Thứ Tư, 17 tháng 4, 2019

VỀ MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

(Đọc Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Thành)

Vũ Trọng Phụng là một trường hợp đặc biệt, nếu không muốn nói là đặc biệt nhất trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Vậy là, “nhà văn trẻ” mà vỏn vẹn sự nghiệp chỉ dừng lại ở tuổi 27 ấy (1912 - 1939) đã vĩnh biệt chúng ta được 74 năm, một khoảng thời gian có lẽ đủ để làm lắng đọng, kết tủa hay chiêu tuyết cho những giá trị từng bị xem là bấp bênh. Nhưng lạ thay, dường như những tranh luận về ông vẫn chưa thôi sôi nổi, và có vẻ lại câu chuyện lại càng trở nên thú vị hơn theo năm tháng.
Nhà văn Vũ Trọng Phụng

Cao Việt Dũng trong tiểu luận Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn chương Việt Nam: một số nhìn nhận mới[1] cũng đã xem họ Vũ là nhà văn đóng vai trò “đá thử vàng” của những thế hệ phê bình khác nhau. Đã có nhiều bài viết, các số báo chuyên đề, các sách chuyên luận và cả những tranh luận sôi nổi liên quan đến Vũ Trọng Phụng trong lịch sử, ngay từ năm thập niên 30 thế kỷ XX cho đến tận ngày nay. Phái ngợi ca thì tung hô nhà văn lên mây. Văn Tâm gọi ông là “thiên tài không còn nghi ngại được”, Phan Khôi xem ông “là nhà tiểu thuyết hiện thực phê phán có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa”, Nguyễn Khải xem Số đỏ là tác phẩm “có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học”… Phái chê bai cũng dìm ông đến tận đáy. Nhất Chi Mai xem ông là “một nhà văn nhìn thế gian qua cặp kính đen, có một bộ óc đen và một nguồn văn cũng đen nữa”, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Đức Đàn, Vũ Đức Phúc xem văn ông là thứ văn chương tư sản, là tự nhiên chủ nghĩa, là đề cao đế quốc, Hoàng Văn Hoan lại xem ông là “thứ văn chương chống cách mạng… loại văn chương nguy hiểm”… Thậm chí, còn cả một phái “thứ ba” vừa khen lại vừa chê, hoặc trước khen sau chê, khen chỗ này chê chỗ khác như Mộng Sơn, Nguyễn Đình Thi... Lịch sử tiếp nhận Vũ Trọng Phụng đầy mâu thuẫn, đối kháng này, xem xét lại một cách thật kĩ càng, chúng tôi còn thấy một điều đặc biệt khác, cả ba phía, bao gồm khen, chê và nửa khen nửa chê đã phán xét chủ yếu dựa trên đời tư tác giả, bằng cách qui chiếu thế giới hình tượng nghệ thuật với thế giới hiện thực mà tác giả đang sống, hoặc xa hơn tí nữa, là bàn vào nội dung các tác phẩm một cách trừu tượng, giáo điều. Hết. Tức chúng ta chủ yếu vẫn quẩn quanh dừng lại ở tư duy tiền hiện đại trong nghiên cứu văn học, với hai hướng tiếp cận cơ bản là “lịch sử tinh thần” và “thực chứng”.

