Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

HỒ THẾ HÀ - NGƯỜI TÁCH VỎ TRONG NGÔI NHÀ TÂM HỒN

Hồ Thế Hà sinh năm 1955. Quê ở xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Nội ngoại của Hồ Thế Hà thuộc dòng dõi danh tiếng. Cha mẹ là những trí thức Nho giáo, nhưng nhanh chóng tiếp cận, hấp thụ văn hoá, tư tưởng phương Tây trong quá trình Pháp khai thác thuộc địa.
PGS-TS Hồ Thế Hà

Cậu ruột là trí thức Tây học, dạy dỗ ông học tiếng Pháp. Hồ Thế Phất, anh trai Hồ Thế Hà, là một nhà thơ, người nhân thêm niềm say mê, yêu thích văn chương cho em trai. Chính nền giáo dục Đông và Tây, Hán học và Tây học trong gia đình của Hồ Thế Hà đã ảnh hưởng không nhỏ đến suy nghĩ, tính cách của ông. Sau này, thơ ông cũng thế, là sự đi về giữa truyền thống và hiện đại. Ý thức cội nguồn và ý thức đổi mới giao thoa, tạo nên một thi pháp thơ Hồ Thế Hà vừa bình dị, gần gũi vừa thâm trầm, triết lý.

Cuộc di cư sau năm 1954, ngỡ 2 năm nhưng lại kéo dài đến 20 năm, buộc lòng cha Hồ Thế Hà lập gia đình mới ở ngoài Bắc. Trong Nam, một mình mẹ ông tần tảo nuôi 7 người con. Hồ Thế Hà lớn lên thiếu vắng tình cảm của người cha. Hoàn cảnh này là cú hích, biểu thị những sang chấn cô đơn, trống trải tâm hồn, mà thơ ông là một thực chứng. Nhưng ông được bù đắp bằng lời ru, lời ca ngọt ngào và sự nuôi nấng, dạy dỗ hết lòng của mẹ. Thơ ông, vì thế, thiên về tính nhu, câu chữ mềm mại, uyển chuyển, cảm xúc dạt dào…

Sau 20 năm, thương đau được hoà giải. Cha mẹ ông đã có những ngày tháng sum vầy lúc cuối đời. Còn ông, lại có thêm tình sâu của người mẹ thứ hai và nghĩa nặng của những người em nơi đất Bắc. Móc xích đoàn tụ - chia cắt - đoàn tụ xảy ra trong gia đình ông, theo tôi, là một tổn thương ngầm chảy suốt cuộc đời ông. Tất cả tràn/ dội vào thơ, tạo nên những điệp thức cô đơn, buồn đau, nhớ nhung, khát thèm… ám ảnh khôn nguôi.

Chính nguồn thơ ngọt ngào bên mẹ, vùng quê giàu bản sắc đã thấm sâu và nuôi dưỡng ông, để rồi ông dứt khoát chuyển tình yêu toán học sang tình yêu văn chương. Cuộc đổi thay này hoàn toàn hợp lý với tính cách, con người cũng như hoàn cảnh xuất thân của Hồ Thế Hà. Sau ba năm (1978-1981) tình nguyện tham gia chiến đấu giải phóng nhân dân Campuchia, ông trở thành sinh viên khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Huế (1981-1985). Ông ở lại giảng dạy tại Đại học Huế và giữ nhiều chức vụ như trưởng Bộ môn Văn học Việt Nam, Phó Trưởng khoa Ngữ văn... Ông học tiến sĩ và được phong PGS vào năm 2005.

Hồ Thế Hà sinh ở Bình Định nhưng lại chọn Huế là nơi khởi đầu nghiệp văn chương. Ông sinh sống, lập gia đình cũng tại vùng đất thơ mộng này. Trong con người Hồ Thế Hà, vì thế, luôn chịu ảnh hưởng hai dòng chảy văn hóa. Một dòng chảy của vùng đất văn hóa cổ xưa Bình Định và một dòng chảy của xứ thần kinh Huế. Ngoài những giá trị văn hóa như tháp chàm Chămpa, nghệ thuật hát bội, bài chòi, nhạc võ Tây Sơn, múa hát bả trạo... Bình Định còn là vùng đất của văn chương và thi ca. Thơ của Đào Duy Từ, Đào Tấn, Nguyễn Khuê, Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Nguyễn Thúc Mân, Nguyễn Quý Luân, Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ, Đào Phan Duân, Hồ Sĩ Tạo... đến Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan, Nguyễn Lam Vũ, Phú Sơn... không chỉ khẳng định truyền thống rực rỡ của thơ ca Bình Định mà còn trở thành nguồn động lực, cỗ vũ, nuôi dưỡng tâm hồn yêu thơ của những thế hệ thi sĩ sau này. Bề dày lịch sử, giá trị văn hóa truyền thống cùng với phong cảnh đặc trưng, thơ mộng của sông Hương núi Ngự đã hình thành nên thế mạnh của Huế - trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước và xứ sở của thi ca. Do đó, kinh đô Huế quy tụ rất nhiều thi nhân. Huế trở thành nguồn cảm hứng của nhiều bậc nhân tài như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Ngô Thời Nhậm, Tự Đức, Huỳnh Thúc Kháng, Mai Am, Phan Đình Phùng, Tản Đà,... Và đất thần kinh này đã từng tạo nên dòng chảy đổi mới cho Phong trào Thơ mới với sự xuất hiện của Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Đinh Hùng, Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Xuân Sanh, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính... Tiếp đó, những thi sĩ như Hải Bằng, Trần Vàng Sao, Hải Bằng, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khắc Thạch, Hồng Nhu, Võ Quê, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, Mai Văn Hoan, Trần Hoàng Phố… cũng góp phần khẳng định sắc thái rất riêng của thơ Huế. Hồ Thế Hà may mắn được nuôi dưỡng trong hai vùng đất có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa này. Con người và vùng đất Huế - Quy Nhơn, vẫn xuyên suốt hành trình thơ ông. Đất và người Quy Nhơn trở thành những hồi ức đẹp, bồi đắp cảm hứng nguồn cội cho thơ của Hồ Thế Hà: “Đêm thượng huyền ai quỳ bên mộ trắng/ Lời thi nhân run rẩy phía cung Hằng/ về nằm mộng thấy một nàng tiên khóc/ Ngồi trong sương cùng Tử và trăng” (Xuân muộn với Quy Nhơn – Xác thu). Còn Huế, là nơi Hồ Thế Hà gửi gắm bản thể, tình yêu và tiếng nói đời thường: “Sông Hương đã từng chứng kiến và lưu giữ ảnh hình/ Nỗi đau nhiều hơn niềm vui, nụ cười ít hơn nước mắt/ Vậy mà hai bờ xanh mộng mị/ Sông nhân tình hóa giải mọi bi ai” (Sông Hương – Thuyền trăng).

Hồ Thế Hà có biệt tài thuộc rất nhiều thơ. Cái lạ là ông đâu chỉ thuộc thơ mình mà còn thuộc nhiều thơ của người khác. Trong những cuộc gặp gỡ bạn bè, ông đọc vanh vách, cảm xúc lắng vào từng chữ từng câu. Lợi thế ấy càng nhân đôi khi ông chọn lựa con đường dạy học. Trong mỗi giờ giảng, những nhiệt huyết, mê say với văn chương đều được ông vun đắp, truyền sang cho sinh viên. Chính vì vậy, nhắc đến thầy Hồ Thế Hà, thế hệ sinh viên nào cũng dành một tình cảm quý trọng, mến yêu. Không chỉ thực hiện tốt trọng trách cao quý của nghề giáo, Hồ Thế Hà còn sáng tác thơ, và chuyển tải những phương cách tiếp cận tác phẩm văn học thông qua các công trình nghiên cứu, phê bình của mình. Tính đến thời điểm hiện tại, ông đã in 6 tập thơ: Khoảnh khắc (1990), Nghìn trùng (1991), Xác thu (1996), Thuyền trăng (2013), Tơ sương (2015) và Xem mơ (2018). Ngoài hơn 20 công trình in chung, Hồ Thế Hà còn in 9 tập chuyên luận, tiểu luận – phê bình: Sức bền của thơ (tiểu luận - phê bình, 1993), Thức cùng trang văn (tiểu luận - phê bình, 1993), Tìm trong trang viết (tiểu luận - phê bình, 1997), Thao thức thơ (bình thơ, 2004), Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (chuyên luận, 2006), Những khoảnh khắc đồng hiện (tiểu luận - phê bình, 2007), Tiếp nhận cấu trúc văn chương (tiểu luận - phê bình, 2014), Khoảng lặng thơ (bình thơ, 2018) và Thơ Việt Nam hiện đại - Thi luận và Chân dung (chuyên luận, 2018). Công sức đó của ông được đền đáp bằng nhiều giải thưởng như: Giải thưởng VHNT Cố Đô của tỉnh Thừa Thiên - Huế lần 2 (1993-1997) và lần 3 (1998-2003); Giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế các năm 1993, 1997, 2003; Giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 1998...

Chất thơ sống trong ông từ thuở nhỏ, chưng cất, nhem nhóm trong lời ru của bà, của mẹ. Do đó, đứa con tinh thần đầu tiên của Hồ Thế Hà thuộc về thơ là đương nhiên. Sau này, quá trình viết nghiên cứu, phê bình, thêm lần nữa, cho ông những trải nghiệm mới. Nghiên cứu, phê bình là nền móng để Hồ Thế Hà xác tín chất lượng thơ. Việc ông xen kẽ giữa sáng tác thơ với nghiên cứu, phê bình, và có phần nhỉnh hơn ở thể loại nghiên cứu, phê bình, theo tôi, có hai lí do. Với một người ham học hỏi, nghiên cứu và đặc biệt là tình cảm trìu mến với bạn như Hồ Thế Hà thì việc ông dành phần đa thời gian để viết về người khác không có gì lạ. Viết về người nổi tiếng đã đành, nhưng ông còn viết về những người bạn thân hữu của ông, những cây bút thơ trẻ, nhằm động viên họ trên con đường đến với thi ca. Nghĩa là Hồ Thế Hà luôn vì người khác trước khi vì mình. Song, lĩnh vực nghiên cứu, phê bình không thể giải tỏa hết những nỗi niềm riêng tư, mà chỉ có thơ mới giúp người nghệ sĩ sống thực với cái tôi bản ngã của mình. Cho nên, Hồ Thế Hà sáng tác đồng thời ở cả hai thể loại.

