói, như Hoài Thanh thú nhận là có thật.

Bích Khê nghiêng về phía hình thức, về phía “vị nghệ thuật”. Ngay từ bài thơ mang tính “tuyên ngôn”, Bích Khê đã nói rõ quan niệm của mình: Hỡi lời ca man dại/ Điệu nhạc thở hơi rừng/ Đêm nay xuân đã lại/ Thuần túy và tượng trưng (Xuân tượng trưng). Lời ca man dại, thuần túy… cho ta thấy với Bích Khê thơ là “vương quốc” của cái đẹp. Hẳn không phải ngẫu nhiên mà Bích Khê đặt cho tác phẩm của mình là Tinh huyết và Tinh hoa.

Bích Khê rất chú ý đến hình thức:

Từ nhạc điệu, hình ảnh, màu sắc đều toát lên vẻ đẹp đặc thần dị mang “thương hiệu Bích Khê”. Bích Khê có rất nhiều bài thơ “độc thanh”, đọc lên nghe như một bản giao hưởng chơi vơi, mênh mang. Nếu là mùa thu thì đó là vàng rơi, vàng rơi: thu mênh mông, nếu là mây thì đó là mây nhung pha màu thu, nếu là sương thì đó là sương lam phơi màu thu, nếu là đàn thì đó là cây đàn yêu đương làm bằng thơ…

Từ cách ngắt dòng, vắt dòng khá “gắt”, làm gián đoạn, làm “tán loạn” trong tiếp nhận của người đọc:

Buồn, và xanh trời. (tôi trôi tới bờ
Êm biếc - khóc với thu: lời úa ngô
Vàng…khi cách biệt - giữa hồn xây mộ -
Tình hôm qua - dài hôm nay thương nhớ
im lặng nhìn bông ý, lặng lờ lên
những dáng hình thanh khí…) Giữa mông mênh

(Duy tân)

Đoạn thơ trên trích từ bài Duy tân, hẳn mang chủ định đổi mới rõ rệt của Bích Khê. Đây là một kiểu tư duy thơ từng có trong thơ phương Tây. Kiểu tư duy này không còn chú ý đến trật tự ngôn ngữ và ngữ pháp thông thường, ngược lại, cố ý đảo lộn, xáo trộn ngữ nghĩa, gây “vấp” trong cảm nhận, đặng làm tăng sự chú ý của người đọc, cái mà Chế Lan Viên nói là: nó xáo trộn Dĩ vãng, và không chỉ là dĩ vãng.

Bích Khê sử dụng nhiều thể thơ. Có thể thơ thuần túy dân tộc như lục bát, song thất lục bát, có thể thơ cổ phong, thơ luật Đường, thơ tự do…Nhiều câu thơ của Bích Khê “in dấu” của lối diễn đạt hiện đại, không hề bị cũ so với thơ hiện thời.

Chẳng hạn, lối diễn đạt nhiều lớp: Bóng yên hoa, màu khiêu vũ, mây phú quý, bả phù vân ( Đêm khuya nghe chuông ); lối diễn đạt “tích hợp” nhiều cảm giác: Tôi muốn nghe đôi mắt/ Chứa cả một hồ thu ( Thu); lối diễn đạt dung dị, như một tâm sự: Thưa chị đêm nay dường nhớ quá/ Đưa thư hồng nhạn biết mang không/ Một nhành mai trắng rung rinh ngọc/ Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông ( Gửi Liên Tâm ); lối diễn đạt mang nặng cảm thức nội tâm: Đêm nay ta nhặt hoa trăng rụng/ Những cánh đau thương sắp mặt lầu ( Nhặt hoa ), Rồi những mùa thu vô hạn thương/ Trở về dưới biếc chập chờn hương/ Mùa thu ám ảnh nhà thi sỹ/ Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương ( Nấm mộ ), Là lúc đêm về trên mái ngói/ Những nhành nhãn muộn cánh dơi bay (Làng em )…

Nhưng vì quá chú trọng hình thức, cái đẹp của câu thơ có đôi lúc làm nhẹ đi cái day dứt với cuộc đời. Chế Lan Viên nói: nó thoát Hiện tại là vì vậy. Bích Khê không đau đời bằng Hàn Mạc Tử. Thơ Hàn Mạc Tử cất lên từ đau thương, biến đau của một người thành đau của nhiều người. Bích Khê quên cái đau của mình để đến xứ sở của cái đẹp. Bởi vậy, thơ Bích Khê có những bài, những câu đẹp lộng lẫy. Đi vào thế giới thơ Bích Khê là bước vào ngôi đền thiêng của thi ca, nhưng càng đi càng thấy tiếng vọng của cuộc đời đã ở xa lắm. Hiển nhiên không ai đi tìm bóng dáng cuộc đời trong thơ ca lãng mạn, nhưng sao đọc Huy Cận, Xuân Diệu, rồi Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính ngày trước, vẫn thấy điều gì đó ngay cạnh ta, trong lòng ta. Còn Bích Khê, ông dẫn ta đi vào chốn thiên thai đầy những vạt hoa vàng quên lãng nào đó, thì phải.

Dẫu vậy, thơ Bích Khê thật đẹp và lạ, thật quý và hiếm trong lịch sử thơ ca Việt Nam.

LÊ THÀNH NGHỊ
Nguồn: Văn Nghệ

____________________________

* Hoài Thanh và Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, H. 1989, tr. 232
** Hàn Mạc Tử: Tựa Tinh huyết, 1939.
*** Chế Lan Viên: Tựa Điêu tàn. Xem Chế Lan Viên, Toàn tập, 5 tập, tập 1, NXB.Văn học, H. 2002, tr.23.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2019

TẾ HANH, MỘT ĐỜI THƠ GẮN BÓ VỚI ĐẤT NƯỚC, QUÊ HƯƠNG

Nhà thơ Tế Hanh - một trong những đại biểu cuối cùng của phong trào Thơ mới đã ra đi lúc 12 giờ 20 phút ngày 16-7-2009. Khi chúng tôi đến nhà riêng của ông tại số 10 Nguyễn Thượng Hiền thì xe ô-tô chuyển thi hài ông tới nhà tang lễ vừa chuyển bánh dưới trời Hà Nội mưa như trút nước. Cách đây đúng mười năm, tại lễ kỷ niệm 40 năm Bộ đội Trường Sơn tổ chức tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội, nhà thơ Tế Hanh đến dự và bị một cơn tai biến. Và từ đó đến nay, ông nằm trên giường bệnh, nhiều lúc chập chờn trong vô thức. Mọi sinh hoạt của ông hoàn toàn phải trông cậy vào sự giúp đỡ của vợ ông - bà Lâm Yến, và những người thân trong gia đình.
Nhà thơ Tế Hanh