Thật hiếm ai chú ý, hoặc chú ý đầy đủ đến hình thức của tác phẩm Vũ Trọng Phụng. Văn bản của nhà văn không có chỗ trong phiên tòa phán xét. Một lối tiếp cận phiến diện làm chúng ta không khỏi nhớ đến những lời than vãn của Milan Kundera trong Những di chúc bị phản bội và Một cuộc gặp gỡ, về cách mà nhiều người đã phán xử, xử tử những nhà văn như Salman Rushdie hay Berton Brecht, khi chỉ dựa trên tiểu sử hay hiện thực. Kundera viết: “Đúng rồi, chẳng ai còn nghi ngờ việc Rushdie đã công kích đạo Hồi, bởi chỉ có sự buộc tội là có thật; văn bản của cuốn sách chẳng còn quan trọng gì hết, nó không tồn tại” [2,201]. “Ôi, Bertolt, vậy thì còn lại gì của anh đây? Cái mùi hôi của anh, được bà cộng tác viên trung thành của anh giữ gìn trong ba mươi năm, sau đó được một nhà bác học lấy lại… đã gửi nó vào tương lai của thiên niên kỷ chúng ta” [3,193]. Câu chuyện về Vũ Trọng Phụng, sở dĩ có những khác nhau trong tiếp nhận và đánh giá, là bởi tồn tại những cách đọc khác nhau, tức những lý thuyết khác nhau được dùng làm cơ sở tiếp cận. Những nhà nghiên cứu đã dùng phân tâm học, tiểu sử học, văn hóa - lịch sử, xã hội học, lý luận văn nghệ Marxism cứng nhắc… và đó thông thường là các cách đọc dựa trên những phương pháp ngoại quan, tức vẫn không lấy hình thức văn bản làm đối tượng nghiên cứu chính. Ngay bản thân việc sử dụng phân tâm học thì cũng là lối làm việc dựa trên “phân tâm học tác giả”, chứ “phân tâm học văn bản” hay “phân tâm học người đọc” hầu như vẫn chưa được tính đến. Chính vì vậy, lối tư duy tiền hiện đại này đã dẫn đến những cách hiểu lệch lạc, như Thái Phỉ xem họ Vũ là “văn chương dâm uế”, hay điển hình nhất cách làm việc theo phương pháp phân tâm học tác giả (khiên cưỡng) như Lan Khai: “Viết văn đối với Vũ Trọng Phụng tức là một cách hành dâm”, hay Vũ Ngọc Phan từng nghĩ: “Người ta bảo những người ngực yếu (Vũ Trọng Phụng bị lao - Y.T) phần nhiều là những người dâm dục. Vũ Trọng Phụng có lẽ cũng thuộc về cái ca ấy”. Cho đến những năm gần đây, tình hình nghiên cứu và tiếp nhận Vũ Trọng Phụng có vẻ chuyển dần dịch sang tư duy hiện đại và hậu hiện đại. Trong số chuyên đề kỉ niệm về Vũ Trọng Phụng của tạp chí Nghiên cứu văn học (10 - 2013), Đỗ Thị Hường đã tiếp cận Số đỏ từ ngôn ngữ nghịch dụ (oxymoron). Những tiểu luận nghiên cứu khác về họ Vũ của Hoàng Tố Mai, Tôn Thất Thanh Vân trong số này cũng ít nhiều khảo cứu đến phương diện hình thức và ngôn ngữ của sáng tác Vũ Trọng Phụng.

Trong hoàn cảnh đọc nói trên, chuyên luận Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (Nxb. Văn học, 2013) của TS. Nguyễn Thành ra đời vừa là tiếng nói nhằm đối thoại lại lối nghiên cứu ngữ văn học theo tư duy tiền hiện đại, lại vừa là sự hợp lưu vào lối nghiên cứu theo tư duy hiện đại, tức dựa vào hình thức tác phẩm, thông qua lý thuyết về thi pháp học. Thực ra, chuyên luận Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng chỉ là sự kết tụ của một hướng nghiên cứu mà tác giả đã kiên trì trong nhiều năm qua, khởi đi từ mốc 1995, 1997, 1999 bằng ba tiểu luận nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng đã công bố trên tạp chí Văn học, và sau đó là nhiều tiểu luận khác được in chung. Có thể nói, cho đến nay, mặc dù có nhiều công trình lớn nhỏ khác nhau về Vũ Trọng Phụng, thì chuyên luận của Nguyễn Thành là một lối đi riêng đáng ghi nhận. Nó là một lối đi khác, có thể chưa hoàn toàn hay hơn những cách đọc còn lại, nhưng cần ghi nhận ở tính khách quan, khoa học và hiện đại, đúng với tinh thần thi pháp học. Không phải ngẫu nhiên, tác giả lại dành riêng chương 1 nhằm tổng quan nhìn lại lịch sử tiếp nhận Vũ Trọng Phụng. Trong chương này, tác giả đã không bị nô lệ, phụ thuộc vào những năm tháng, sự kiện tiếp nhận vốn vô cùng sôi động, phức tạp, mà đã xác lập nên một “cấu trúc tiếp nhận” rõ ràng, mạch lạc, bao gồm ba góc độ tiếp nhận chính là: đạo đức, nghệ thuật và chính trị. Tiếp sau đó, Nguyễn Thành chia lịch sử tiếp nhận Vũ Trọng Phụng thành bốn giai đoạn bao gồm: 1. Từ 1930 đến 8/1945; 2. Từ 8/1945 đến 1954; 3. Từ 1955 đến 1975; 4. Từ 1975 cho đến nay. Chuyên luận đã chỉ rõ được sự khác biệt trong tư duy nghiên cứu nói riêng và thực tiễn tiếp nhận các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nói chung. Trong chương này, chúng tôi chỉ hơi tiếc, nếu tác giả chia lịch sử tiếp nhận Vũ Trọng Phụng theo hướng hệ hình nghiên cứu (tiền hiện đại - hiện đại - hậu hiện đại), hoặc dựa trên phương pháp nghiên cứu (phân tâm học, tiểu sử học, xã hội học, thi pháp học…), thì sẽ có chiều sâu hơn. Về các phân kỳ lịch sử tiếp nhận tác phẩm Vũ Trọng Phụng, hiển nhiên cách phân chia của tác giả là hợp lý, nhưng một cách chi ly, có lẽ vẫn còn chưa thuyết phục, bởi hình như lịch sử văn chương với lịch sử chính trị đã bị đồng nhất. Thực ra, sự thay đổi về chính trị mặc nhiên kéo theo sự thay đổi về tiếp nhận văn học, nhưng hai quá trình này hiếm khi trùng khít về thời gian. Đơn cử trong lịch sử tiếp nhận Vũ Trọng Phụng, ở giai đoạn 4, có lẽ nên lấy mốc 1986 cho đến nay là hợp lý hơn. Bởi vì, chỉ sau Đổi mới, với những thành tựu của chủ trương mở cửa tư tưởng, kinh tế của Đảng, Vũ Trọng Phụng mới được nhìn nhận lại, công bằng hơn và khoa học hơn.