Trong các thể loại, Hồ Thế Hà nghiêng về nghiên cứu, phê bình thơ hơn. Từ nỗi Hồ Thế Hà là một thi sĩ dạt dào tình cảm, ân tình. Đối với nghiên cứu, phê bình, nhất là loại thể thơ, ông luôn thể hiện sự tinh tế, ý nhị trong cảm thụ, nhạy bén trong phát hiện. Chất nghệ sĩ giúp Hồ Thế Hà nhập cả cái tình, cái hồn của mình vào mỗi trang phê bình. Ông đồng cảm với tiếng lòng của tác giả, chỉ ra cái tôi bản thể “đã chín” của thi sĩ… Sức nặng phê bình của ông ngoài biểu hiện một tư duy khoa học còn có sự thăng hoa của cảm xúc, đồng điệu tâm hồn. Ông dùng cái tình của mình sẻ chia với tác giả, khúc xạ sang độc giả, tạo nên sự kết nối bền chặt… Nếu vận quan niệm người thế nào văn thế ấy vào Hồ Thế Hà, cũng không sai. Lối diễn đạt trang nhã, đằm thắm, cho thấy khả năng phát hiện, khái quát phong cách, điệu hồn của các tác giả hết sức tế vi của ông. Phê bình thơ của ông, đo đó, cộng hưởng hai yếu tố: học thuật và nghệ thuật. 

Từ năm 1990 đến nay, Hồ Thế Hà chỉ in 6 tập thơ. So sánh với sản phẩm của các nhà thơ gạo cội khác, điểm dừng chân của Hồ Thế Hà khá lâu. So sánh với thơ của các cây bút nghiên cứu, phê bình chuyên nghiệp, số lượng thơ Hồ Thế Hà vượt hơn hẳn. So sánh như thế ắt có phần khập khiểng. Bởi, chất lượng tác phẩm quyết định chứ không phải số lượng. Nhưng điều tôi muốn khẳng định, chất triết lý, khoa học trong nghiên cứu, phê bình được Hồ Thế Hà vận dụng trong thơ, mang đến những vần thơ giàu trí tuệ. Những cảm xúc, tình cảm chân thành trong thơ cũng góp phần làm mềm mại văn phong nghiên cứu, phê bình của Hồ Thế Hà. Vì thế, giữa nghiên cứu, phê bình và thơ của Hồ Thế Hà luôn có một sự giao thoa, ràng rịt khéo léo.

 Ngoài trí tuệ, năng lực cảm xúc và cá tính của người viết nghiên cứu, phê bình rất quan trọng. Cảm xúc nhằm bổ sung sức thuyết phục, quyến rũ cho văn phong, chứ không nhằm để sự chủ quan phán xét, chi phối, thâu tóm, còn cá tính nhằm định danh tiếng nói, bản sắc riêng biệt của người viết nghiên cứu, phê bình. Có thể nói, sự nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và tác phẩm, giữa tư duy sắc sảo của một nhà nghiên cứu, khoa học và tâm hồn tinh tế của một thi sĩ đã nâng giá trị, chất lượng cho những trang viết của Hồ Thế Hà.

HOÀNG THUỴ ANH
Nguồn: Văn Nghệ số 33/2019

ĐỌC BÀI KHÁC:



CHỮ VÀ NGHĨA: 'KHÔN CHO NGƯỜI TA...'

Dạng đầy đủ của câu tục ngữ này là "khôn cho người dái, dại cho người thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ghét". “Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương, NXB Tổng hợp TP.HCM) giải nghĩa câu này là: "(Đã tinh khôn) hãy tinh khôn cho ai cũng phải e nể; (đã khờ dại thì) hãy khờ dại cho ai cũng phải cảm thương; chứ hành xử vừa chẳng ra dại, vừa chẳng ra khôn thì chỉ khiến cho mọi người ghét bỏ mà thôi".
Tác giả Nguyễn Đức Dương còn thống kê thêm 3 biến thể chuyển chú nữa:“Khôn cho người rái, dại cho người thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ghét”; “Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét”; “Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét”. Chúng chỉ khác về số câu chữ và thêm trường hợp chính tả viết khác (dái và rái) còn nội dung ngữ nghĩa như nhau.

Có một chữ "dái" cần làm rõ trước khi giải nghĩa toàn bộ câu tục ngữ này.

"Dái" (hay còn viết là "rái") là một từ cổ. “Từ điển Việt - Bồ - La” (A. de Rhodes 1651) giải nghĩa là "sợ"; “Đại Nam quấc âm tự vị” (Huình Tịnh Paulus Của, 1896) giải nghĩa là "kiêng nể"; “Từ điển Từ cổ” (Vương Lộc, NXB Đà Nẵng, 2001) và “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển học, 2017) cho từ này là từ cũ, ít dùng và cùng giải nghĩa là "kiêng nể".

Từ "dái" này lại đồng âm với một "dái" khác, hay dùng hơn, có nghĩa thông dụng, chỉ "bìu dái" (khẩu ngữ, tức "âm nang" - là "bọc chứa hai tinh hoàn của người (hay động vật có 4 chi, như trâu, bò, chó, lợn, dê, cừu..."). "Dái" trong thành ngữ "Chạy như chó dái" hay tục ngữ "To đầu mà dại, bé dái mà khôn" chính là "dái" này).

"Dái" có nghĩa cổ còn xuất hiện trong một số tục ngữ khác nữa. Chẳng hạn: 1. “Quen dái dạ, lạ dái áo” (Với người quen biết, sống với nhau lâu thì cái mà người ta tôn trọng, kính nể chính là lòng dạ (gồm tư cách, sự hiểu biết, cách ứng xử...); còn với người lần đầu mới quen thì hình thức bề ngoài (trước hết là trang phục, quần áo, bộ dạng..) lại làm cho người ta thấy coi trọng. Câu này cũng ngầm chuyển tới một thông điệp "tốt gỗ hơn tốt nước sơn", cái thực chất của mỗi người quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc định giá trị. 2. “Yêu nhau chị em gái, dái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu anh em rể” (chị em gái - chị em ruột - thường thương yêu, đùm bọc nhau; chị em dâu - có sự cách biệt về quan hệ - thường hay e dè, giữ ý, không thân mật; anh em rể - thứ anh em hình thức - thường hay xích mích, va chạm, không thân thiện, tới mức có thể choảng nhau "vỡ đầu" như chơi - kể cũng hơi quá chứ anh em rể đâu đến nỗi tệ thế?).

Từ "dái", hiểu sâu xa hơn, không chỉ là "kiêng nể", mà còn là "tôn trọng, khâm phục, đáng học hỏi". Đó là một cách ứng xử mà người đời lựa chọn trong quan hệ nói chung. Vậy, tục ngữ "Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét" cần giải thích chính xác là: "Mỗi người ở đời, có ba cách thể hiện tư cách (cũng như tư chất) và sẽ nhận được ba thái độ ứng xử khác nhau của cộng đồng:

1. Nếu (thực sự) tỏ ra khôn ngoan, giỏi giang, khéo léo sẽ được người khác nể trọng; 2. Nếu tỏ ra còn non kém, dại khờ (một cách chân thành, hồn nhiên) thì sẽ được người khác thông cảm, chia sẻ, quý mến (kém cỏi, thua chị kém em đâu có sao, miễn là ta biết mình biết người); 3. Còn ai đó có biểu hiện không rõ ràng, chả ra khôn chả ra dại, tinh tướng ta đây lên mặt với đời dễ bị người khác "đọc vị" tẩy chay, không nhận được sự tôn trọng và sẽ bị phân biệt đối xử".

“Cái gì cũng phải rõ ràng
Dở dơi dở chuột cả làng không chơi...”.
PGS-TS PHẠM VĂN TÌNH
Theo TTVH




NHÀ VĂN TRƯƠNG ANH QUỐC: NHỮNG CÂU VĂN ĐƯỢC VỚT LÊN TỪ BIỂN

"Sóng biển rì rào" được nhà văn Hồ Anh Thái đánh giá cao, khi ông cho rằng: "Trương Anh Quốc có lối dẫn truyện độc đáo và nhiều bất ngờ. (…) Bất ngờ mà hợp lý, điều ấy bao giờ cũng đòi hỏi sự lành nghề văn chương. Hiếm có nhà văn nào ở ta viết được một tác phẩm đậm đặc chất "viễn dương", tươi nguyên và hấp dẫn như thế này"...
Nhà văn Trương Anh Quốc

1. Trương Anh Quốc là trường hợp có duyên khi đến với văn chương. Sinh năm 1976, so với các tác giả thuộc thế hệ 7X thì anh xuất hiện muộn hơn. Nhưng ngay tác phẩm đầu tiên đã "ghi bàn" ấn tượng với Giải Nhì Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ III (năm 2005) cho tập truyện "Sóng biển rì rào". Văn học tuổi 20 là giải thưởng văn học uy tín giữa thời buổi loạn các cuộc thi và loạn giải thưởng hiện nay, là nơi từng vinh danh các nhà văn như Nguyên Hương, Phan Triều Hải, Trang Hạ, Vũ Đình Giang, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Nguyễn Thị Thanh Bình… v.v…

"Sóng biển rì rào" được nhà văn Hồ Anh Thái đánh giá cao, khi ông cho rằng: "Trương Anh Quốc có lối dẫn truyện độc đáo và nhiều bất ngờ. (…) Bất ngờ mà hợp lý, điều ấy bao giờ cũng đòi hỏi sự lành nghề văn chương. Hiếm có nhà văn nào ở ta viết được một tác phẩm đậm đặc chất "viễn dương", tươi nguyên và hấp dẫn như thế này".