Tế Hanh sinh ngày 20-6-1921, quê ở xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi - một vùng gần biển có phong cảnh khá đẹp và dân cưsống chủ yếu bằng nghề chài lưới. Thân phụ Tế Hanh  là một người yêu thích và cũng thường xuyên sáng tác thơ ca. Lớn lên trong hoàn cảnh đó, lại có năng khiếu từ nhỏ và sớm được tiếp xúc với thơ văn lãng mạn Pháp, Tế Hanh đã đến với phong trào Thơ mới như một lẽ tự nhiên. Những ngày nghỉ học là bài thơ đầu tiên ông viết năm 1938 và những sáng tác trong tuổi hoa niên của ông đã được tập hợp lại, in trong tập thơ Nghẹn ngào. Tập thơ đã giành được giải thưởng của Tự lực văn đoàn năm 1939. Có thể nói rằng, Tế Hanh là một "bông hoa nở muộn" trên thi đàn Thơ mới. Khi Thơ mới đã bắt đầu đi vào các đề tài, siêu thực, siêu hình thì thơ Tế Hanh lại hấp dẫn người đọc bằng sự chân chất và tình cảm. Trong khi mỗi nhà thơ là một thế giới riêng với bao vui buồn, đau thương, tuyệt vọng,... thì thơ Tế Hanh với khuôn mặt học trò dễ thương với những cảm xúc chân tình, bé nhỏ đã được người đọc đón nhận nồng nhiệt. Hàng loạt những bài như Lời con đường quê, Những ngày nghỉ học, Chiếc rổ may đã ghi lại dấu ấn của một trái tim nhân hậu phảng phất những nỗi buồn trong trẻo. Ðặc biệt trong thời kỳ này, ông đã để lại bài thơ thật đặc sắc viết về làng quê chài lưới với dòng sông, với biển cả, với vị men nồng mặn của đất trời, với Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng - Cả thân hình nồng thở vị xa xăm - Con thuyền im bến mỏi trở về nằm - Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Tuổi trẻ với tình cảm hồn nhiên của mình, ông đã cảm nhận vẻ đẹp và sức sống bền vững của quê hương qua những hình ảnh thơ đẹp, giàu sáng tạo: Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng - Rướn thân trắng bao la thâu góp gió. Và Quê hương là một bài thơ toàn bích được cấu tạo nên bởi hương vị mặn mòi của làng quê, bởi tuổi trẻ giàu yêu thương và khát vọng. Ngày ấy, tình cảm trong thơ Tế Hanh thể hiện rõ những cảm xúc của tuổi học trò trong trắng ngây thơ, tuy không khỏi có lúc hằn lên những buồn khổ, đau thương của cuộc đời: Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu - Ngàn đời không đủ sức đi mau - Có chi vương vấn trong hơi máy - Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau. So với những tiếng nói thơ ca đương thời từng trải như Chế Lan Viên, Huy Cận... thì nỗi buồn trong thơ Tế Hanh vẫn mang một vẻ non tơ, trong trẻo. Ở giai đoạn này Tế Hanh không viết về cuộc đời chung quanh mà chỉ nói về tâm hồn mình.

Từ bước ngoặt lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thơ Việt Nam đã phát triển với một nhịp độ nhanh chóng, có sự chuyển biến mạnh mẽ về nội dung và hình thức, vừa mở đầu cho một thời kỳ mới, vừa là cơ sở để thơ tiếp tục phát triển trong các giai đoạn sau. Sự chuyển biến ấy được thể hiện một cách cụ thể và sinh động trong hàng loạt các sáng tác của các nhà thơ thời kỳ này. Tế Hanh cũng không là một ngoại lệ. Nhà thơ đã để lại được trong tập thơ đầu tay những hình ảnh cụ thể và da diết của những cánh buồm, dòng sông, con đường quê, sân ga... Có lẽ do gần được, gắn được với cuộc đời cần lao - làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới,... do không quá dấn sâu vào cái tôi hư vô, tuyệt vọng, nên nhà thơ không bị ngấm quá nhiều một cái buồn định mệnh - dẫu vẫn chưa dứt hết được nỗi ám ảnh "núi lở, sông mòn, hoa rơi, là chết". Bài thơ của ông viết về quê hương lấy chính tên Quảng Ngãi làm đầu đề (Tiên phong số 10, 1-5-1946) với lời thơ, điệu thơ hoàn toàn khác trước, để biểu đạt một cảm xúc mới - gân guốc, một nhận thức mới - cách mạng, theo cách cảm, cách hiểu riêng của tác giả, tuy nhiên bài thơ vẫn còn khô cứng và máy móc. Phải nhiều năm sau bài Quảng Ngãi, Tế Hanh mới đến được với sự giản dị, hồn nhiên trong Người đàn bà Ninh Thuận - một dấu ấn quan trọng, đánh dấu sự chuyển đổi cảm xúc và thi liệu của nhà thơ. Cuộc sống mới với những đổi thay quan trọng đã định hướng cho mọi xúc cảm thơ và tạo nên những phẩm chất nghệ thuật mới như nhà thơ đã từng viết: Dòng thơ tôi càng thưa bóng mây sầu - Càng lấp lánh những ánh trời hy vọng; Sang bờ tư tưởng ta lìa ta - Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà.

Nếu nói rằng thơ chống Mỹ bắt nguồn từ thơ đấu tranh thống nhất nước nhà thì Tế Hanh là một trong những nhà thơ có nhiều đóng góp hơn cả. Là nhà thơ miền nam tập kết ra bắc, Tế Hanh luôn luôn hướng về quê hương. Có thể nói những bài thơ của Tế Hanh về đề tài đấu tranh thống nhất, về nỗi nhớ quê hương được xếp vào loại những bài thơ hay nhất, thành công nhất: Nhớ con sông quê hương, Mặt quê hương, Nói chuyện với sông Hiền Lương, Chiêm bao... Ðất nước liền một dải, cớ sao lại cắt chia: Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị - Tận chân trời mây núi có chia đâu. Tên gọi các tập thơ của Tế Hanh cũng đã phần nào nói lên tình cảm ruột thịt giữa hai miền Nam - Bắc trong suốt 20 năm đấu tranh: Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thương (1963), Khúc ca mới (1966), Ði suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973), v.v. Nửa sau những năm 60 của thế kỷ trước, Tế Hanh đã nổi bật lên bằng những bài thơ về tình cảm nhớ thương quê của mình. Rung động chân tình, sáng tạo trong nghệ thuật cấu tứ, nhiều bài thơ của ông đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Xuyên suốt các bài thơ của ông là một ý thức, một trách nhiệm đối với quê hương: Tâm hồn lớn lên với thời gian - Tôi không để tháng ngày thành nước chảy - Sống sao cho xứng với miền Nam - Nửa nước anh hùng đang rực cháy. Tình cảm quê hương được triển khai và nâng lên trong tình yêu đất nước. Thiên nhiên miền nam trong thơ ông tươi rói những sắc mầu kỷ niệm. Con người miền nam trong thơ ông là hiện thân của phẩm chất anh hùng cách mạng. Thơ Tế Hanh chân thành, trong sáng, giản dị, tình cảm đầm ấm, rung động tinh tế. Nhiều bài thơ hay của ông là sự việc, câu chuyện được dẫn dắt bằng một tình cảm tha thiết dưới ánh sáng của trí tuệ, là sự hài hòa giữa mô tả và biểu hiện, giữa kể và tâm tình.

Các tập thơ sau này như Khúc ca mới (1966), Ði suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973), Theo nhịp tháng ngày (1974), Giữa những ngày xuân (1977), Con đường và dòng sông (1980), Bài ca sự sống (1985), Thơ Tế Hanh (1989), Giữa anh và em (1992), Em chờ anh (1994)... đã ghi những dấu mốc quan trọng trên chặng đường sáng tạo của nhà thơ. Các tập thơ của ông là sự thể hiện những rung động sâu sắc về các vấn đề riêng - chung, về các sự kiện xã hội, về con người và cuộc sống theo cái "tạng" riêng của ông. Những bài thơ kể chuyện nhưng lại kết hợp được chất tự sự và trữ tình, hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng. Ông viết với một tấm lòng và một bước tiến mới về nghệ thuật. Tế Hanh là một nhà thơ giàu cảm xúc và cảm xúc của ông luôn chân thành, trong sáng. Ðiểm mạnh trong thơ ông là tình cảm, là tâm trạng với giọng điệu thơ tâm tình, thủ thỉ, có tác dụng thẩm mỹ cao khiến người đọc rung động. Có một nỗi nhớ dòng sông quê hương khắc khoải chảy suốt một đời thơ không ngừng nghỉ. Nó hiện lên trong kỷ niệm, trong xa cách, trong xao động lung linh tưởng nhớ. Từ những ngày đầu tiên mới bước vào đời đến những năm tháng sau này đi theo cách mạng, đi theo kháng chiến, biền biệt xa nhà, Nhớ con sông quê hương luôn luôn là một nỗi nhớ thường trực trong tâm hồn ông.