Chương 2 của chuyên luận, tác giả Nguyễn Thành dành riêng để khảo sát quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn đầu thế kỷ XX và của cá nhân Vũ Trọng Phụng. Với Nguyễn Thành, tiểu thuyết là một thành tựu lớn trong công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam, chuyển dịch từ mô hình tiền hiện đại kiểu phương Đông, sang mô hình hiện đại theo kiểu phương Tây. Đi từ quang phổ rộng rãi của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung và văn xuôi nói riêng, tác giả đã chỉ ra các tiêu chí phân biệt tiểu thuyết với các thể loại khác (tính hư cấu, tính văn xuôi, tính tự sự, nhân vật và cốt truyện). Trong đó, theo chúng tôi, tính văn xuôi và tính tự sự có lẽ nên gộp vào với nhau gọi là tính tự sự (vì đa phần tiểu thuyết trong thời hiện đại đều viết bằng văn xuôi, không cần nêu ra nữa), còn phần nghiên cứu về nhân vật và cốt truyện là đóng góp đặc sắc đáng ghi nhận của tác giả. Nguyễn Thành đã chỉ ra được nhân vật trong quan niệm tiểu thuyết Việt Nam hiện đại là mang tính đa diện, có cả vô thức, có chiều sâu tâm lý. Cốt truyện trong tư duy tiểu thuyết hiện đại vừa có loại “có cốt truyện”, lại vừa có loại “không có cốt truyện”. Ngoài ra, tiểu thuyết hiện đại còn mang đặc trưng kết cấu mở, có người kể chuyện hướng về phía trước, người kể chuyện cũng là một nhân vật… những đặc điểm đều được thể hiện trong những sáng tác của Vũ Trọng Phụng cũng như tư duy tiểu thuyết của nhà văn. Quan niệm tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng đã được Nguyễn Thành chỉ ra xác đáng, đó là quan niệm về tả chân xã hội. Tả chân ở đây vừa là chủ nghĩa hiện thực, lại vừa là chủ nghĩa tự nhiên, chứ không có sự phân biệt rõ ràng như ngày nay. Tả chân như thế là quan điểm xuyên suốt và bao trùm thế giới nghệ thuật của nhà văn. Trong phần này, theo chúng tôi, nếu tác giả nghiên cứu sâu hơn về quan niệm mỹ học xuyên suốt trong tư duy tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng đó là cái hài, chủ yếu được xây dựng dựa trên thủ pháp nghịch dị (grotesque) thì sẽ đầy đủ, hoàn thiện hơn.