Năm năm sau, vẫn là Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20, anh lại gây bất ngờ khi tiếp tục dự thi và về Nhất với tiểu thuyết "Biển". Giải Nhất này từng gây tranh luận nho nhỏ trong giới viết lách, nhưng nhận định của nhà văn Chánh chủ khảo cuộc thi lần IV như bảo chứng cho "Biển": "Một lối viết rất trầm tĩnh, không hề to tiếng, nhẹ nhàng, đến như rủ rỉ, có cả nụ cười mỉa mai mà nhân hậu, cứ như thong thả kể chuyện chơi, hết chuyện này tới chuyện khác, không cần thắt không cần mở, không cần cái được gọi là cao trào, hầu như chẳng cần quan tâm mấy đến một đường dây xâu chuỗi kết nối toàn tác phẩm. Tôi nghĩ đó là một cách viết cao tay: bởi cuộc sống thật vốn là vậy đó, thế giới được kết chặt với một bề ngoài trông chừng rất rời rạc, cuộc sống là tất yếu một cách trông chừng như rất ngẫu nhiên".

Tiếp đấy, Trương Anh Quốc giành giải Nhì cuộc thi truyện ngắn trên báo Sài Gòn Giải Phóng. Rồi gần đây là giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhiều người nói, anh "sát giải", viết không nhiều, nhưng đụng đâu thắng đấy. Văn chương là vậy. Tài năng và lao động thật cần thiết. Nhưng chỉ là điều kiện cần. Phải thêm cái duyên nữa mới thành điều kiện đủ. Mà duyên thì ở ngoài mình. Duyên có chọn mình hay không có… trời biết. Ở đây, ông trời đã dẫn duyên xuống gặp Trương Anh Quốc.

2. Sinh ra và lớn lên ở huyện miền núi Quế Sơn, Quảng Nam, ngay từ nhỏ Trương Anh Quốc đã ôm mộng được đi xa, càng xa càng thích. Nên chàng trai mới lớn chưa một lần ra khỏi huyện chọn trường Đại học Hàng Hải để gửi gắm ước mơ của mình. Với tấm bằng kỹ sư điện trong tay, Trương Anh Quốc hăm hở bước vào nghề thủy thủ trên các chuyến tàu viễn dương. Anh đã đi qua tất cả các đại dương và đặt chân đến 40 quốc gia trên thế giới. Và biển không chỉ biến ước mơ của Trương Anh Quốc thuở thiếu thời thành hiện thực mà còn mở ra cho anh chân trời mới, chân trời chữ nghĩa, chân trời văn chương.

Nếu như biển mang đến nguồn hải sản, nguồn tài nguyên dầu khí cho các quốc gia, mang đến con đường thông thương lớn nhất cho nhân loại, thì với riêng Trương Anh Quốc, biển còn mang đến chất liệu cho những trang văn. Đọc tác phẩm của Trương Anh Quốc, cảm giác như các câu văn được anh vớt lên từ biển, tươi rói và hấp dẫn. Không có biển, chắc chắn sẽ không định hình một nhà văn Trương Anh Quốc như hiện nay.

Trước giờ, văn chương Việt chưa thấy tác phẩm nào viết trực diện về biển, trừ tiểu thuyết "Biển và chim bói cá" của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Nhưng vẫn là biển gần bờ. Ngoài ra, nếu có viết về biển thì chỉ là… nhìn ra biển chứ không phải cưỡi lên biển mà viết. Riêng Trương Anh Quốc rong ruổi khắp thế giới, trên biển. Biển thời hội nhập quốc tế. Vậy nên nói anh độc quyền, "bành trướng" trên biển với trang văn cũng không ngoa. Biển chính là sân nhà của anh. Và mình anh một sân. Chẳng ai cạnh tranh.

Văn của Trương Anh Quốc là thứ văn điềm tĩnh. Như thể anh quen ăn sóng nói gió từng trải khắp các đại dương rồi nên chẳng có gì khiến anh vội vàng. Kể cả mạch văn. Thời đại công nghệ, liệu thứ văn chầm chậm có dễ gây chán ngán? Không. Trương Anh Quốc có thứ khác bù lại khiến người đọc không bị "đứt gánh giữa đường". Là câu văn có mật độ dày các ý bật tanh tách, nạp thêm thông tin bên lề hoặc trình ra lối nghĩ khác với thông thường. Chẳng biết điều này có phải bắt nguồn từ tính cách "Quảng Nam hay cãi" của tác giả không? Nhưng lối diễn đạt này tạo cảm giác hào hứng và kích sự tò mò cho người đọc trong quá trình tiếp cận tác phẩm.

3. Đi tàu viễn dương, mỗi khi tàu cập cảng, việc đầu tiên của Trương Anh Quốc là lên đất liền tìm Internet hoặc trạm điện thoại để liên lạc với bạn bè, người thân, hỏi thăm tình hình mọi người. Sau đấy tranh thủ khám phá đất nước sở tại trong khoảng thời gian cho phép.

Nếu tàu cập cảng trong nước thì Trương Anh Quốc gặp bạn văn chương. Lúc Hải Phòng. Khi Đà Nẵng. Hay Sài Gòn. Hoặc Vũng Tàu. Ngoài gặp gỡ bạn, việc khác nữa chẳng khi nào anh quên, là sục sạo các nhà sách. Trương Anh Quốc về nước là nhờ bạn bè tư vấn các đầu sách mới đáng chú ý cần đọc để lập tức cập nhật. Sách là thứ anh luôn nhớ trang bị trước khi tàu nhổ neo. Để trên tàu, khi đồng nghiệp giải trí bằng việc xem tivi hoặc ngồi canteen thì anh lại đóng cửa phòng riêng đọc sách, hoặc tranh thủ viết lúc sóng biển ngủ quên không gây gổ với thân tàu.

Trương Anh Quốc sống giản dị, có phần xuề xòa. Anh nhiệt tình với bạn bè. Đúng kiểu dân "phượt" xuyên lục địa. Với lối nói chuyện tếu táo ngang như cua, trống người ta đánh xuôi anh sẽ thổi kèn ngược, cốt cho mọi người cười, vậy nên ngồi với anh chẳng bao giờ lo nhàm chán hoặc buồn tẻ.

4. Ba năm nay Trương Anh Quốc không đi tàu nữa. Anh chuyển qua làm cho một công ty dịch vụ dầu khí. Đều đặn xen kẽ 4 tuần ngoài giàn khoan 4 tuần nghỉ trong bờ. Vẫn là biển. Chỉ khác là trước lên tàu đi khắp thế giới, giờ lên máy bay trực thăng ra giàn khoan. Tôi nói, anh chọn việc khéo quá, làm 1 tháng lại có 1 tháng nghỉ vi vu nạp nguyên liệu viết hoặc ngồi nhà viết văn.

Từ ngày Trương Anh Quốc chuyển việc, tôi gặp anh thường xuyên hơn. Thường trước khi anh ra giàn khoan hoặc từ giàn khoan về bờ anh em lại ngồi với nhau rồi anh mới ngược Sài Gòn về với vợ con. Có thể là quán nào đó bên bờ biển hoặc cửa sông hay trong con hẻm nhỏ. Uống ly cà phê hoặc ly bia lấy cớ cho vài câu chuyện xoay quanh việc viết lách, bạn bè văn nghệ.

Nhiều người hỏi Trương Anh Quốc làm gì cho hết 4 tuần trên bờ? Xin thưa lúc thì anh ở Tây Bắc. Lúc Đông Bắc. Khi về quê thăm hai bên nội ngoại. Hoặc đi Tây Nguyên. Trương Anh Quốc ham đi. Đi trên biển đủ rồi đến đi trên bờ, khám phá dọc dài đất nước. Nhiều khi anh nhắn tin hoặc nhắn tin hỏi anh, lại thấy nói đang ở một vùng xa lơ xa lắc. Vậy là biết anh đang bồi bổ mắt và nạp năng lượng cho trang viết rồi. Viết văn mấy người được như anh!

Ngoài tập truyện "Sóng biển rì rào" và tiểu thuyết "Biển", Trương Anh Quốc còn 2 tập truyện ngắn khác là "Lũ đầu mùa" và "Hợp đồng chiều thứ Bảy". Ở 2 tập truyện này, có một số truyện anh trở về với… đất liền. Nhưng có vẻ anh thuộc về biển. Những câu văn phải được vớt lên từ biển mới đúng là Trương Anh Quốc. Chả thế mà khi đọc truyện ngắn không dây mơ rễ má gì với biển của Trương Anh Quốc, nhà văn Hồ Anh Thái đã khuyên anh hãy trở về với biển của mình.

Bây giờ thì Trương Anh Quốc vẫn ở biển. Nhưng trên giàn khoan. Đây là mảng đề tài chưa nhà văn nào chạm tới một cách rốt ráo. Anh lại ở vị trí độc tôn. Chẳng ai viết văn có đủ điều kiện nhảy ra giàn khoan đấu với anh. Tôi nói: Anh tập trung làm một nhát tiểu thuyết nữa về chuyện ngoài giàn khoan đi, sẽ nổi bần bật còn hơn ánh lửa pha - ken trên giàn. Trương Anh Quốc cười. Cái cười của anh tôi phiên dịch ra là: Chờ nhé. Vâng. Tôi đang chờ. Tôi biết anh dư sức làm được, làm ra ngô ra khoai, như anh từng làm với nguyên liệu từ nghề thủy thủ của mình. Và ở đấy, vẫn là những câu văn được vớt lên từ biển, tươi rói và hấp dẫn.