Sẽ là một thiếu sót lớn nếu không nhắc đến những bài thơ tình thật đặc sắc của Tế Hanh như Vườn xưa, Em ở đâu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Bão, Hà Nội vắng em, Không đề, Văn xuôi cho em... Khi đã bước vào tuổi "xưa nay hiếm", ông vẫn có những câu thơ da diết đến nao lòng: Tặng em thế kỷ chúng ta - Niềm vui nỗi khổ đều qua vội vàng; Biển một bên và em một bên - Ta đi trên bãi cát êm đềm - Thân buông theo gió hồn theo mộng - Sóng biển vào anh với sóng em. Có thể nói xa cách, nhớ thương là chủ đề tâm đắc nhất trong thơ tình Tế Hanh. Âm điệu da diết nhớ thương với những nỗi buồn man mác dịu nhẹ đã tạo nên nét tài hoa, dịu dàng đầy thương cảm.

Những năm cuối đời, nhà thơ Tế Hanh bị bệnh về mắt, thị lực giảm sút nhiều. Hàng loạt bài thơ viết trong thời gian này in rõ dấu vết của gánh nặng thời gian tuổi tác và cảnh ngộ riêng của tác giả: Mắt anh không được như xưa - Nhìn đêm bỡ ngỡ, nhìn trưa bàng hoàng - Nhìn mai như thể xuân sang - Nhìn chiều như thể thu choàng cỏ cây - Mắt em ngày trước hồ trong - Anh nhìn đôi lúc ngỡ vòng sương rơi - Nói sao hết được em ơi - Anh không thể bắt cuộc đời đứng yên - Em không thể mãi là em - Dẫu anh còn mãi cái nhìn ngày xưa. Và đây nữa, nhà thơ diễn đạt thật tài tình và chua xót thực trạng của mình: Cái thời đá bóng hăm hai đứa - Nay đánh cờ suông có một mình. Nhưng trên tất cả những nỗi buồn nhân thế vẫn là một mạch sống hồn hậu, tin yêu chảy trong đời như không bao giờ vơi cạn: Ta vẫn tin mãi nằm bên sự sống - Như đất như trời như núi như sông.

Dòng sông thơ của Tế Hanh đã chảy qua nhiều vùng, nhiều thời điểm của đất nước, đã phản chiếu một cách chân thành và trung thực bức tranh xã hội rộng lớn cũng như hành trình tâm trạng của chính mình. Tài năng và năm tháng đã đem lại cho nhà thơ Tế Hanh một cái nhìn đầy đủ hơn, ý thức hơn về quê hương, về dân tộc và cả về những rung động riêng tư. Gần một thế kỷ sống và sáng tạo, nhà thơ Tế Hanh thật sự ghi một dấu ấn quan trọng vào nền thơ Việt Nam hiện đại.

PGS.TS. LƯU KHÁNH THƠ
Nguồn: Nhân Dân


Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2019

MỘT CON ĐƯỜNG CỦA QUAN NIỆM SÁNG TẠO (NHÌN TỪ TRƯỜNG HỢP THANH TÂM TUYỀN)

Mỗi thời đại thông qua các nhà văn tài năng thuộc về thời ấy luôn đi tìm lấy nghệ thuật cho mình. Phản biện quá khứ, tìm cách đốt phá, chôn vùi quá khứ là để hướng tới việc đản sinh con phượng hoàng mới từ đống tro tàn, con đường này là phổ biến cho mỗi sinh thành nghệ thuật.

“Đốt”, “chôn”, cái động từ mạnh ấy, vì thế thực ra chỉ là một lối tu từ học thậm xưng cho khát vọng, cách tân, đổi mới. Nhưng mong muốn là một chuyện, thực thi được mong muốn ấy lại là một chuyện khác, và sẽ là càng khác nữa nếu tính đếm đến thành tựu thu về. Sáng tạo là khác lạ, nếu hình thành được quan niệm khác lạ về sáng tạo ấy nữa, thì sự kết hợp hai trong một ấy, sẽ đơm hoa kết trái ở một mùa màng nghệ thuật mới. Thanh Tâm Tuyền đã thể hiện được một cách sáng rỡ sự kết hợp này. Tài năng xuất chúng của Thanh Tâm Tuyền ở thơ, ở văn xuôi đã được biết đến, được khảo cổ, và vẫy gọi tiếp những tái khám phá. Tiểu luận này lần tìm quan niệm nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền thời tạp chí Sáng tạo, khởi từ tiểu luận Nỗi buồn trong thơ hôm nay (Sáng tạo, số 31, tháng 9/1959), qua các cuộc thảo luận văn học chuyên đề trên Sáng tạo tục bản (các số 1 đến 4, tháng 7 đến 10/1960), đến tiểu luận quan trọng tuyên ngôn quan niệm nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền: Nghệ thuật đen (Sáng tạo (bộ mới), số 3, tháng 9/1960).
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền

1. Nỗi buồn trong thơ hôm nay (1) là tiểu luận được hình thành dựa trên hai phần viết tương đối độc lập, nhưng có sự gắn kết về ý tưởng: phần đầu là sự phát hiện ra quan niệm nghệ thuật theo lối Dionysos trong sự phân biệt với quan niệm nghệ thuật theo lối Apollon của Friedrich Nietzsche khi ứng vào đời sống thi ca Việt Nam bấy giờ; phần sau là trích đoạn lời tựa được viết cho tập thơ thứ hai của Thanh Tâm Tuyền dự kiến xuất bản trong năm 1960, Liên - thơ 1956-1960, nhưng phải đến năm 1964 mới được Sáng tạo xuất bản dưới tên Liên [- Đêm mặt trời tìm thấy]. Tiểu luận này trở nên quan trọng vì trước đấy tập thơ đầu tay của Thanh Tâm Tuyền, Tôi không còn cô độc (Người Việt xuất bản, 1956), đã tạo nên một hiệu ứng nghệ thuật đáng kể, xác định vị trí quan trọng của Thanh Tâm Tuyền trong đời sống (cách tân) thi ca nam Việt Nam.

“Thơ hôm nay là thơ tự do” (2) là quan điểm xuyên suốt tiểu luận được Thanh Tâm Tuyền cổ súy. Bởi với Thanh Tâm Tuyền, thơ tự do như thế đáp ứng được hai yêu cầu: thơ không bị niêm luật gò bó, tức thơ được tự do viết “suôi” theo cảm hứng nhà thi sĩ; và cùng với đó, thơ chỉ nương theo nhịp, “sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trong một số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác” (3). Thơ tự do như thế sẽ phát huy được hết năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ, khai mở tới những biên giới khôn cùng của nghệ thuật thi ca.

“Tôi nghĩ rằng, Thanh Tâm Tuyền viết - điều làm cho người đọc xa lạ với thơ hôm nay không hoàn toàn vì hình thức tự do của nó. Thơ không vần, không điệu, thơ suôi nếu quả thật là thơ - nghĩa là đạt được đến ngôn ngữ mầu nhiệm, không chỉ chuyên chở ý tưởng mà còn ám ảnh vang vọng mãi trong tâm hồn - thì sớm muộn người đọc cũng tìm thấy và quen dần với một thứ nhịp điệu rộng rãi phức tạp ở một trình độ nghệ thuật cao hơn đối với thứ nhịp điệu đơn giản rút gọn.” (4)