Bất cứ một nghiên cứu thi pháp học nào ở nước ta, cũng gần như phải đề cập đến quan niệm nghệ thuật về con người, không - thời gian nghệ thuật và kết cấu. Chuyên luận của Nguyễn Thành cũng triển khai nghiên cứu theo ba hướng trên, lần lượt trong các chương 3, 4, 5. Trong chương 3, dành riêng để khảo cứu con người và xã hội trong quan niệm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng. Tác giả đã chỉ ra được đặc trưng trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn, đó là con người phi lý, con người vô nghĩa lý, vì nó được sinh ra, lớn lên trong một xã hội suy đồi, đảo lộn các giá trị. Nguyễn Thành đưa ra nhận định Vũ Trọng Phụng là “người đầu tiên thể hiện cái nhìn phi lý trong văn học Việt Nam hiện đại” [4,95]. Tuy nhiên, Nguyễn Thành không quá cả tin về sự hình thành nhân cách con người chỉ phụ thuộc vào mặt xã hội, mà nhà nghiên cứu đã tính đến sự chi phối mạnh mẽ của bản năng, bởi vì con người trước tiên là một động vật. Chính cách nhìn nhận các nhân vật trên cả phương diện ý thức lẫn vô thức, đạo đức lẫn dục vọng, đã giúp quan niệm nghệ thuật về con người của Vũ Trọng Phụng trở nên toàn diện, đặc sắc và có tính khiêu khích với những cách đọc qua từng giai đoạn phê bình. Tác giả cũng tiến hành phân loại con người nghệ thuật thành các nhóm như: 1. Con người dục vọng - ác độc; 2. Con người lưu manh, dối trá, bịp bợm; 3. Con người tha hóa - bi kịch; 4. Con người đạo đức - lý tưởng. Kiểu phân loại này bao quát, toàn diện, nhưng tên gọi nhìn chung còn khá rối và chồng chéo. Trong chương 4 khảo cứu về không - thời gian nghệ thuật, chúng tôi đánh giá đây là một trong những chương thành công của chuyên luận. Về không gian nghệ thuật, Nguyễn Thành chia tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ra các dạng thức và đặc tính nổi bật: 1. Không gian xã hội (không gian đô thị rộng lớn, đua đòi theo phong trào Âu hóa); 2. Không gian thiên nhiên (không gian khép kín có tính bản năng); 3. Không gian tâm trạng. Về thời gian nghệ thuật, tác giả chia thành các đặc trưng nghệ thuật như: 1. Thời gian đảo tuyến (hồi ức, kể lại quá khứ); 2. Nhịp độ trần thuật (gấp gáp, biến chuyển, tốc độ nhanh). Nhìn chung, chúng tôi cho rằng, nếu không gian nghệ thuật là nơi bút pháp Vũ Trọng Phụng đã tung hoành với nhiều thành tựu, thì thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông vẫn còn khá đơn giản, tính đảo tuyến mà tác giả chuyên luận nói đến chưa phải là đặc trưng nghệ thuật đặc sắc, thậm chí, nhiều chỗ chưa hẳn đã là đảo tuyến như quan niệm của các nhà văn hiện đại/hậu hiện đại sau này. Dĩ nhiên, cần xét đến hoàn cảnh lịch sử cụ thể, khi Vũ Trọng Phụng là một trong những người mở màn cho công cuộc hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam. Ở chương 5, tác giả chuyên luận đi sâu vào nghiên cứu cốt truyện và kết cấu. Theo Nguyễn Thành, cốt truyện tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng vừa có sự tiếp thu từ phương Tây, lại vừa ảnh hưởng cốt truyện truyền thống của văn học trung đại Việt Nam. Tính hiện đại thể hiện ở kiểu cốt truyện luận đề, kịch tính, mà đặc biệt là cốt truyện tâm lý. Trong văn học trung đại, nhân vật văn xuôi thường chỉ miêu tả hành động chứ không đi vào tâm lý, như các tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa. Ngược lại, kiểu cốt truyện phiêu lưu, “giả” chương hồi trong Số đỏ lại được xem là sự kế thừa truyền thống. Về mặt kết cấu, tác giả đánh giá cao kiểu “tư duy phi đối xứng”, tức kiểu kết cấu nhấn mạnh một khía cạnh, một tính chất, Nguyễn Thành xem đó như một “nỗ lực lạ hóa phương thức biểu hiện của Vũ Trọng Phụng” [4,201]. Ngoài ra, việc sử dụng các yếu tố ngẫu nhiên như một thủ pháp kết cấu mang đặc trưng thời đại cũng là tìm tòi đáng ghi nhận. Ở đây, bởi vì Nguyễn Thành không nêu quan niệm riêng về kết cấu, nên thật khó để đánh giá những nhận định. Tuy nhiên, có thể có người còn băn khoăn về đặc trưng “tư duy phi đối xứng” mà nhà nghiên cứu chỉ ra, thì đa phần lại hoàn toàn đánh giá cao phát hiện yếu tố ngẫu nhiên trong cốt truyện Vũ Trọng Phụng. Có vẻ như, kết cấu mà Nguyễn Thành nói đến ở đây là kết cấu của cốt truyện.