VĂN THÀNH LÊ
Nguồn: VNCA

ĐỌC BÀI KHÁC:



Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

TRIẾT GIA, NHÀ VĂN NGA A. ZINOVIEV: NGƯỜI TỚI TỪ TƯƠNG LAI

Chưa bao giờ thỏa mãn với hiện tại, nhưng Alexander Zinoviev cũng không khi nào tỏ ra bi quan đối với nền văn minh trần thế. Có thể trong một thời điểm nào đó, những lập luận của ông chưa được hiểu đúng chiều và đúng hướng nhưng trong nhận thức của xã hội Nga và cả trong tâm thế của nhiều trí thức trên thế giới, di sản triết học và văn chương của Zinoviev luôn đồng nghĩa với tiến bộ và phát triển.
Nhà văn Alexander Zinoviev

Đêm 10/5 tại Moskva, ở tuổi 84, nhà văn kiêm triết gia nổi tiếng thế giới Alexander Zinoviev đã trút hơi thở cuối cùng sau một thời gian dài lâm trọng bệnh (ung thư não). Có lẽ đó cũng là một kết cục tất yếu đối với một trí thức suốt đời mê mải tư duy về số phận nước Nga và thế giới đã không có được phút nào bình an trong tâm tưởng như Zinoviev. Tuy nhiên, dẫu người đã về cùng cát bụi nhưng những suy nghĩ của ông chắc chắn sẽ còn giúp nhân loại tiếp tục quá trình nhận thức gian khó và không mệt mỏi về tương lai của mình.

Con đường trăn trở

Cuộc đời của Zinoviev không bằng phẳng và rất phong phú sự kiện. Ông sinh năm 1922 tại tỉnh Kostroma trong một gia đình nông dân Nga đông con nhiều cái. Học giỏi từ nhỏ, năm 1939, Zinoviev thi vào Trường Đại học Triết, văn và sử Moskva (MIFLI), học đường đã đóng vai trò thay thế các khoa xã hội nhân văn của Trường Đại học quốc gia Moskva mang tên Lomonosov (MGU) trong 10 năm, từ 1931 tới 1941. Khi cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại bùng nổ, Zinoviev gia nhập quân đội, trải qua mọi cảnh lửa, nước và ống đồng trong đạn bom, bắt đầu là một chiến sĩ lái xe tăng và cuối cùng trở thành một phi công lái máy bay tiêm kích, tham dự tới 31 chuyến bay chiến đấu. Đảng và Nhà nước Xôviết đã trao tặng người lính Zinoviev nhiều huân và huy chương...

Năm 1946, Zinoviev lại vào học tiếp ở Khoa triết MGU và tốt nghiệp vào năm 1951. Năm 1954, Zinoviev bảo vệ rất thành công luận án phó tiến sĩ về phép lôgích trong bộ sách "Tư bản" của Karl Marx. Năm 1960, Zinoviev bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và trở thành người phụ trách bộ môn toán lôgích tại Khoa triết MGU. Hàng loạt những tác phẩm triết học có giá trị đã xuất hiện dưới ngòi bút ưu thời mẫn thế và đầy trách nhiệm với cuộc sống của Zinoviev.

Là một triết gia có cách nhìn hiện thực phê phán đối với những gì còn chưa hoàn thiện, Zinoviev đã không mấy quan tâm tới việc giữ mồm giữ miệng khi phát ngôn quan điểm của mình. Trên phương diện này, có lẽ ông là người gần gũi với nhà văn Nga nổi tiếng từ thế kỷ XIX, Saltykov-Shedrin (1826-1889). Trong tâm thức của hai nhân vật khác thời nhưng cùng kiệt xuất này, tình yêu tổ quốc vô bờ bến trước sau như một luôn gắn liền với thái độ đấu tranh không khoan nhượng và trung thực với những khoảng tối đang còn ám ảnh dân tộc Nga. Chính vì thế nên ngay cả khi do hoàn cảnh phải tạm thời sang cư trú ở nước ngoài (tại Munich từ năm 1978 tới 1999), Zinoviev vẫn nhất mực chối từ xã hội tư bản. Về sau, ông đã rất tự hào là trong gần 20 năm ở xa nước Nga, ông đã hoàn toàn sống bằng tiền nhuận bút và các bài giảng chứ không hề nhận bất cứ một xu nào từ phía những kẻ muốn ông phát ngôn theo chúng để chỉ trích chế độ Xôviết. Những tác phẩm của ông xuất hiện trong thời gian này cũng đầy trăn trở và tâm huyết đối với nước Nga và nhân loại...

Có lần, ông đã tâm sự: "Tôi là người Nga, tôi thuộc về dân tộc Nga. Tôi biết thế nào là dân tộc Nga. Nhưng tôi không phải là kẻ theo chủ nghĩa dân tộc...". Ngay cả trong lúc tưởng như sa cơ, tưởng như bị quê hương ruồng bỏ, ông vẫn còn nói được một câu nổi tiếng làm "tẽn tò" một số thế lực muốn kích động ông chống lại nước Nga: "Tôi không coi phương Tây là vương quốc tự do, tôi cũng không coi Liên Xô là vương quốc nô lệ...".

Zinoviev tự gọi mình là "người tới từ tương lai" bởi lẽ, với trí tuệ siêu việt của mình, ông muốn giúp nhân loại tỉnh táo và hiện thực hơn khi lựa chọn con đường phát triển. Không phải mọi điều ông nói đều hiển nhiên đúng, nhưng dẫu sao đó cũng là những thông tin tham khảo hữu ích đối với những ai muốn tạo dựng một tương lai bớt u ám hơn những gì đã có.

Công bằng với lịch sử

Trong cách nhìn nhận của Zinoviev ở đầu thế kỷ XXI, xã hội Xôviết đã là đỉnh cao của lịch sử nước Nga, mặc dầu chưa chắc đã là điều tốt nhất mà nhân loại mơ ước: "Tôi không viết sách giáo huấn, tôi không đưa ra những nhận định mang tính chủ quan nhưng tôi biết: trong lịch sử Xôviết của chúng ta đã mở ra một dạng thức mới của tiến hóa xã hội. Khác hẳn tất cả những gì đã có và những gì đang hiện hữu. Xét về ý nghĩa này thì đấy là một thí nghiệm xã hội vĩ đại, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với nhân loại, và toàn bộ quá trình tiến hoá của nhân loại đã và đang diễn ra dưới ảnh hưởng của mô hình ấy. Quý vị nghĩ rằng Liên bang Xôviết đã không có ảnh hưởng tới lịch sử thế giới ư? Thật là nực cười nếu ta phủ nhận ảnh hưởng đó. Tại phương Tây, người ta đã vay mượn từ kinh nghiệm Xôviết vô số những thành tựu và những thành tựu này đã trở thành máu thịt của nhân loại".--PageBreak--

Xã hội Xôviết, theo cách lý giải của Zinoviev, đã là một hệ thống tổ chức xã hội khác hẳn: "Liên Xô lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã bắt tay vào việc thành lập những liên hiệp tầm cao hơn hẳn so với các mô hình xã hội khác... Trong cuốn sách "Siêu xã hội" tôi đã mô tả tỉ mỉ cái đó là như thế nào. Siêu xã hội - đó là mức độ tổ chức xã hội cao hơn hẳn. Chúng ta hãy thử xem xét toàn bộ quá trình tiến hóa của nhân loại - một thí dụ kinh điển: có những quốc gia mang tính dân tộc của các nước Tây Âu, nhưng cũng có những liên hiệp thô sơ hơn. Liên bang Xôviết chỉ tồn tại 70 năm. Nhưng tại Liên Xô lần đầu tiên đã phát minh ra một hình thức tổ chức cao hơn hẳn...".

Zinoviev cho rằng, xã hội Xôviết đã có rất nhiều ưu thế chủ quan bất chấp vô số những khó khăn khách quan. Và sự tan vỡ của Liên bang Xôviết đã có thể diễn ra, ngoài một số yếu tố nội tại nào đó, chủ yếu là do những "mưu ma chước quỷ" từ bên ngoài cộng hưởng với sự phản bội lại đạo lý và tư tưởng cộng sản từ phía một bộ phận lãnh đạo cấp cao bị tha hóa bởi những "viên đạn bọc đường" từ phương Tây.

"Ông có tiếc về sự tan rã của Liên bang Xôviết không?" - khi nghe câu hỏi này, Zinoviev đã đáp ngay lập tức: "Tôi không bao giờ tiếc nuối cái gì cả. Liên Xô đã tan rã, không còn Liên Xô nữa. Nhưng chính nhờ Liên bang Xôviết mà dân tộc Nga mới có thể tồn tại được và đã đóng được một vai trò nào đó. Sau khi Liên Xô tan rã, dân tộc Nga đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái... Điều này đã được các nhà chiến lược của phương Tây tính toán từ những năm 40 của thế kỷ trước. Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ đã có tới hơn 300 trung tâm chuyên về nghiên cứu chiến tranh lạnh với nước ta. Trong chiến tranh lạnh đã có hàng chục triệu người bị lôi kéo vào những hoạt động chống lại Liên Xô. Đó là một mưu đồ khổng lồ. Chuyện này đã diễn ra không phải là trong ngày một ngày hai...".

Đọc đến đây có thể nhớ tới những lời phát biểu mới nhất của Tổng thống Nga Vladimir Putin trong Thông điệp Liên bang thường niên đọc trước hai viện Quốc hội Nga cũng vào ngày 10/5 vừa qua. Ông Putin đã đề cập tới nhu cầu nước Nga phải trở nên mạnh mẽ hơn, đông dân hơn để bảo vệ quyền tồn tại xứng đáng của mình trên trường quốc tế.