Phát hiện ra “thứ nhịp điệu rộng rãi phức tạp” trong thơ là một đóng góp quan trọng của Thanh Tâm Tuyền, mở ra cách cửa, nới rộng kinh nghiệm thẩm mỹ cho người đọc bước vào vương quốc của thi ca hiện đại. Ông tự sự: “Trong khi đề tựa cho tập thơ Quách Thoại [chưa in - nguyên chú của tác giả] tôi đã tìm thấy trong thơ của Thoại một thứ nhịp điệu tôi gọi là nhịp điệu của hình ảnh. Trong một bài thơ giữa những tiếp nối của ý tưởng bỗng nhiên xuất hiện hình ảnh, có khi một có khi là một mớ xô đẩy nhau, tưởng chừng như không ăn nhập gì vào bài nhưng chính thực ở đấy tỏa ra một thứ ánh sáng một thứ âm nhạc bao trùm làm rung động toàn bài.” (5). “Nhịp điệu của hình ảnh”, vậy là, sự phát hiện này của Thanh Tâm Tuyền đã lật nhào quan niệm truyền thống về “nhịp điệu của ngôn từ” trong thơ. Thơ tự do, theo đó, đã được định nghĩa khác đi, khác xa rất nhiều lối định nghĩa dựa vào hình thức văn bản, mô hình diễn ngôn. Những phát triển tiếp theo của Thanh Tâm Tuyền về nhịp điệu thơ đáng được xem là một gợi ý sâu sắc, khác lạ và vẫy gọi:

“Từ cái nhịp điệu của hình ảnh, rồi bằng kinh nghiệm riêng khi làm thơ cũng như khi đọc thơ, dần dần tôi tìm đến được nhịp điệu của ý tưởng, cả hai thứ nhịp điệu trên chỉ là sự thể hiện nhịp điệu của ý thức, hơn bao giờ hết, người ta sẽ thấy các nhà thơ hôm nay là những ý thức muốn biểu diễn bằng thi ca. Cần phải nhận định rõ cái nhịp điệu của ý thức [biểu] diễn trong thi ca không thể có cái hình dáng của bất cứ một thứ luận lý nào, nên dù có viết suôi thì hiển nhiên thơ suôi vẫn không phải là văn xuôi. Cái nhịp điệu của ý thức sinh ra cái nhịp điệu của ý tưởng, của hình ảnh nằm trong một mối điều hòa tự thân phức tạp, không có quy luật nhất định, nó tùy thuộc vào từng nhà thơ. Và một bài thơ hôm nay nếu thành công, tôi nghĩ nó sẽ đạt đến một thứ nhạc khá mới lạ không phải chỉ là sự hòa hợp đơn thuần của bằng trắc mà còn ở trong sự chứa đựng của tiếng nói, của hình ảnh, của ý tưởng biến diễn qua một ý thức sáng suốt, tự do vươn tới sự thống nhất trong khi phải trải qua sự chia xé mãnh liệt.” (6)

Nếu khảo sát sâu vào thơ in trên tạp chí Sáng tạo, chúng ta sẽ thấy được sự chia sẻ của các thành viên nhóm này với quan niệm về thơ của Thanh Tâm Tuyền. Thơ tự do trên Sáng tạo không còn là thơ phụ thuộc vào hình thức của việc tổ chức ngôn từ bài thơ nữa (nó không câu nệ vào việc phá bỏ vần luật, vào cách đặt câu, lên dòng xuống dòng,… kiểu như thơ tự do không vần được định nghĩa bởi sáng tác của Nguyễn Đình Thi ở ngoài Bắc), bởi ở đấy, thậm chí, thơ lục bát của Tô Thùy Yên cũng được gọi là thơ tự do. Để đi tìm một chân trời thẩm mỹ mới, Thanh Tâm Tuyền và nhóm Sáng tạo đã đi đến một “đoạn tuyệt” - như chính cách chọn từ của Thanh Tâm Tuyền, đoạn tuyệt trong quan niệm, để tự do thi triển quan điểm của mình. Thơ tự do, theo đó, là tự do trong ý tưởng, một “ý tưởng bùng vỡ”. Có lẽ chính vì cách hiểu này mà trong tiểu luận, Thanh Tâm Tuyền dù đánh giá cao Vũ Hoàng Chương, vẫn phê phán loại thơ phá thể (hiểu như là một cách điều chỉnh Thơ mới), thậm chí so với chính thơ thất ngôn hay lục bát (tức thơ luật) của chính Vũ. Đồng thời, từ góc nhìn này, Thanh Tâm Tuyền cũng hiểu được vì sao khi tổng kết phong trào Thơ mới, Hoài Thanh đã không hiểu được “cái độc đáo” của thi tài Hàn Mặc Tử.

Với thơ, và với quan niệm thơ mới mẻ của mình, Thanh Tâm Tuyền đã vững chân trong sinh quyển của tượng trưng, siêu thực và hiện đại. Đó là một đột phá khẩu của thơ so với mặt bằng kinh nghiệm thẩm mỹ về thơ của độc giả lúc bấy giờ, làm nên “nỗi buồn trong thơ” vì sự xa cách, thiếu hiểu biết, cảm thông, sẻ chia. Song không vì thế mà nhà thi sĩ thỏa hiệp, thậm chí ngược lại, hấp thu gợi ý của Nietzsche, lựa chọn hiện sinh, Thanh Tâm Tuyền lên tiếng quyết liệt:

“Cho nên tất cả những lời trách cứ đối với thơ hôm nay đều hữu lý: thơ không còn là thơ, không còn gì nghệ thuật. Chúng tôi trả lại nàng thơ, trả lại nghệ thuật cho các người, cho những thi sĩ thuộc giòng đầu bù tóc rối có nghệ thuật rạng ngời vững vàng như thần Apollon. Chúng tôi theo cơn cuồng nộ bi thảm của Dionysos, của cuộc đời hôm nay. Chúng tôi cho các người vĩnh viễn, hãy nhường cho chúng tôi hiện tại.” (8)

2. Nếu như Nỗi buồn trong thơ hôm nay khép lại thời kỳ đầu của Sáng tạo, thì với Sáng tạo (bộ mới), cộng hưởng với nhiều biến chuyển trong đời sống tinh thần xã hội, Thanh Tâm Tuyền và nhóm Sáng tạo đã hiện diện mạnh mẽ hơn trong các tham dự vào cuộc đời thông qua các can thiệp nghệ thuật. Bốn số liên tiếp của tạp chí, từ số 1 đến số 4, Sáng tạo tổ chức thảo luận về các chuyên đề: Nhân vật trong tiểu thuyết (số 1, tháng 7/1960); Nói chuyện về thơ bây giờ (số 2, tháng 8/1960); Ngôn ngữ mới trong hội họa(số 3, tháng 9/1960); Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam (số 4, tháng 10/1960). Tất cả nhằm vào một mục đích “trên “diễn đàn văn học nghệ thuật hôm nay” dựng lại, chúng ta, người viết và người đọc cùng tìm trả lời cho câu hỏi: Thế nào là nghệ thuật hôm nay?”(1) như lời ngỏ của nhóm khi tục bản tạp chíSáng tạo. Chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới những ý kiến về văn xuôi của Thanh Tâm Tuyền trong những cuộc thảo luận này. Bởi nếu như với thơ, các ý kiến là tiếp nối những gì đã được đề cập đến trong tiểu luận Nỗi buồn trong thơ hôm nay, thì với văn xuôi, đó là những ý kiến mới mẻ, hăng hái, và giàu năng lượng cho một khúc quành sáng tạo mới. Văn xuôi từ đây sẽ là một mối quan tâm đáng kể của Thanh Tâm Tuyền, có lẽ, chủ yếu do sức mạnh mà nó có được khi trực diện với các vấn đề của đất nước và thời đại.