Các chương còn lại (6, 7) Nguyễn Thành tiến hành nghiên cứu đặc trưng dung hợp thể loại và điểm nhìn trần thuật cùng ngôn ngữ tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Trong phần nghiên cứu về sự dung hợp thể loại (chương 6), tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến sự hỗn dung giữa tiểu thuyết và phóng sự, bên cạnh đặc trưng kết hợp bi - hài và việc áp dụng các kĩ thuật của các bộ môn nghệ thuật khác, mà đặc biệt là điện ảnh. Chúng tôi chú ý đến việc Nguyễn Thành đã nhấn mạnh tính phóng sự trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, và đồng thời xem nhà văn họ Vũ là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam. Chịu ảnh hưởng của Nguyễn Đăng Mạnh về việc xem những tiểu thuyết của Vũ: “…như những phim thời sự. Đương thời ít có cuốn tiểu thuyết nào lại gần với không khí chính trị thời đại đến thế” [4,217], nhưng Nguyễn Thành lại xem chất phóng sự không tạo nên giá trị nghệ thuật cho tiểu thuyết, mà giá trị là “do chất tiểu thuyết đậm đặc của chúng” [4,217]. Như vậy, cách đánh giá của Nguyễn Thành đã khác, và có tính đối thoại với nhận định của Cao Việt Dũng, khi anh xem “thế nhưng phần chính yếu tác phẩm của ông lại không hoàn toàn là tiểu thuyết, kể cả những tác phẩm ngày nay vẫn được xếp vào thể loại tiểu thuyết, một cách đương nhiên” [1,79]. Đây là một cuộc “đối thoại” thú vị mà cả hai bên đều có lý. Đúng là vào thời của Vũ Trọng Phụng, quan niệm tiểu thuyết với tính hư cấu là đặc trưng nghệ thuật cơ bản nhất, như cách hiểu của Milan Kundera ngày nay chưa thể hình thành. Bản thân nhiều tác phẩm của nhà văn như Cơm thầy cơm cô, Kỹ nghệ lấy Tây, Cạm bẫy người… trước tiên là những phóng sự. Tuy nhiên, quan điểm về tiểu thuyết hiện đại vốn ngày càng được giãn nới về đường biên phân biệt, với sự đề cao những tác phẩm có tính phi hư cấu. Về thực chất, tính “tiểu thuyết đậm đặc” trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nếu có, không phải là do ý thức văn nghệ của nhà văn qui định, mà là do sự phát triển và vận động của quan niệm về tiểu thuyết của lý luận văn học. Sự vận động của thể loại, ngoài sự vận động của thực tiễn sáng tác, với chúng tôi, trước tiên là sự vận động về lý thuyết thể loại.

Trong phần nghiên cứu về điểm nhìn và ngôn ngữ trần thuật, Nguyễn Thành đã áp dụng cả tự sự học, kết hợp với thi pháp học trong quá trình khảo cứu. Tác giả chỉ ra nhà văn họ Vũ thường có xu hướng sử dụng ngôi trần thuật thứ ba, với điểm nhìn bên ngoài có tính khách quan, bởi nhà văn chủ trương tả chân, và những tiểu thuyết của ông mang đậm tính hoạt kê. Nhưng ở tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, theo Nguyễn Thành, đã có sự luân phiên các góc nhìn trần thuật. Mặc dù tác giả chuyên luận đã phân tích rất kĩ càng, thuyết phục, nhưng nhìn chung, chúng ta có thể thấy so với các nhà văn Tự lực văn đoàn, và cả so với những nhà chủ nghĩa hiện thực phê phán khác như Nam Cao, tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng vẫn không mang lại nhiều cách tân và thành tựu xét trên nghệ thuật tự sự, trong đó bao gồm cả kĩ thuật luân phiên điểm nhìn. Tính phóng sự đậm đặc trong tiểu thuyết của họ Vũ nếu mang lại giá trị hiện thực, thì đương nhiên, nó phải hi sinh giá trị kĩ thuật tự sự. Trong phần nghiên cứu về ngôn ngữ, chúng tôi đặc biệt đánh giá cao sự phát hiện, thống kê và so sánh chi tiết, trực quan của Nguyễn Thành về ngôn ngữ tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng so với các nhà văn cùng thời khác. Chuyên luận đã chỉ ra được, Vũ Trọng Phụng có xu hướng sử dụng lời văn đối thoại, có cuốn như Giông tố và Số đỏ tỷ lệ lời đối thoại lần lượt chiếm 54,9% và 56% trong diễn ngôn truyện kể, một tỷ lệ cao hiếm có, ít nhà văn đương thời nào có thể sánh bằng. Chính việc “đặt nhân vật vào lập trường đối thoại” này đã tạo nên kịch tính, giúp nhân vật tự bộc lộ mình, hết sức phù hợp với tiểu thuyết hoạt kê. Những đoạn đối thoại trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng đa phần là đối thoại lệch chuẩn, phi phạm qui tắc hội thoại, liên tục đối kháng lẫn nhau. Có thể thấy Nguyễn Thành đã vận dụng khá nhiều lý thuyết đa thanh, đối thoại của M.Bakhtin trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Vũ Trọng Phụng, và hiển nhiên, đó là một lựa chọn hợp lý, bởi nhà nghiên cứu đã tìm ra được chính xác đặc trưng mỹ học ngôn ngữ tiểu thuyết của nhà văn. Ngoài ra, những tìm tòi của Nguyễn Thành về ngôn ngữ nhân vật mang cá tính đặc sắc, kĩ thuật lặp lại trong phát ngôn, thủ pháp sử dụng nghịch ngữ, so sánh bất ngờ, giọng điệu đặc sắc, trào phúng, câu văn hiện đại với việc sử dụng phổ biến các phó từ, trạng ngữ, cấu trúc bị động theo kiểu phương Tây, kĩ thuật danh từ hóa động từ… đã giúp làm rõ giá trị nghệ thuật của diễn ngôn tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Theo chúng tôi, đây là phần thành công nhất của chuyên luận, bởi tác giả vừa tìm được phương pháp phù hợp, những kết quả tìm được có tính trực quan, và quan trọng hơn, ngôn ngữ tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đúng là đặc trưng nghệ thuật quan trọng nhất, có nhiều cách tân cũng như mang cá tính sáng tạo rõ rệt nhất của nhà văn. Sự áp dụng lý thuyết và vào đối tượng nghiên cứu như thế, vừa đòi hỏi trình độ của người nghiên cứu, nhưng trước tiên, đòi hỏi tính tương thích giữa đối tượng và lý thuyết.