Không lý tưởng hóa xã hội Xôviết, nhưng Zinoviev luôn cố gắng nhất quán gìn giữ thái độ công bằng đối với quá khứ, đặc biệt là với những nhân vật từng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển Liên Xô trước đây. Về Stalin, Zinoviev nhận xét: "Tôi đánh giá ông ấy là một trong những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại... Bởi lẽ, ông ấy đã tạo lập được một cường quốc vĩ đại". Theo Zinoviev, trong những năm Stalin lãnh đạo quốc gia Xôviết, đặc biệt là những năm cuối thập niên thứ ba đầu thập niên thứ tư của thế kỷ trước, tại Liên Xô đã xảy ra những vụ việc này nọ nhưng cần phải có một lãnh tụ cứng rắn như Stalin thì mới làm bình ổn được tình hình đất nước; khắc họa hình ảnh Stalin chỉ dưới những góc nhìn tiêu cực đều là xuyên tạc sự thật.

Là một triết gia sâu sắc, Zinoviev không bao giờ tư duy theo kiểu "vơ đũa cả nắm". Ông tâm sự, ngay trên chính trường Nga hiện nay, dù luôn bị tác động bởi những xung lực tiêu cực xa và gần vẫn đang tồn tại những nhà chính trị xứng đáng được kính trọng bởi tâm huyết và đạo đức của họ. Khi ông Putin mới vào làm chủ Điện Kremli, Zinoviev đã nhận xét như sau: "Tôi rất kính trọng Tổng thống mới. Tôi nghĩ rằng, trong số những người có tham vọng đối với vị trí đó thì đây là phương án tốt nhất. Tôi có thể nói rằng, trong tình hình hiện nay thì tôi cũng không thể nghĩ ra cách ứng xử nào tốt hơn cách ứng xử như của Tổng thống Putin...".

Vô thần nhưng có tín ngưỡng - đó chính là lời tự nhận xét của Zinoviev về bản thân mình. Tín ngưỡng của ông là tình yêu thật sự vô tư, thật sự xót xa, thật sự chân thành đối với con người theo cái nghĩa chung nhất của từ này. Ông trước tiên là một triết gia lớn đậm đặc tính nhân văn của dân tộc Nga nhưng cũng là một triết gia lớn đậm đặc tính nhân văn của chung nhân loại

PHƯƠNG HÀ
Nguồn: ANTG

ĐỌC BÀI KHÁC:

·         NHÀ VĂN LÀM NGHỀ GÌ?



Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

NHÀ THƠ THIÊN HÀ & NGƯỜI TÌNH CÓ TÊN TRONG DI CHÚC

Nhà thơ Thiên Hà tên thật là Dương Cao Thâm, ông sinh năm 1940 trong một gia đình trí thức tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi. Thừa hưởng niềm đam mê văn nghệ từ người cha là một nghệ nhân đàn kìm, cùng với tình yêu quê hương sâu sắc, Thiên Hà đã cầm bút sáng tác từ rất sớm. Cho đến nay, ông đã cho ra đời nhiều tập thơ, truyện ngắn được bạn đọc đón nhận. Đặc biệt là những bài thơ của ông được nhạc sĩ Anh Việt Thu chấp cánh để trở thành những bản tình ca đi vào lòng nhiều thế hệ khán, thính giả...
Nhà thơ Thiên Hà và bà Ngọc An - “người tình có tên trong di chúc”

Người ngẩn ngơ giữa trường văn trận bút

16 tuổi, cái tên Thiên Hà đã được bạn đọc biết đến qua những bài thơ viết về tình yêu, quê hương. Dạo đó, ông làm thơ, viết truyện ngắn để kiếm sống. Mỗi tháng chỉ cần 2 truyện ngắn đăng báo là đủ trang trải chi phí cá nhân. Mà tháng nào ông cũng viết nhiều hơn số ấy, thành ra dư dả. Thời chiến nên tiền bạc cũng chẳng có ý nghĩa gì. Sự sống luôn thường chực bên cái chết. Có đó rồi mất đó. Bạn bè ông hôm nay còn ngồi khề khà chén chè, chén rượu, mai đã nghe tin dữ. Thiên Hà thường ví von mình là: “Người cầm viết ngẩn ngơ giữa trường - văn - trận - bút”. Nhưng đối với văn đàn, bạn bè, đồng nghiệp, anh không hề ngơ ngẩn mà luôn có cái nhìn sâu thẳm về cuộc đời với tâm trạng phảng phất chút u buồn, lo lắng của một người trai sinh ra trong thời loạn lạc, luôn hướng về tình yêu quê hương, con người, và trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh vẫn tự tin ở một ngày mai tươi sáng. Ông đến với văn chương như một cách để cân bằng giữa cuộc sống đời thường. Cũng chính văn chương, thơ nhạc như một thứ thảo dược xoa dịu tâm hồn ông trong thời loạn lạc.

Thơ Thiên Hà được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc như Anh Việt Thu; Hoàng Trang; Thanh Sơn… Tuy nhiên, đến năm 1962, bài thơ Nhớ nhau hoài của ông với sự chấp cánh của nhạc sĩ Anh Việt Thu đã trở nên nổi tiếng. Người người, nhà nhà đều thuộc nằm lòng từng câu chữ: “Em ở nơi nào, có còn mùa xuân không em? Rừng ngàn lá gió, từng đêm nhắc nhở thì thầm. Nắng ở trên đầu nắng trong lòng phố, gió ở trên non, gió cuốn mây về”. Điệu Ballad nhẹ nhàng cùng với câu từ truyền cảm đã đi vào lòng người nghe bởi những giọng ca nổi tiếng thời ấy như: Duy Khánh, Hoàng Oanh, Giao Linh... Tên tuổi của Thiên Hà cũng được biết đến từ ấy. Với sự kết hợp ăn ý của người nhạc sĩ tài hoa yểu mệnh Anh Việt Thu, lần lượt những bài thơ của ông được phổ nhạc và chiếm được tình cảm của nhiều khán, thính giả như: Gió về miền xuôi, Xa dấu ngựa hồng…

Ông cho biết, từ nhỏ ông rất thích nghe những bản nhạc có âm hưởng dân ca, mà nhạc sĩ Anh Việt Thu sáng tác nhiều ca khúc theo âm hưởng ấy. Với giọng trầm ấm, ông hát cho tôi nghe những bài hát quen thuộc mang âm hưởng dân ca của Anh Việt Thu: “Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu. Bàn tay năm ngón mưa sa. Dìu anh trong tiếng thở. Đưa tiễn anh đi vào đời…”, rồi bài: “Tôi xin đa tạ ngày nao súng phải thẹn thùng, ngày nao súng phải lạnh lùng. Nắng hạ vàng rưng rưng mây trắng. Ôi mây xõa tóc nghiêng nghiêng. Xin đa tạ người em bé bỏng mặn mà, người em bé bỏng thật thà…”. Chính sự đồng cảm trong âm nhạc ấy đã đưa hai tâm hồn nghệ sĩ xích lại gần nhau hơn, chỉ tiếc là Anh Việt Thu ra đi khi còn quá trẻ, trong thời điểm giữa ông và người nhạc sĩ tài hoa đang có rất nhiều dự định cho con đường âm nhạc của mình.

Làm thơ tặng người yêu có tên trong di chúc

Nhà thơ Thiên Hà hiện đang sống cùng vợ là bà Ngọc An trong căn nhà khá khang trang tại quận 9. Đón tiếp chúng tôi bằng bình trà nóng ấm giữa cơn mưa Sài Gòn nặng hạt, bà vui vẻ kể nhiều câu chuyện về nhà thơ Thiên Hà, trong đó có nhắc tới nhiều… bóng hồng đã đi vào thơ của ông. Hiếm có người phụ nữ nào lại vui vẻ kể về những bóng hồng của chồng mình như thế. Hỏi bà có ghen không, bà trả lời không, nếu có thì ngay từ đầu đã không về làm vợ ông ấy!

Quả nhiên, Thiên Hà là một người đào hoa. Những bài thơ tình của ông hầu hết không phải viết cho vợ. Khi hỏi về bài Nhớ nhau hoài, ông kể: “Thời sinh viên tôi đi học và ở trọ. Phòng trọ đối diện là một cô bé có mái tóc dài. Mỗi buổi chiều, cô ấy hay ra ban công ngồi chải tóc. Từng lọn tóc dài bay trong gió nhìn rất đẹp. Nhiều lần tôi muốn qua làm quen nhưng ngại nên không dám. Đến một ngày cận kề mùa xuân, tôi không còn thấy cô bé ấy xuất hiện chải tóc mỗi buổi chiều nữa. Tôi thơ thẩn như người thất tình. Thế là cầm bút sáng tác: “Em ở nơi nào, có còn mùa xuân không em?”. Mãi sau này bài hát được phổ biến, báo chí phỏng vấn thắc mắc về nhân vật “em” trong bài hát, cô ấy đọc mới biết viết cho mình.

Mãi đến sinh nhật thứ 70 của mình, ông mới viết thơ cho vợ. Bà Ngọc An rất thích bài thơ và thường yêu cầu ông đọc mỗi khi khách ghé thăm, bài “Người yêu có tên trong di chúc”. Bài thơ với những câu từ đơn giản nhưng chứa đựng tấm chân tình của ông dành cho vợ. Cũng là để nhấn mạnh cho “người yêu có tên trong di chúc” của mình hiểu một điều, dù có thế nào chăng nữa, vợ vẫn là mối tình chung thủy cuối cùng của nhà thơ. Đến thăm gia đình nhà thơ, cảm thấy thoải mái vì nơi đây luôn rộn rã tiếng cười. Những câu anh ơi, em ơi ngọt ngào như đôi lứa ở thuở mới biết yêu. Bà Ngọc An giải thích: “Ảnh như vậy đó, cứ nghĩ mình còn trẻ không à nên không chịu đổi cách xưng hô”.