Khi bàn về “nhân vật trong tiểu thuyết” (9), Thanh Tâm Tuyền đã viện dẫn tới phân tâm học của S.Freud như một kích thích tới nghệ thuật hiện đại. Nhận định về tiểu thuyết, ông cho rằng cần phải xác định chính xác thế nào là nhân vật và vị trí của nó trong tiểu thuyết. Theo ông, “đường lối chung của tiểu thuyết gia hiện thời” (ở đây ông muốn nhấn mạnh đến tiểu thuyết mới, vừa trong ý đối lập với “tiểu thuyết truyền thống” và cả trào lưu tiểu thuyết Mới của Pháp, bởi trong thảo luận ông có nhắc đến một đại diện của trào lưu này là Michel Butor), “là tác giả chú trọng tạo cái không khí cho toàn thể tác phẩm. Không khí là chính. Nhân vật là phụ. Nhân vật giống nhau, nhiều khi chỉ còn là những tên gọi”.(10) Điều này sẽ được ông thực hiện trong các sáng tác của mình (mà trường hợp Tiếng động (Hiện đại xuất bản, 1970) là một ví dụ). Riêng về vấn đề nhân vật, sau này sẽ trở thành vấn đề con người trong tiểu thuyết Thanh Tâm Tuyền, ông phê phán xu hướng sử dụng tâm lý học cổ điển để dựng nhân vật và cổ vũ cho việc sử dụng tâm lý học hiện đại, ở đây là Freud: “Đặt vấn đề một cách cụ thể hơn; chúng ta có thể phân tích được rằng quan niệm về nhân vật thời xưa dựa vào tâm lý cổ điển. Trong tâm lý nhân vật có những thành phần riêng biệt và chia rẽ. Như đời sống tâm lý nhân vật cổ điển được chia làm ba phần: thông minh, cảm xúc và ý chí. Mỗi nhân vật được quy định cá tính về một trong những khuynh hướng căn bản kể trên. Bây giờ con người là một đồng nhất. Trong mỗi hành động đều bao gồm cả một đời sống tâm linh.Phải kể đến ở đây tâm lý học của Freud chú trọng khai triển con người ở bí mật tiềm thức hiện lên - chúng tôi nhấn mạnh”.(11) Có lẽ đó cũng là lý do căn bản để đến cuộc trao đổi sau, khi thảo luận về “văn nghệ tiền chiến”, Thanh Tâm Tuyền đã cực lực công kích tiểu thuyết tiền chiến, nhất là kiểu tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Ông nói: “Theo tôi, tiểu thuyết tiền chiến nói chung đã lỗi thời về mọi phương diện. Có thể gọi chung tiểu thuyết tiền chiến là một thứ tiểu thuyết đơn giản. Trước hết, đề tài là một sự giản lược của đời sống. Cốt truyện cũng hết sức giản lược, có thể quy thành công thức sau này: một đàn ông + một đàn bà = một chuyện tình. Chuyện tình có thể chia rẽ hay hòa hợp, bởi trở ngại cũ, mới, luân lý, lý tưởng v.v… Bố cục tiểu thuyết tiền chiến thì mạch lạc, đơn giản. Tâm lý hời hợt, bởi chỉ ngưng lại cái vỏ con người là tình cảm”; Để tỏ ra công bằng, ông nói thêm: “Qua tiểu thuyết tiền chiến, tôi chỉ có thể nhận được người như Vũ Trọng Phụng. Và tạm nhận được Nguyên Hồng qua Những ngày thơ ấu. Nhận ở cái ý thức mới so với thời đại của Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng. Nhưng phải công nhận rằng tiểu thuyết họ vẫn còn rất nhiều khuyết điểm kỹ thuật” (12) . Với tất cả những kiểm thảo như thế, Thanh Tâm Tuyền đề xuất phải đổi mới tiểu thuyết: “Tiểu thuyết không phải chỉ là truyện. Như các nghệ thuật khác, nó phải là sự biểu diễn hết sức phức tạp của một nhận thức chủ quan về đời sống”.(13) Ông đề cao ý thức của chủ thể sáng tạo, bắt buộc nhà văn phải chú ý đến quan điểm, đến kỹ thuật, với nhân vật, thì “dựng xong nhân vật rồi hãy tìm ở ngoài đời để kiểm chứng” chứ không phải “tìm ở ngoài đời để dựng nhân vật”, “và như thế người viết tiểu thuyết với đầy đủ ý nghĩa là một ông trời con”. Theo ông, “cái ý nghĩa chính là ảnh hưởng của tiểu thuyết trong đời sống. Sẽ có những người ngoài đời bắt chước sống theo nhân vật tiểu thuyết, và giá trị của tiểu thuyết chính ở chỗ nó tạo được một lối sống cho người đời” (14). Bằng cách lập luận ấy, ông đề xuất hình ảnh con người của văn học thời bấy giờ: “Ở những tác giả buộc chặt được với thời đại tôi thấy có thể quy định rằng: nhân vật thời nay là một người bước vào cuộc đời với một cặp mắt bỡ ngỡ kinh ngạc và đòi hỏi một sự đặt lại tất cả các vấn đề mà từ trước tới nay người ta coi như đã giải quyết ổn thỏa hay người ta đã làm lơ”. (15) Nói như Tô Thùy Yên - người chia sẻ quan điểm với Thanh Tâm Tuyền khi thảo luận, thì đó là “nhân vật với con mắt người tiền sử”. (16) Đây sẽ là một kiểu nhân vật trong sáng tác của Thanh Tâm Tuyền, và được ông minh định sáng rõ trong tiểu luận Nghệ thuật đen (17).

3. Một số ý kiến Thanh Tâm Tuyền phát biểu tản mát trong thảo luận của nhóm Sáng tạo đã hiện diện trở lại lớp lang và bài bản trong Nghệ thuật đen, bản tuyên ngôn về sự phản kháng nghệ thuật và nghệ thuật phản kháng. Tiểu luận cũng có những tiếp nối và triển nở quan niệm về thơ đã được trình bày trong tiểu luận Nỗi buồn trong thơ hôm nay được công bố trên Sáng tạo số cuối cùng của bộ cũ, khi ông viện dẫn cách phân chia của Nietzsche về hai dòng quan niệm nghệ thuật đối chọi như đã nói: quan niệm kiểu Apollon và quan niệm kiểu Dionysos. Như sẽ thấy ở sau này, sự đối chọi ấy không chỉ được Thanh Tâm Tuyền viện dẫn cho sự phân biệt giữa “thơ xưa” và “thơ hôm nay”, mà còn trở thành cảm hứng cho những dấn thân về lý thuyết khi tiến hành phân biệt giữa “nghệ thuật đen” (nghệ thuật hôm nay) và “nghệ thuật xưa” (nghệ thuật truyền thống), để tìm cách ủng hộ nghệ thuật đen như cách Nietzsche đã ủng hộ nghệ thuật của những người mơ mộng theo Dionysos.

Mở đầu tiểu luận, Thanh Tâm Tuyền đã dùng một lối văn hùng biện:

“Gọi nghệ thuật đen là thứ nghệ thuật bi đát phẫn nộ, thứ nghệ thuật dục tình xuồng xã [suồng sã], thứ nghệ thuật vô luân trắng trợn. Thứ nghệ thuật bị các nhà đạo đức lên án, bị con người văn minh chối nhận, bị những người mác-xít dè bỉu - những hạng người rất nghịch nhau lại gặp nhau ở điểm này.

Gọi nghệ thuật đen là nghệ thuật bị hắt hủi, một nghệ thuật “mọi” của những tên “mọi” trong xã hội¨. Nhưng hãy nhận lấy một sự thực: “mọi” cũng là người và nghệ thuật của “mọi” cũng là nghệ thuật của người. Và bọn “mọi” ấy cũng muốn được phát biểu ý kiến như các ngài vậy.”(18)

Sau khi đã chỉ ra nguyên nhân ra đời nghệ thuật đen, phân biệt nghệ thuật đen với nghệ thuật xưa [nghệ thuật truyền thống], phân tích phẩm tính của nghệ thuật đen, ông kết luận:

“Gọi nghệ thuật đen không phải vì những ý nghĩa suy đồi lầm lạc người ta gán cho nó. Gọi nghệ thuật đen bởi liên tưởng tới một màu da của nhân loại, màu da đen. Đen có thể là một màu đẹp như đêm tối trong suốt vô cùng, như tròng mắt của người thiếu nữ Á đông. Nhưng hiện thời đen tiêu biểu hết nghĩa cho một cảnh ngộ trong ấy con người chịu đựng sức nặng đè ép của sự vật, của một trật tự mấy nghìn đời.