Nguyễn Thành là người “đi trước, về sau” trong đối tượng nghiên cứu mà ông quan tâm: tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Hơn 18 năm qua, khởi đi từ bài viết đầu tiên về Vũ Trọng Phụng năm 1995, hoặc 11 năm kể từ khi Nguyễn Thành bảo vệ xong luận án về Vũ Trọng Phụng, tác giả mới hoàn thiện cách đọc của mình về tiểu thuyết nhà văn họ Vũ. Đó là một sự trận trọng, nghiêm túc trong khoa học đáng ghi nhận, thậm chí, quá thận trọng đến “đáng tiếc”. Nhưng sự thiếu “tức thời” của Nguyễn Thành lại càng chứng minh cho giá trị khoa học của chuyên luận, bởi sau khi những người bộ hành đã dẫm chi chít các “vết chân chữ” trên giấy về Vũ Trọng Phụng, nhà nghiên cứu vẫn tìm thấy cho mình lối về và ngõ riêng. Và nếu nói như Cao Việt Dũng, Vũ Trọng Phụng là viên “đá thử vàng” của phê bình, nơi chứng kiến sự thử bút của “hầu như mọi nhà phê bình tên tuổi đã làm nên lịch sử phê bình văn học Việt Nam”, thì Nguyễn Thành có lẽ đã tìm đúng và đã thành công cho quá trình “tìm đá” và “thử vàng” ấy.

Trường An, 30/11/2013
YẾN THANH
Nguồn: SH 301/03-14


__________________________

Chú thích

1. Cao Việt Dũng (2013), “Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn chương Việt Nam: một số nhìn nhận mới”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 10-2013, tr.77-86.
2. Milan Kundera (2001), Tiểu luận, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
3. Milan Kundera (2013), Một cuộc gặp gỡ, Nxb. Văn học, Hà Nội.
4. Nguyễn Thành (2013), Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Nxb. Văn học, Hà Nội. - Mọi trích dẫn trong bài viết nếu không có chú thích đều được trích từ tài liệu này.


TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ KHÁC:



Thứ Ba, 16 tháng 4, 2019

NHÀ THƠ VÕ VĂN TRỰC: NGƯỜI CỦA LÀNG

Đang chạy xe trên đường thì nhận được tin Nhà thơ Võ Văn Trực đã qua đời lúc 2 giờ sáng ngày 5/4/2019 (tức 1/3 âm lịch), tôi không quá bất ngờ nhưng vẫn có cảm giác nôn nao, dẫu biết rằng cái chết là một sự giải thoát cho cho ông, bởi lâu nay ông ốm liệt giường và không hay biết gì nữa cả. Nhà thơ Võ Văn Trực là người để lại nhiều hình ảnh trong kí ức tuổi thơ tôi, một con người hiền lành, sâu sắc, kiệm lời, khiêm nhường và yêu quý trẻ con. Thực sự trong tôi vừa cảm thấy nhẹ lòng vì ông đã thoát khỏi kiếp trầm luân trong cõi người này, nhưng cũng cảm thấy buồn và trống vắng vì cuộc đời này vừa mất đi một con người tử tế, một con người mang đặc phẩm chất xứ Nghệ quê hương ông.