Trong số những bài thơ được phổ nhạc của ông, Xa dấu ngựa hồng là bài hát mà ông tâm đắc nhất, mặc dù không được nhiều người biết đến như những ca khúc khác. Ông giải thích từ “ngựa hồng” trong kinh thánh có nghĩa là báo hiệu chiến tranh. Ở đâu có ngựa hồng xuất hiện là ở đó có chiến tranh. Bài Xa dấu ngựa hồng cũng chính là điều mà thời tuổi trẻ ông khát khao nhất: hòa bình. Ông đã khéo léo dùng câu chữ để thể hiện niềm khát khao cháy bỏng đó của mình trong bài thơ.

Đến nay ở tuổi ngoài 70, ông vẫn sáng tác thơ và làm chủ biên tủ sách Bến tâm hồn, một tủ sách chuyên giới thiệu các văn nghệ sĩ vang bóng một thời ở miền Nam trước đây. Những lúc rảnh rỗi, ông cùng bạn bè ngồi ôn lại kỷ niệm ngày xưa. Bên tiếng guitar bập bùng, những bài hát của ông luôn được bạn bè nhớ và hát. Đó cũng là niềm hạnh phúc giản dị của một người sống trọn đời với nghề cầm bút.

__________________________________

Tác phẩm tiêu biểu của Thiên Hà:

Thơ: Tiếng hờn (1963); Tiếng hát quê hương (1968); Gió về miền xuôi (2004); Xa dấu ngựa hồng (2005); Huyền thoại tình yêu (2006); Nhớ nhau hoài (2007); Còn thương mãi thương (2007); Cõi trú (2009)

Văn: Mình nỡ sao quên (Giải truyện ngắn báo Tiếng Chuông đợt VI 1962); Khoảng tối sau lưng (tập truyện 1965); Cuối đường (tiểu thuyết 1966); Nghìn đêm ánh sáng (Roman photo 1967); Một ngày nào đó (kịch bản phim 1970); Nhập cuộc (bút ký 1972); Mặt trời phương đó (truyện vừa 1973); Trí nhớ của tên kiện vong (kịch bản phim 1974); Cuộc tình tay ba (phóng sự 2005); Lật lại hồ sơ vụ án (điều tra 2006); Đoạn cuối một cuộc tình (truyện hình sự 2007); Chuyên án K98 (kịch bản phim 2008); Hành trình bút mực (tạp văn)…

ÁNH HƯỜNG
Nguồn: KTNN

ĐỌC BÀI KHÁC:

·         NHÀ VĂN LÀM NGHỀ GÌ?




NGUYỄN XUÂN SANH - NHÀ THƠ CUỐI CÙNG CỦA PHONG TRÀO THƠ MỚI

Sinh năm 1920. Đến Tết năm nay ông tròn 100 tuổi. Có nhẽ thi sỹ Nguyễn Xuân Sanh là người cuối cùng của phong trào Thơ Mới (1930-1945) còn tại vị trên thế gian này.
Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh

Trong số 44 người được Hoài Thanh chọn thơ vào Thi Nhân Việt Nam 1941 không có Nguyễn Xuân Sanh. Cũng không có tên Nguyễn Xuân Sanh khi xếp 3 dòng thơ. Dòng Pháp. Dòng Đường. Dòng Việt. Cũng không thấy tên ông trong các xóm thơ. Xóm sông Thương. Xóm Huế. Xóm Bình Định. Xóm Hà Tiên... Mặc dầu vậy, bài tổng luận ở đầu sách - Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã không quên vị trí của Xuân Sanh, nói về ông đến hai lần trong dòng chảy phát triển của Thơ Mới. Hoài Thanh viết. Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít nhiều nữa như Xuân Sanh muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarme, Valéry ... Thơ tượng trưng được người ta thích hơn nhất là Baudelaire. Có thể nói hầu hết các nhà thơ vừa kể trên, không ít thì nhiều, đều bị ám ảnh vì Baudelaire. Sau nhận định này về Xuân Sanh, Hoài Thanh có một chú thích nhỏ dành cho riêng Nguyễn Xuân Sanh rằng tác phẩm chưa xuất bản nhưng làng thơ thường nhắc đến. Như thể một lời thanh minh của Thi Nhân Việt Nam đã không chọn bài thơ nào của Nguyễn. Kỳ thực, theo Hồi ký Song đôi của Huy Cận thì vào hè năm 1935, chàng Huy và Xuân Sanh đã viết tay được một tập thơ chung khoảng 50 bài gửi cho nhà xuất bản Mai Lĩnh ở Hải Phòng. Khi ấy Xuân Sanh chừng độ 15 tuổi. NXB đã không in tập thơ và theo Huy Cận - Người sau này tự họa thơ mình là Thơ ơi, chiếc võng ta treo, Đầu theo vũ trụ đầu theo loài người, rằng họ đã không thèm trả lời. Nguyễn Xuân Sanh trước khi nổi tiếng với Buồn xưa và Bình Tàn Thu trong Xuân thu nhã tập 1942, Ông đã có một số bài thơ đăng báo như Xuân ngày - Bút Mới - Sài Gòn 1938. Giường bệnh mùa thu - Bút mới - 9/1938. Xây Mơ - Tiếng Địch - số 1 - 1938. Buồn Mơ, Đường Xuân - Thanh Nghị số tết 1942 v.v... Trong đó bài thơ Xây Mơ viết tặng Chế Lan Viên và được nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc vào năm 1940 là đáng kể hơn cả. Khuynh hướng siêu thực, tượng trưng đã đậm nét trong bài thơ ấy. Tay sương lam mờ đường buông tơ. Nghe sương lam mờ đường dăng mơ... Chưa thả bờ yêu ra đón má. Môi xa vây người nơi xa xôi.

Hoài Thanh viết Một thời đại trong thi ca tháng 11-1941. Tháng 6 -1942 Xuân thu nhã tập in thơ của Nguyễn Xuân Sanh mới được ấn hành. Nhưng lý do chính Hoài Thanh không chọn thơ Nguyễn Xuân Sanh vì ông không ủng hộ khuynh hướng đổi mới tìm tòi thi ca của tác giả này. Sau khi nói gần nói xa một chặp, Hoài Thanh bộc lộ Các ông Bích Khê và Xuân Sanh noi theo gương Mallarmé, Valéry không thèm giữ gìn gì hết. Đôi khi hình như họ đã diễn tả được những điều sâu kín. Nhưng lời thơ rắc rối quá… Rồi dư ba ấy cứ kéo dài mãi. Cho đến gần hết thế kỷ 20.

Bây giờ nhìn lại, Xuân thu nhã tập dội lên như một hướng tìm tòi mới được giới văn chương đương thời coi là một hiện tượng văn học độc đáo, sự tiếp nối của phong trào Thơ Mới ở chặng đường cuối cùng của nó. Ở đây tình yêu, sự cô đơn, nỗi buồn với mọi cung bậc màu sắc đã được khai thác đến vỉa cuối cùng. Hai bài thơ Buồn Xưa và Bình Tàn Thu, Buồn Xưa nổi bật nhất. Nó hiện ra vẻ đẹp toàn bích và kỳ ảo của chủ nghĩa tượng trưng.

Lẵng xuân
Bờ giũ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
          ... Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa
           ... Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời.

Buồn Xưa như tiếng nhạc trầm buồn của hoa lá cỏ cây, của nhịp hải hà đầy quyến rũ đưa đẩy người ta vào thế giới của siêu thực trong sáng mà say đắm. Để cuối cùng chợt nhận ra rằng sau những quỳnh hoa và ngọc quế ảo não trong nỗi buồn không sao giũ được, không thể thiếu được bóng dáng của người xưa yêu dấu. Đó là chàng hoàng tử nghiêng mái tóc buồn đượm một làn mưa giữa ngàn mây tràng giang buồn muôn thuở. Tôi mường tượng chàng hoàng tử đó chính là Nguyễn Xuân Sanh. Khi viết bài thơ này ông mới 19 tuổi. Tôi đã xem thủ bút của Nguyễn Xuân Sanh viết cho ông Đỗ Lai Thúy hồi mùa hạ năm 2012. Cách đây 7 năm bài Bình Tàn Thu. Bình Tàn Thu hay không kém Buồn xưa. Ở đấy mùa thu thật đẹp không chỉ bởi sương mù héo lệ dặm đường hương mà còn là vẻ đẹp kỳ ảo của cung phi dăng bướm buồn nghê thường. Nhưng tôi cứ lấy làm tiếc sao Xuân Sanh không viết bài thơ thần của mình để người đời nhìn ngắm cái run rẩy đầy kiêu sa trong nét chữ của thi nhân một thời vang bóng và tiếng đời u huyền trực tiếp ẩn trong những ký tự mơ hồ của Buồn xưa. Xây mơ, Buồn xưa, Bình Tàn thu có lẽ là 3 bài thơ nổi trội nhất của thơ tượng trưng Nguyễn Xuân Sanh.

Trong Xuân thu nhã tập 1942 có một bài viết của 3 người. Đoàn Phú Tứ. Phạm Văn Hạnh. Nguyễn Xuân Sanh. Đến bây giờ vẫn còn để ta suy ngẫm về sự làm thơ. Thơ như giai nhân. Như đẹp. Như trời - Có rung động là có thơ - Thơ có thể có trong âm nhạc, hội họa, kiến trúc... và cả trong đạo lý -. Thơ = Trong = đẹp = thật.  Thơ là đạo: Đạo - âm + dương - Sáng tạo - rung động - thơ - đạo.  Thơ không cấm lúc nào cũng rõ nghĩa v.v...