“Cớ sao tôi xanh, tôi sần và tôi đen đến thế?”. Hãy nghe tiếng kêu ấy của chàng nhạc sĩ da đen, hãy nghe những âm thanh đổ vỡ lổng chổng hay mệt mỏi thê thiết của chàng như hình ảnh của một thế giới dục tình bi đát.

Danh từ nghệ thuật đen được tạo thành từ hình ảnh một màu da lại luôn luôn là thân phận của người, một thân phận mọi. Bởi thế nghệ thuật đen chính là nghệ thuật hôm nay vậy.”(19)

Hướng lập luận của Thanh Tâm Tuyền trong tiểu luận này là tấn công vào quan niệm xem thường thứ nghệ thuật bị cho là tôi mọi, là “phản động, phản tiến hóa, phản nhân loại”, bởi các nhà bình luận chỉ vớt cái váng nổi trên bề mặt của lý do phát sinh nghệ thuật này: bình diện xã hội mà nghệ thuật hiện diện như một biểu thức. Thanh Tâm Tuyền muốn đi tìm căn nguyên “tiến bộ, tiến hóa, nhân loại (phổ quát)” của nó từ bề sâu sự sáng tạo tinh thần cá nhân. Với ông, “nghệ thuật trước hết là một lối nhận thức đời sống. Nhận thức nào cũng bắt đầu bằng sự chia lìa cần thiết giữa một ý thức và đối tượng của nó. Cấp độ của sự nhận thức cao thấp tùy theo sự chia lìa ấy sâu xa hay hời hợt”.(20) Nên trong sự so sánh với lối nhận thức đời sống ở nghệ thuật xưa và lối nhận thức triết lý, ông thấy tính cách mạng của nghệ thuật đen nằm chính ở cấp độ của sự chia lìa ấy, một “chia lìa ghê gớm” như là “khởi nguyên của ý thức là mầm mống của thay đổi, của sáng tạo”. Bởi theo ông, “triết lý luôn luôn là một sự khởi đầu, kẻ tới sau muốn lật đổ áp lực người thuở trước. Nghệ thuật đối với các tác giả lớn cũng là một khởi đầu”. (21) Ở đây, chúng ta thấy phảng phất cái quan điểm đã được Thanh Tâm Tuyền nêu ra trong cuộc thảo luận về “nhân vật tiểu thuyết” đã được nhắc đến trên kia, trong việc đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo nên những nhân vật bỡ ngỡ kinh ngạc trước thực tại với ý thức lật lại mọi vấn đề cố định thực tại ấy.

Chấp nhận nghệ thuật là một ý thức siêu hình về đời sống, giống như triết lý, nhưng nghệ thuật đen đã không bị “tha hóa” như nghệ thuật xưa, dù là những nghệ thuật lớn, khi chúng cố gắng “đồng hóa với triết lý”. Vì thế mà Thanh Tâm Tuyền tuyên chiến, “ngay trong lĩnh vực văn chương, cái tham vọng của nhà văn muốn đồng hóa văn chương với triết lý bao giờ cũng dẫn tới sự thất bại trên bình diện nghệ thuật - không kể đến thứ văn chương đồng hóa với luân lý hay với chính trị là thứ phản-văn-chương, bởi nó chẳng mang tới một nhận thức nào về đời sống, nó chỉ minh họa cho một nhận thức đã được quy định giản lược từ trước.” (22) Tham vọng đồng hóa để hướng tới sự bất diệt của nhận thức văn chương theo mô hình triết lý là bất khả, mà phải đi theo con đường khác. Ông cho rằng nhà văn phải ràng buộc mật thiết với đời sống để “chụp lấy trong những tình thế nhất định bằng những kinh nghiệm độc nhất”, bởi “cái ý nghĩa vĩnh cửu của đời sống văn chương, nếu đạt tới, vẫn bị giữ rịt giữa một hiện tại rõ ràng hiển hiện, gọi nó là một hiện tại bất diệt vậy, không bao giờ nó là một thứ tuyệt đối khách quan như cái ý niệm của Platon, của Hégel, hay - Thượng Đế (hoặc sự Siêu hóa) của các nhà hiện sinh Công giáo như Kierkegaard, Jaspers, hay Tự Do (viết hoa) của Sartre”. (23) Nghệ thuật đen không “tự vẫn trong triết lý” (ông mượn lại cách nói của A.Camus), nên nó bất diệt và có sức mạnh.

“Nghệ thuật đen - Thanh Tâm Tuyền viết, chính là cái ý thức siêu hình trước những cảnh ngộ trong đời sống hôm nay, là biểu thị sự tự do của những con người bằng xương thịt trong những tình thế có thực của kiếp người, là lời kêu gọi cất lên cùng mọi người trong cuộc hành trình lịch sử phải sống.

Bởi đó nó bi đát phẫn nộ, nó xuồng xã dục tình, nó vô luân trắng trợn.”(23)

Chính từ nền tảng này, Thanh Tâm Tuyền chỉ ra tính chất của nghệ thuật đen, cái ưu thế cần thiết khiến nó trở thành nghệ thuật cần theo đuổi trong hiện tại. Ông khẳng định: “cái tính chất đen đầu tiên của nghệ thuật hiện nay là sự bi đát đến phẫn nộ ít thấy ngày trước”,“nghệ thuật đen đứng lại là một lời kêu gọi, ý thức siêu hình sáng tạo của nó cố gắng đạt đến một nhận thức càng rộng rãi đầy đủ bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, phô bày qua tác phẩm những thực kiện phức tạp cho thật cụ thể chân xác, nỗ lực trong nhận thức triệt để về một cảnh ngộ là đã mở ra những tầm chân trời để tùy sự lựa chọn từng cá nhân đường lối thích hợp cho riêng mình giải phóng mình khỏi cảnh ngộ. Đối với xã hội, nghệ thuật đen giữ vai trò là một ý thức dò hỏi phát hiện những vấn đề có liên quan đến kiếp sống con người, một ý thức siêu hình luôn luôn thức tỉnh hoạt động trong phạm vi của nó, không có tham vọng giải quyết. Giải quyết thuộc phần vụ của các ngành hoạt động khác trong xã hội nhân loại, nói cho đúng là công trình của cả một xã hội trong sự vận dụng hết mọi khả năng của xã hội ấy.” (25) Để đạt được mục đích ấy, nghệ thuật đen phải tạo cho mình nhiều phương cách, nhưng trội bật hơn cả là việc sử dụng dục tình. Ở đây, Thanh Tâm Tuyền đã tuyên bố một quan điểm khá mới mẻ về vấn đề dục tình trong văn nghệ, điều sau này sẽ trở thành một chủ đề rất đáng kể, luôn luôn dằn vặt và đòi hỏi được tái nhận thức, trong sáng tạo của ông. Ông viết:

“Dục tình trong nghệ thuật đen là một phương cách của nhận thức siêu hình, hiển nhiên không phải là phương cách độc nhất. Nếu nghệ thuật đen có thường dùng đến luôn chỉ bởi phương cách ấy từ xưa vẫn bị nghiêm cấm khinh rẻ, dục tình trong nghệ thuật ở xứ ta là một khu đất hoang chưa được khai thác trong khi thật sự nơi ấy, cũng như ở những hình thái sinh hoạt nhân loại khác, tiềm ẩn cái ý nghĩa siêu hình của kiếp sống mà nhận thức nghệ thuật có thể phơi mở. Không tuyệt đối tin theo Freud rằng cuộc sinh hoạt nhân loại bị quy định thầm kín bởi dục tình bởi bản năng - sự sai lầm hư hỏng của Freud là muốn biến khoa tâm phân bệnh học của ông thành một triết lý toàn diện giải thích tất cả - nhưng cũng không thể chối rằng bản năng, dục tình không giữ vai trò gì đáng kể trong cuộc sinh hoạt nhân loại. Nghệ thuật đen không ngoảnh mặt với đời sống, đối diện với nó trong mọi mặt xuất hiện để theo đuổi dò hỏi ý nghĩa của nó. Hơn nữa, dục tình lại là điểm phát khởi của đời sống nhân loại lúc sơ khai và còn dự phần mãi mãi trong đời sống ấy, trong nó có chứa đựng cái ý nghĩa siêu hình thiết thực của thế tục. Không nhận thức nào cụ thể mạnh mẽ hơn về sự sầu khổ hay hân hoan bằng sự sầu khổ, hân hoan hiển hiện trong da thịt của một người, người ta không còn thể chối cãi rằng đó chỉ là tưởng tượng. Đáng thương cho những kẻ mà sự nhận thức mới nằm trong địa hạt của lý tính trong con người, nó làm cho họ trở thành kẻ lạ mặt giữa cuộc sống, kẻ lạ mặt trong chính thân xác họ. Đối với một vài cảnh ngộ, dục tình còn có thể được coi như một nguyên lý phát khởi cùng một lúc sự chối từ tất cả và sự yêu mến tất cả. Trong dục tình người ta yêu cái chết cùng một lúc với sự sống. Nói như Sartre, “dục tình ném con người vào trong lòng sôi sục của tự nhiên và đồng thời nâng nó vượt khỏi tự nhiên do sự khẳng định cái quyền hạn của nó không được thỏa mãn”. (26)

Tiếp nhận phân tâm học của Thanh Tâm Tuyền ở đây đã mang một tinh thần phản biện rõ ràng. Ông đồng tình với Freud ở chỗ dục tình được hiểu như là một phương cách tư duy siêu hình của nghệ thuật, nhưng ông phản đối Freud ở chỗ ông ta đã đẩy những suy tư phân tâm học từ lĩnh vực tri nhận của một ngành bệnh lý, sự phát hiện tính chất khởi điểm của dục tình như là khởi điểm của nghệ thuật, dấn sâu vào không gian suy tư triết lý, tưởng làm giàu sang nó nhưng thực chất làm nghèo nàn nó. Vì vậy, Thanh Tâm Tuyền muốn kết tập phân tâm học của Freud và tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh, để đề xuất một mô hình nghệ thuật mới, “nghệ thuật đen chính là nghệ thuật hôm nay”, mang thế giới quan hiện sinh (nhà văn dấn thân, văn nghệ phản kháng,…) và thao tác luận phân tâm học (vai trò của tiềm thức, vô thức; của dục tình;…).

4. Có thể nói, ngay từ trong các quan điểm về thơ, Thanh Tâm Tuyền đã lựa chọn hiện sinh bằng cách lên tiếng truy đòi hiện tại. Song thơ, sự triển diễn của ý thức trong khoảnh khắc bùng vỡ, lại phụ thuộc sâu sắc vào cá nhân mỗi thi sĩ, đã bị hạn chế rất nhiều trong các tương tác với đời sống và xã hội. Văn xuôi sẽ thế vào chỗ ấy để phát huy hết khả năng tiềm tàng của nó, nhất là khi nó trở thành “nghệ thuật đen”. Không phải ngẫu nhiên mà sau này, các sáng tác văn xuôi của Thanh Tâm Tuyền lại truy cầu về quan điểm nghệ thuật đen nhiều đến vậy. Tất nhiên, ở đấy mô hình nghệ thuật đen được thi triển với nhiều biến hóa, cung cách ứng xử với những luồng ảnh hưởng triết mỹ Âu Tây cũng có nhiều biến đổi, ấy là chưa kể đến những hồi ứng tri thức từ khi tiểu luận Nghệ thuật đen được công bố.(27) Có thể do nghiệm trải của nhà văn, cũng có thể do không gian văn học đô thị miền Nam có nhiều chuyển động phong phú và đa dạng. Nhưng ở ngay năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ XX, quan niệm văn học của Thanh Tâm Tuyền nói riêng và của nhóm Sáng tạo nói chung, có tính cách đột phá, có nhiều tác động tới đời sống văn học đô thị nam Việt Nam.

Dư luận sau này để ý nhiều đến những cách tân về thơ và quan niệm thơ của nhóm, nhất là thơ tự do Thanh Tâm Tuyền, nhưng thực tế thì bên cạnh một Thanh Tâm Tuyền thơ, còn có một Thanh Tâm Tuyền văn xuôi rất đáng kể. Để có được những bước vững chãi như vậy, hiệu ứng được tạo bởi không gian củaSáng tạo và nhóm nhà văn tài danh lĩnh xướng là rất quan trọng. 15 năm sau ngày Sáng tạo ra đời, năm 1970, khi nguyệt san Tân văn xuất bản Tuyển truyện Sáng tạo, trong lời mở sách, nhìn lại chặng đường đã qua, Mai Thảo nhận định: “Sự có mặt ấy [của tác giả truyện ngắn và của tạp chí Sáng tạo] có thể xem như một đánh dấu, định nghĩa như một mở đường, chuyên chở trong nó đầy đủ yếu tính của một cuộc vận động văn học tiền phong, hàm chứa hẳn hoi trong nó một ý hướng cách mạng nghệ thuật nồng cháy. Đó là những ánh lửa thắp lên trong đêm nhận đường, những hòn đá ném xuống một ao tù bất động, những đợt xung kích đầu tiên mở màn một chiến dịch cho tới bây giờ đang được tiếp tay hào hứng trên nhiều diễn đàn, trên nhiều mặt trận. Trước sau, đối tượng của trận đánh lớn vẫn là một: phá đổ cái cũ, tạo dựng cái mới. Nói một cách khác, đó là kết thành của hoài bão và khát vọng chân thành nơi một lớp người muốn tạo dựng một nền văn học nghệ thuật của chính mình, và thời đại mình. Gọi lên đường ấy là trở lại đời sống, thoát ly quá khứ, thức tỉnh ý thức, thế nào cũng được. Điều đáng ghi nhận là lên đường ấy đã có. Có với sự có mặt của một lớp người viết mới. Tạp chí Sáng Tạo là một trong những diễn đàn đã được dự phần vào lên đường này.”(28) Nhận xét như vậy là khách quan và trung thực. Trong sự vận hành của văn học nam Việt Nam, sự phổ biến của các tư tưởng triết mỹ Âu Tây, sự trỗi dậy trong ý thức văn nghệ của các văn nghệ sĩ trí thức, những di chỉ trên các tạp chí văn nghệ trong những năm đầu đất nước bị phân đôi được khởi xướng và tham góp của các văn nghệ sĩ tài năng, cho thấy chúng vừa như là nguồn cội (của sự vận hành và tiếp nhận) vừa như là cơ sở của sự phát tán ảnh hưởng của sự vận hành và tiếp nhận ấy, làm nên những cách tân đáng kể của văn học nghệ thuật.

ĐOÀN ÁNH DƯƠNG
Nguồn: SH308/10-14

________________________

(1) Thanh Tâm Tuyền, Nỗi buồn trong thơ hôm nay, Sáng tạo, s.31, tháng 9/1959, tr.1-6

(2), (3), (4), (5), (6), (7) Thanh Tâm Tuyền, Nỗi buồn trong thơ hôm nay, Bđd., tr.1, 2, 1, 2, 2-3, 5

(8) [Phi lộ], Sáng tạo (bộ mới), s.1, tháng 7/1960, tr.4

(9) Mai Thảo (ghi), “Nhân vật trong tiểu thuyết. Nói chuyện giữa Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo,  Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn”, Sáng tạo (bộ mới), s.1, tháng  7/1960, tr.5-18

(10) (11) Mai Thảo ghi, “Nhân vật trong tiểu thuyết…”, Bđd., tr.6, 7

(12) (13) Duy Thanh, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thùy Yên,  Trần Thanh Hiệp, “Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam”, Sáng tạo (bộ mới), s.4, tháng 10/1960, tr.8, 8

(14), (15), (16) Mai Thảo ghi, “Nhân vật trong tiểu thuyết.”, Bđd, tr.14, 16, 16

(17) Thanh Tâm Tuyền, “Nghệ thuật đen”, Sáng tạo (bộ mới), s.3, tháng 9/1960, tr.35-48

(18), (19), (20), (21), (22), (23), (24), (25) Thanh Tâm Tuyền, “Nghệ thuật đen”, Bđd., tr.35, 48, 36-37, 37, 38, 39,  40, 42

(26) Thanh Tâm Tuyền, “Nghệ thuật đen”, Bđd, tr.46-47. Với nhận định của Sartre, Thanh Tâm Tuyền  chú: “…http://talawas.org Du désir qui (…) replonge l’homme au sein bouillonnant de la Nature et l’élève en  même temps au-dessus de la Nature par l’affirmation de son Droit à l’insatisfaction (Situations, trang 255).  Chữ “dục tình” ông dùng trong bài cũng là chữ được ông dùng để dịch chữ “désir” của Sartre, mà trước đấy ông  cũng chú rõ: Chữ Dục tình hiểu theo nghĩa rộng như chữ Désir của tiếng Pháp.