Dưới đây là bài tôi viết về ông cách đây gần chục năm, khi đó ông đã yếu nhưng vẫn còn có thể trò chuyện được, giờ xin đưa lại như một nén nhang tưởng nhớ đến ông. Xin vĩnh biệt ông và gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình nhà thơ Võ Văn Trực kính mến.
Nhà thơ Võ Văn Trực

Quả thực định viết về nhà thơ Võ Văn Trực đã lâu, nhưng cứ ngồi vào bàn rồi tôi lại đứng dậy, bởi buổi gặp hôm đó giữa tôi và ông để có thêm chi tiết cho bài viết này cũng thật ngắn ngủi. Sau một thời gian bị tai biến, sức khỏe của ông yếu đi, không thể tiếp khách lâu được. Còn tôi thì cũng không dám hỏi nhiều vì sợ ông mệt. Ngay lúc này đây, khi đang gõ những dòng chữ này, trước mặt tôi là mấy cuốn sách ông tặng với nét chữ nguệch ngoặc, lên xuống liêu xiêu, tôi cứ bị ám ảnh suy nghĩ về thời gian. Thời gian cho chúng ta tất cả nhưng cũng lấy đi của chúng ta tất cả, để rồi đến một ngày lại trở về con số không. Nhưng thôi, đó là quy luật của trời đất, là vòng quay sắc sắc không không của cái vũ trụ vô biên này, mà thân phận con người thì quá nhỏ bé. Đâu có ai làm thay đổi được điều đó. Tất cả rồi cũng chỉ là huyễn giả vô thường mà thôi. Nhưng tôi lại tin có một điều sẽ còn mãi. Và, sau khi đọc những cuốn sách ông đã tặng, với một chút chiêm nghiệm về con người ông, tôi lại càng tin điều đó. Cái điều còn lại đó chính là phần Người trong mỗi Con Người. Cái phần Người sẽ định vị chúng ta ở một chấm nhỏ xíu nào đó trong vũ trụ bao la này.

Quay ngược thời gian với hơn hai mươi năm về trước, khi đó tôi đang là một cậu học sinh tiểu học, ông vẫn thường đạp xe đến nhà tôi chơi. Cái căn nhà cấp bốn dột nát chật hẹp của gia đình tôi hồi đó lúc nào cũng ấm áp bởi những người bạn văn chương của bố tôi. Còn nhớ, hôm nào có ông đến chơi là bố tôi lại bảo mẹ ra chợ mua một rổ khoai lang về luộc và không thể thiếu một bát cà muối ròn tan. Ông bảo khoai lang ăn với cà pháo là nhất, nó gợi cho ông nhớ về quê hương. Phải rồi, với những người con xứ Nghệ như ông và bố tôi thì món ăn dân dã của quê hương còn là món ăn mang tính tinh thần. Trong mỗi gia đình ở xứ Nghệ, nhà nào cũng phải có một vại cà muối đặt ở góc bếp hay góc sân. Quanh năm, trong mỗi bữa cơm đều không thể thiếu bát cà muối. Có thể nói đó vừa là món ăn bình dân nhưng cũng vừa là món ăn quý tộc của người Nghệ. Bên rổ khoai lang với bát cà pháo, ngoài chuyện văn chương ông rất hay kể những câu chuyện dân gian ở quê ông cho mọi người cùng nghe, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ, như chuyện Cố Bợ, chuyện núi Hai Vai…mà sau này ông đều viết thành sách. Ông có giọng nói nhẹ nhàng rủ rỉ, ấm áp khiến cho người nghe phải lắng lại cùng với câu chuyện của mình. Mỗi khi ông đến chơi là tôi lại sà vào lòng và thế nào cũng nhận được vài cái véo yêu của ông.

Sau này lớn lên, ấn tượng của tôi về ông còn là một bài thơ tình rất hay của ông được học sinh sinh viên truyền nhau chép vào sổ tay. Đó là bài Thu về một nửa, trong đó có những câu thơ khién cho những trái tim yêu đương thổn thức đến nao lòng:

Anh cầm trên tay giọt nắng vàng tươi
Lá lốm đốm thu mới về bỡ ngỡ
Một nửa màu xanh còn ấm nhựa
Cuống lá run run lưu luyến đậu trên cành

Những câu thơ mang tính ẩn dụ thật lãng mạn và tài tình khác hẳn với sự mộc mạc nhưng sâu sắc mà ta vẫn thường thấy trong thơ ông. Những câu thơ như càng chứng minh một điều, tình yêu đâu có phân biệt tuổi tác, người lớn tuổi cũng giống như các cô cậu mới lớn, cũng bối rối, cũng vụng về cũng lúng túng, cũng xao xuyến.

Mới đây, khi tôi đến thăm ông tại nhà riêng ở khu Yên Hoà, một ngôi nhà sang trọng có thang máy, ông vẫn nhanh chóng nhận ra tôi. Ông hỏi thăm từng người trong gia đình, thậm chí ông hỏi thăm cả những người mà ông đã từng gặp ở nhà tôi trước đây. Bản chất con người ông là vậy, sâu sắc và tình cảm.