Vào năm 1940-1941, Nguyễn Xuân Sanh viết tập Đất Thơm - theo thể thơ văn xuôi đã trích đăng trên báo Thanh Nghị số 37 ngày 16-5-1943, thể hiện cách tổ chức đặc sắc một bài thơ văn xuôi với những tiêu đề nhỏ và những suy tưởng thơ rộng mở của tác giả. Đây là một buổi chiều giữa xuân: Chiều nay ta chỉ yêu đồng xanh. Ta mộng cánh đồng vàng ... Đồng mọi nơi sắp chín. Sắp gặt vụ mùa. Chùm bông nặng chưa chín nghiêng nhành lúa trong hạt đã gần căng. Hương đặc lùa ra bờ ruộng cỏ... Ta dành buổi chiều nhớ cánh đồng vĩnh viễn. Những vần thơ tươi sáng và mới lạ. Bằng Đất Thơm, Xuân Sanh là nhà thơ đi tiên phong về thơ văn xuôi trên thi đàn Việt Nam hiện đại. Sau này, các nhà thơ tiếp tục con đường khai mở của Nguyễn Xuân Sanh. Năm 1964 ở miền Nam Thanh Tâm Tuyền đã cho ra đời tập thơ văn xuôi: Liên - Đêm - Mặt trời nhìn thấy. Thập niên cuối thế kỷ 20 và đầu 21, một số nhà thơ trẻ cũng sáng tác thơ văn xuôi như Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh v.v... Thơ văn xuôi tiếp tục hành trình đi tìm cái mới.

Các nhà văn đương thời như Tế Hanh, Trinh Đường, Nguyễn Bao, Mã Giang Lân, Đỗ Lai Thúy v.v... không chỉ một lần cho rằng Nguyễn Xuân Sanh là người bắc nhịp cầu đầu tiên từ Thơ Mới sang thơ hiện đại, một hướng đi mới của Thơ Mới ở chặng cuối con đường của nó. Có người tỏ ý nuối tiếc rằng chàng thi sỹ của Buồn Xưa lại không đi tiếp con đường đổi mới thi ca vừa mới bắt đầu mà nhường việc ấy cho những người trẻ hơn tiếp tục như Nguyễn Đình Thi. Hồng Nguyên. Chính Hữu... Tôi cho rằng điều ấy cũng phù hợp với logic của sáng tạo văn chương. Sau Cách mạng Tháng 8/1945, Xuân Sanh làm chủ bút tuần báo Gió Mới của Tổng hội sinh viên cứu quốc. Sau tham gia lãnh đạo văn nghệ kháng chiến liên khu 4. Đến giữa năm 1949 về công tác ở Trung ương Hội Văn nghệ Việt Nam tại Việt Bắc. Từ 1954 đến 1989 liên tục tham gia Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Có khi được giao làm Tổng thư ký. Sự thay đổi nghiệp đời như thế lẽ dĩ nhiên thế giới quan phải thay đổi, có lẽ làm cho ông chuyển từ siêu thực vốn đã bị phê bình sang phản ánh hiện thực cho an toàn hơn. Chuyện hay dở trong văn chương là chuyện của cả một đời người, đôi khi còn chưa dứt. Các tập thơ Tiếng hát quê ta (1947-1954). Sáng Thơ (1956-1960). Nghe bước vào xuân (1956-1960). Đất nước và lời ca (1970-1977). Tuyển tập Nguyễn Xuân Sanh (1936-1990) v.v... cả một đường thơ được nhẫn nại đắp nên để đi tới. Rất đáng được người đời trân trọng.

Vậy mà, khi đọc lời giới thiệu Con đường nửa thế kỷ thơ của Nguyễn Xuân Sanh do Tế Hanh viết từ 1987 đến 1991, tôi không sao tránh khỏi bị ngậm ngùi. Nhớ lại hồi 1941, Hoài Thanh đã nhắc nhở Tế Hanh như sau: Tệ hơn nữa, người muốn hưởng cái thú tàn nhẫn được thấy người yêu "đau đớn quằn quại"... sự thành thực của thi nhân không thể ngờ được... Tế Hanh có khắt khe lắm không khi vào năm 1991 rồi còn hạ một câu: có một số cái gì dường như còn chưa nhập cuộc, hay có thể nói đúng hơn chưa nhập cuộc hoàn toàn... Có một đôi cái gì do hoàn cảnh nào đó chưa nở rộ hẳn ra đón chúng ta. Thời bao cấp bảo gì thì bảo mà bảo nhà văn chưa nhập cuộc thì ... thôi rồi! Chừng ấy của cả đời thơ Nguyễn Xuân Sanh mà bảo chưa nhập cuộc được chăng?

Nhận xét của Tế Hanh chỉ nên dành cho một số bài thơ đã thuộc về dĩ vãng như Trong sương đêm (1947), Ghi câu chuyện nhỏ (1948), Rừng vui (1949). Từ siêu thực trầm mặc thơ và đạo kết liền nhau đến con đường thơ phản ánh hiện thực là một sự quặn đau dữ dội để phục sinh không dễ dàng chút nào. Dường như đó là con đường chung của nhiều nhà thơ có thành tựu trong phong trào Thơ Mới đi theo Cách mạng, kể cả những thi tài như Huy Cận, Chế Lan Viên. Họ phải mất hàng chục năm để phục sinh. Cả hai người ấy, nhất là với Chế Lan Viên, đến lúc phục sinh thì lập tức nở rộ. Như cuộc diễu hành chiến thắng của nhiều tập thơ hay. Nguyễn Xuân Sanh không có được cái may mắn ấy. Chặng đường phục sinh của thơ ông dài đằng đẵng đến hết thế kỷ 20. Thơ ông không chín lại theo mùa như các bạn thơ cùng thời mà chín từng bài. Đôi khi từng câu một. Đôi khi khoảng cách giữa sự chín ấy lại thật là dài…

Bao nhiêu tình ý của một cuộc đời. Nhưng tôi nhận thấy hễ khi nào Nguyễn Xuân Sanh viết về hoài niệm, về kỷ niệm đã qua, thường có được những câu thơ hay nhất. Và số đó cũng không phải là nhiều, nếu không muốn nói là ít ỏi của lao động vất vả một đời người. Dòng thơ về hoài niệm, kỷ niệm đựng nhiều thơm thảo nhất trong thế giới thơ Nguyễn Xuân Sanh.

Đó là hoài niệm về biển miền Trung sóng vỗ bạc đầu, rạt rào nỗi nhớ quê hương, nghe như bức tranh thiên nhiên đã để lại lâu lắm rồi bên trời Thu.

Mũi Én như bàn tay hứng trăng
Trút ánh đêm Thu bãi cát bằng
Sóng vỗ bạc đầu quanh mỏm đá
Rạt rào nghe rõ tiếng đêm chăng?

                           Nhớ biển 2-1961.

Đó là cảnh mùa xuân bâng khuâng ở chùa Hương Tích.

Xuân chưa về, núi chưa mưa
Nhưng bên ta khắp rừng mơ nở rồi.

                    Trước xuân thăm chùa Hương Tích 12-1962.

Đó là kỷ niệm trên Nậm Tà Lê ở Trường Sơn. Rừng, sông, núi như nói hộ lòng người ra trận mà vằng vặc nỗi niềm với đất nước quê hương.

Tôi cầm dăm cánh lá bay
Thả xuôi con nước rừng ngây ngất chiều
Con sông vằng vặc nhìn ai
Nhìn khuya ngọn núi, nhìn mai con đường.

               Trên một ngả đường đất nước 9/1973.

Đó là ngọn đồi Mái Nhà ở miền Trung nơi con trai nhà thơ đã ngã xuống thời chiến tranh. Khi hòa bình ông đến đây chỉ gặp được gió không gặp được người.

Đá hiện lên gương đồi xanh
Nghe như ngan ngát hương lành cỏ tơ
Ta đi cho đến bao giờ
Mà trời cứ mở gió trưa, gió chiều

          Thăm ngọn đồi nơi con từng chiến đấu 6/1/1976.

Đó là trở lại đường cũ tuổi thơ ở thành phố biển Quy Nhơn khi ông đã  về già, những kỷ niệm của đời người tưởng đã rất xa mà lại sẫm màu hiện tại.

Về đây cả một cuộc đời
Tim ta tìm lại bồi hồi ngõ đêm
Trên kí ức một hiên thềm
Biển vui thở sóng dãy đèn ngã tư

          Thăm đường cũ ngày tuổi nhỏ, quãng sau 1980.

Nguyễn Xuân Sanh còn nổi tiếng là một dịch giả thơ có uy tín. Cùng với Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông, Đào Xuân Quý... Một thế hệ vàng trong việc chuyển ngữ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt thơ của các nhà thơ nổi tiếng cả ở 5 châu lục, nhất là các nhà thơ phương Tây. Heinrich Heiner, G.Apollinaire, Paul Éluard, Adam Mikiewicz, Petofi Sándor... Hai trăm bài thơ dịch của Nguyễn Xuân Sanh góp phần vào việc xây dựng nền tảng cho văn học dịch ở lĩnh vực thơ ca. Ông dịch thơ tây mà bình di dễ hiểu. Nhớ mãi cảnh mùa thu thân thuộc chẳng khác gì làng quê Việt Nam trong thơ Apollinaire, khi người nông dân dắt bò đi trong sương mù buổi sớm, nó che nỗi thẹn thùng của thôn xóm nhỏ. Người nông dân vừa bước đi vừa ngâm nga bài ca về tình yêu và lòng bội bạc để kết thúc bằng một câu cảm thán. Ôi! mùa thu đã giết chết mùa hè. Giữa sương mù hai bóng xám ra đi.