(27) Ngay trên Sáng tạo các số sau, đã có ý kiến chia sẻ của Thạch Chương (Cung Thúc Tiến) và Dương  Nghiễm Mậu. Xin xem: Thạch Chương, “Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật”, Sáng tạo (bộ mới),  s.5, tháng 11/1960, tr.97-102; Dương Nghiễm Mậu, “Buồn vàng”, Sáng tạo (bộ mới), s.7, tháng 9/1961, tr.59- 64. Cũng tham khảo: Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có nhóm Sáng tạo,  tại http://www.hopluu.net/, lên mạng ngày 6/2/2011.

(28) Mai Thảo, “Đứng về phía những cái mới”, trong Duy Thanh, Dương Nghiễm Mậu, Mai Trung Tĩnh,  Phạm Nguyên Vũ, Song Linh, Thao Trường, Thạch Chương, Tuyển truyện Sáng tạo,  nguyệt san Tân văn, s.29,  tháng 9/1970, tr.12



TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ KHÁC:


Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

DẤU ẤN VĂN HỌC VỀ CHỦ ĐỀ BIỂN ĐẢO

Văn học Việt từ lâu có khá nhiều tác phẩm về chủ đề biển đảo của Tổ quốc, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước. Trải qua thời gian, văn học về biển đảo vẫn không ngừng được sáng tác, làm phong phú và tạo nên sự đặc sắc cho nền văn học Việt nói chung.

Biển đảo là một đề tài luôn có sức hấp dẫn, đồng thời được phần lớn các văn nghệ sĩ ở nước ta quan tâm, yêu thích. Theo đánh giá của nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, biển đảo Việt Nam nói chung và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là đề tài lớn cho các sáng tạo văn học, nghệ thuật. Đã có rất nhiều những bài thơ, bài hát, bức tranh, tiểu thuyết, truyện ngắn, phim tài liệu, phim truyện truyền hình, bút ký, phóng sự, ký sự, hình ảnh về đề tài này.

Không khó để nhận thấy, trong kho tàng văn học Việt Nam viết về biển đảo, các bộ tiểu thuyết xuất sắc như “Chúng tôi ở Cồn Cỏ”, “Biển gọi” của Hồ Phương, “Ra đảo” (Nguyễn Khải), “Đứng trước biển” (Nguyễn Mạnh Tuấn), “Biển xanh” (Chu Văn Mười), “Biển và chim bói cá” (Bùi Ngọc Tấn), “Biển xanh màu lá” (Nguyễn Xuân Thủy)… đã trở thành sách gối đầu giường đối với bạn đọc Việt ở nhiều thế hệ.
Nhà thơ Phan Hoàng ở Trường Sa 5-2017

Sau năm 1975, chủ đề biển đảo tiếp tục gắn bó và góp phần làm nên tên tuổi nhiều nhà thơ nổi tiếng như: Thanh Thảo, Trần Đăng Khoa, Đỗ Nam Cao, Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Việt Chiến… với những tác phẩm đặc sắc, thể hiện về biển đảo, chiến sĩ và người dân nơi đảo xa một cách chân thực, giàu hình ảnh và có tính nghệ thuật cao. Nhà văn Đình Kính (Hải Phòng) cũng được biết đến là một trong những nhà văn gắn bó với đề tài biển đảo với các tác phẩm gây tiếng vang lớn như “Người của biển”, “Lính thủy”, “Sóng chìm”, “Huyền thoại tàu không số”. Hoặc nhà thơ Phan Hoàng với “Tiếng hát trên đảo Sơn Ca”, “Những ngọn gió vô danh”, “Mặt trời trong ngôi nhà đầy sóng đầy gió”, “Gió hợp hôn đất nước”, trường ca “Bước gió truyền kỳ”… về đề tài biển đảo cũng góp phần định hình tên tuổi trong nền văn học hiện đại.

Đáng chú ý, giữa tháng 2-2019 vừa qua, Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ giới thiệu bộ sách chủ đề “Biển đảo 2019” với 5 tác phẩm của các tác giả thế hệ 7x, 8x được viết từ chuyến đi thực tế sáng tác cho văn nghệ sĩ tại đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) và đảo Phú Quý (Bình Thuận) năm 2018 do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh tổ chức. Được đi thực tế, nhiều văn nghệ sĩ đã rung cảm và cho ra đời nhiều tác phẩm gắn liền chủ đề biển đảo.

5 bộ sách chủ đề “Biển đảo 2019” vừa ra mắt có “Dấu chân biển cả” của tác giả Phùng Hiệu, gồm 35 bài thơ, dẫn người đọc đi về nơi có truyền thuyết 50 con cùng cha xuống biển – để nghe tiếng của tiền nhân gửi gắm, chia sẻ về một hành trình dựng nước và giữ nước, từ đó nhận thức rõ hơn về trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước mình. Trong khi đó, tập thơ “Sóng hát” của tác giả Phạm Phương Lan trở thành người hướng dẫn viên đầy lãng mạn giới thiệu với du khách đến những miền biển tuyệt đẹp của quê hương Việt Nam. Truyện dài “Về phía bình minh” của tác giả Võ Thu Hương là câu chuyện kể về cô gái tên Xuân với cuộc đời ở vùng biển đầy những trắc trở, chông gai. Tác phẩm mang thông điệp về tình thương từ cộng đồng với sự chia sẻ và thấu cảm, về sự vượt khó thành công nếu có ý chí và hình ảnh trong truyện đẹp, gợi suy nghĩ và như thúc đẩy chúng ta muốn về với biển. Tập truyện ngắn “Cánh chim chắn bão” của Huỳnh Mẫn Chi với 16 truyện xuyên suốt một chủ đề về biển và lính biển. Những câu chuyện trong tác phẩm đều mang hơi thở cuộc sống mãnh liệt và hơn hết là tình yêu, ý thức trách nhiệm công dân đối với chủ quyền biển đảo mà tác giả thể hiện một cách đầy tâm huyết và trân trọng.

Thực tế trên phản ánh dòng văn học về biển đảo – một phần máu thịt không thể tách rời đất mẹ Việt Nam luôn tuôn chảy, là một bộ phận khăng khít tạo nên nền văn học Việt giàu bản sắc, phong phú và đa dạng. Nhưng điều đáng mừng và trân trọng hơn cả, với những tác phẩm trước đó và gần nhất là bộ sách chủ đề “Biển đảo 2019” vừa ra mắt, các tác giả đã thể hiện tinh thần trách nhiệm công dân với vấn đề chủ quyền biển đảo quê hương. Từ đó, tình yêu biển đảo nói riêng và Tổ quốc Việt Nam nói chung được truyền tải đến người đọc thông qua dấu ấn của từng cá nhân, giúp lan tỏa những giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc đến với đông đảo các tầng lớp nhân dân.

HOÀNG ANH
Theo Báo Hải Phòng




BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...