Nghề làm văn, làm thơ là nghề của ân tình. Nếu không thế thì làm để làm gì nữa. Tôi biết Nguyễn Xuân Sanh là nhờ học thuộc lòng bài thơ Vườn dừa của ông trong sách tập đọc lớp 4 hồi năm 1960. Khi vào đại học năm 1968 biết thêm Buồn xưa. Một trong số ít bài thơ được nhớ vì quá đặc biệt, không giống một ai. Thơ đã đành rằng quý một đằng vì hồn người ở đấy. Nhưng khi tuổi càng già đi với bao trải nghiệm nhiều khi đắng cay ở cuộc đời này thì càng quý trọng tình người, tình đời, tình bạn bè... Càng yêu quý và trân trọng, đồng cảm với Nguyễn Xuân Sanh. Ông quê gốc ở Quảng Bình nhưng sinh ra ở Đà Lạt. Thời đầu những năm 1930, Cụ thân sinh làm thừa phái ở Quy Nhơn. Vì vậy Nguyễn Xuân Sanh học ở trường Quốc học Quy Nhơn. Trường có thầy Tú Thọ, thân phụ nhà thơ Xuân Diệu. Thầy Tú dạy chữ nho vào thứ 5 hàng tuần. Xuân Diệu cũng học ở trường đó trước Nguyễn Xuân Sanh mấy năm. Tình bạn giữa Chế Lan Viên và Nguyễn Xuân Sanh thật cảm động. Trong thư Chế Lan Viên gửi ông ngày 20-4-1988 có viết: "Sanh à, mình có về Bình Định, tìm ra cái nền nhà mình, tức là nhà Sanh bên cạnh". Nguyễn Xuân Sanh và Chế Lan Viên khi ở Quy Nhơn cũng như khi về nhà bố mẹ ở sát bên nhau, ngoài cửa đông thành cổ Bình Định, thị trấn An Nhơn, thường nói chuyện với nhau về Hàn Mạc Tử. Nhớ lại việc in Điêu Tàn, hồi 1957, Chế Lan Viên viết. Hồi đó Sanh đứng ra xem in Điêu Tàn, và lo cho cả việc đòi nợ của Thái... Thất Lang Nam kỳ bây giờ. Sanh có nhớ bữa hai đứa đi đòi được 20 đồng, Sanh dẫn Hoan đi may brique?.
Năm 1937, Chế Lan Viên gửi Điêu Tàn từ Quy Nhơn ra Hà Nội cho Nguyễn Xuân Sanh. Một buổi chiều, Xuân Sanh liều mạng xông bừa vào nhà in Thụy Ký ở phố Hàng Gai. Vì cái liều ấy mà được nhận in Điêu Tàn với giá 50đ. Nguyễn Xuân Sanh đã lo sốt vó vì số tiền thật là quá to. Xuân Diệu nhận sắp xếp lại trật tự các bài thơ trong Điêu Tàn. In xong, Xuân Sanh gói ghém Điêu Tàn gửi vào Quy Nhơn cho Chế Lan Viên để phát hành ở trong Nam, còn ông tự đi phát hành ngoài Hà Nội để có tiền trả cho Thụy Ký. Điêu Tàn, một trong những tập thơ nổi tiếng nhất thế kỷ 20 đã bước ra cuộc đời một phần nhờ tình bạn như vậy đấy.

Huy Cận trong Hồi ký song đôi có kể một kỷ niệm đáng nhớ của ông và Xuân Sanh, khi họ mới chập chững bước vào nghề văn. Hồi mùa hè 1936, Huy Cận có mấy bài bình văn được đăng báo Sông Hương do Phan Khôi làm chủ bút, Hoài Thanh làm biên tập. Xuân Sanh khuyên Huy Cận đến thăm tòa báo. Vào một buổi chiều, hai người tìm đến trụ sở báo ở phố Gia Hội. Hoài Thanh tiếp họ. Nói chuyện văn học hợp gu lắm. Cả hai người rào trước đón sau quanh co mãi rồi cũng hé ra cái chủ ý muốn tiền nhuận bút. Nhưng cả hai ông phải về tay không, vì những bài của Cận chỉ là những bài lai cảo không được trả tiền.
Cuối tháng 5-2019, tôi đi tìm gặp Nguyễn Xuân Sanh, với cái vinh hạnh một kẻ hậu thế được trực tiếp kiến diện người cuối cùng của phong trào Thơ Mới. Nguyễn Xuân Sanh mấy năm nay về nương tựa tại nhà con gái ông ở phường Khương Trung, đường Tô Vĩnh Diện. Tôi đã xem nhiều sách của các cụ nhà ta ngày xưa cũng như các học giả thời hiện đại về kinh thành Thăng Long thấy rất ít nói về làng Khương lắm! Khương Hạ, Khương Trung, Khương Thượng xưa là đất trồng rau, đặc biệt là trồng gừng để phục vụ cho việc làm thuốc trong Hoàng Thành. Ở đây có cả một xóm người Chăm theo quan quân triều đình ra đây lập nghiệp từ hồi thế kỷ 13, 14. Sau này thời thực dân, phát sinh một số gia đình làng Khương làm nghề thợ nguội ở trên phố hàng Thiếc... Cư dân cả 3 làng đều là tầng lớp bình dân cả. Khác với bên kia sông Tô Lịch - bên làng Mọc, làng Quan Nhân... toàn là đất học và đất làm quan. Có nhiều danh sỹ người gốc vùng đấy... Trong cuốn Hà Nội Chỉ Nam có phụ đề bằng tiếng Pháp Guide de Hanoi được Nghiêm Hàm ấn quán in 1923 thì nếu đi xe điện từ Bờ Hồ qua Hàng Gai, Hàng Bông rồi Thái Hà ấp (sào quật của các cô đào) đến Ngã Tư Sở vào Hà Đông cả hai đường giá vé hạng ngồi đệm da người lớn 7 xu, trẻ con 3 xu. Đến Ngã Tư Sở xuống tàu đi bộ vào Khương Trung. Còn nếu đi xe ngựa cao xu thì phải thuê nửa ngày tại tiệm Maison Tricolore ở 46 Hàng Lọng hết 6 đồng bạc Đông Dương. Xa xôi quá. Tôi làm một tour taxi đến đường Tô Vĩnh Diện thì dừng lại xuống xe đi bộ. Đoạn đường không phải thật là dài. Nhưng cũng đủ để tôi ôn lại đường đời đường thơ qua một thế kỷ mà gió mưa đã đưa chàng hoàng tử trong Buồn xưa đến cư ngụ tại nơi xa xôi và hẻo lánh nhất của kinh thành xưa. Tôi đã đi theo chàng qua nhiều địa chỉ ở cuối bài thơ. Đà Lạt. Quy Nhơn. Huế. Hà Nội. Vùng than Quảng Ninh. Việt Bắc. Bungari. Rumani. Paris. Mascơva. Bắc Kinh... và sáng hôm nay tôi đi tiếp đoạn đường có lẽ là đoạn đường cuối cùng của chàng. Đời người ta sao phiêu diêu thế nhỉ? Đến nhà rồi. Đó là một tòa nhà hai tầng. Vẻ bề ngoài nhỏ mà yên tĩnh và thanh lịch. Ở tầng trệt hình thành 5 không gian sống không có vách ngăn đầy đủ. Bước vào nơi để xe đạp, xe máy và giày dép. Tiếp theo bên trái là nơi đặt 4 chiếc ghế giả da đã cũ dùng để tiếp khách. Một bên là tường. Một bên dựa vào chiếc tủ đứng bằng ván công nghiệp. Trong khung kính phía trên tủ có đặt ảnh chân dung của Vũ Tú Nam và Nguyễn Xuân Sanh. Đằng sau cái tủ ấy rộng chừng hơn 1m bề ngang đủ kê một chiếc giường và bàn làm việc cho nhà văn Nguyễn Cẩm Thạnh. Sinh 1927. Phu nhân của nhà thơ. May mắn diện tích nhỏ này có 1 khung cửa sổ đón ánh sáng từ bên ngoài vào. Tôi xin phép chị Nguyễn Thị Việt Triều, người con gái hiếu thảo thay mặt cả gia đình chăm sóc nhà thơ và vợ ông lúc cuối đời, cho tôi được vào kiến diện ông. Đi qua một khu bếp nhỏ chừng vài m2 nhiều đồ đạc bước vào ngăn thứ 5 với một khoảng sân trời nhỏ để đón ánh sáng tự nhiên. Kế đến là diện tích vừa đủ đặt chiếc giường. Màn buông kín và có nhiều cặp nhựa nhỏ kẹp theo mép đỉnh màn. Trong màn là một cụ già đầu tròn, tóc cắt sát da đầu, mắt nhắm, phía trên một góc màn là dây tiếp thuốc. Có 1 dây đưa thẳng vào bụng để truyền thức ăn. Tự dưng tôi ứa nước mắt. Đó là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh - chàng hoàng tử của Buồn xưa, người tôi đã thấy đẹp trai, hào hoa phong nhã trong những bức ảnh hồi kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc và những năm sau hòa bình của nhà nhiếp ảnh Trần Văn Lưu. Im lặng choán chỗ không gian sống. Tôi không nhớ khi ngồi ở chỗ ghế khách bên ngoài hay ở đây, hay ở ngoài ngõ vắng 102, tôi đã đọc thật to: Em nhớ trái dừa tròn, Của quê em Bình Định, Lấy ngón tay em tính, Ngày trở lại vườn dừa. Mắt nhà thơ đương nhắm nghiền chợt mở ra ở phía bên trái. Tôi đọc tiếp thật to: Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà bật ra từ vô thức. Tôi như thấy khóe miệng của người trăm tuổi ấy nở ra một nụ cười khô héo mà thật phong nhã, kiêu sa. Vâng! Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà. Và trong góc chật hẹp của gian phòng nhỏ bé này như vang lên khúc Dạo chơi của Paul Éluard qua lời của người đang im lặng nằm bất động trong cái màn mà đỉnh của nó đính đầy kẹp nhựa định mệnh kia.

Bé hơn một quốc gia
Nhưng đất rộng vô song
Đất thuộc về tôi nơi đây và nơi đó
Ở bất cứ nơi đâu khác nữa...

Hà Nội, tháng 5 đến tháng 8 -2019
  KHUẤT BÌNH NGUYÊN

Nguồn: Văn Nghệ


ĐỌC BÀI KHÁC:




BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...