Bên cạnh chiếc giường của ông là một cái bàn với rất nhiều sách báo xếp chồng trên đó. Tôi hỏi ông:

- Bác vẫn làm việc được à?

- Bác chỉ thỉnh thoảng đọc thôi, tay yếu đâu có viết được nữa. Không còn làm việc được buồn lắm cháu ạ. Chẳng thà ông trời cho mình chết đi còn hơn sống mà không được làm việc. – giọng nói của ông vẫn rủ rỉ nhưng có hơi run run.

- Thôi bác ạ, ai rồi cũng có lúc già yếu. Làm gì có ai thoát khỏi cái quy luật đó đâu. Cả một đời cống hiến cho văn chương như bác cũng là đáng kính nể rồi. Cũng để lại chút gì cho đời và cho nền văn học rồi bác ạ.

Tôi nhìn lên bàn làm việc của ông thấy cuốn sách “Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Đổng Chi được đặt ngay ngắn, ở giữa có kẹp một tờ giấy để đánh dấu trang sách mà ông đang đọc. Còn ông thì nhìn xa xăm ra ngoài khung cửa sổ của căn phòng ở tầng hai. Cuộc sống hàng ngày của ông giờ đây hầu như chỉ vỏn vẹn trong căn phòng nhỏ và ô cửa sổ để nhìn ra thế giới bên ngoài. Phía bên trong khung cửa sổ là một cuộc sống tĩnh lặng nhưng đầy chiêm nghiệm. Còn bên ngoài kia là một thế giới sôi động, đầy sắc mầu không ngừng trôi. Đó là một thế giới có nhiều yêu thương nhưng cũng đầy bất trắc mà ông đã từng trải nghiệm bằng cả máu và nước mắt với gần trọn đời mình. Dường như mấy chục năm qua, gương mặt ông không có nhiều thay đổi, chỉ có mái tóc là bạc trắng, nay vì ốm yếu nên cắt ngắn cho gọn. Thật kì lạ, gương mặt hồn hậu của ông luôn tạo cho người đối diện một cảm giác tin cậy và gần gũi nhưng luôn ẩn chứa một nỗi buồn xa xăm. Một nỗi buồn trong suy tưởng mà ông cất giữ bằng chiếc khoá thời gian. Cũng phải thôi, cuộc đời này có ai là không có nỗi buồn. Và tôi chợt nhớ đến một câu hát của Trịnh Công Sơn: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Có thể với những tâm hồn nghệ sĩ thì nỗi buồn ám ảnh nhiều hơn, nó còn là nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tác cho họ, bởi ai đó cũng đã nói rằng, nỗi buồn là mẹ đẻ của thi ca. Tôi cũng tin rằng, nếu ai đó sống một cuộc đời không biết đến buồn đau thì chắc hẳn đó là một cuộc đời rất tẻ nhạt. Còn với nhà thơ Võ Văn Trực, ngay cả khi cười, ta vẫn có thể thấy nỗi buồn phảng phất trên gương mặt ông. Trong mỗi một kiếp người có biết bao buồn đau, mất mát mà ta phải trải qua. Và trong cái xã hội mà chúng ta đang từng ngày phải đương đầu và nếm trải này có biết bao những điều ngang trái, bất an đang diễn ra, đang rình rập từng phút từng giây khiến ta phải lo âu, suy nghĩ. Huống chi với một trái tim đa sầu đa cảm như nhà thơ Võ Văn Trực không thể không nhức buốt, không rung lên da diết theo từng nhịp đập đó của cuộc đời. Những nỗi buồn cứ chất chứa trong ông và ông cất giấu. Những nỗi buồn không làm ông gục ngã. Ông cũng không lãng quên chúng mà đem khâu nó lại, bện chặt nó lại như hành trang để tiếp tục đương đầu với cuộc đời, cùng buồn cùng vui trên những chặng đường tiếp theo. Và mỗi khi một mình đối diện với nỗi buồn, ông lại tìm đến thơ, như tìm đến một người tri kỉ, thuỷ chung trọn đời.

“Tiếng mèo kêu xé ngang đêm
Vàng thu lá động trước thềm gọi đông
Chuyện đời bao nỗi đục trong
Câu thơ đáy chén tận cùng buồn vui
Mảnh trăng rụng xuống bên trời
Mùa thu đã chết tuyệt vời trong ta”

               -Đêm cuối thu-

Hay trong bài “Nhà tôi” thì nỗi buồn đó được cụ thể hoá như một bức tranh về cái xã hội mà chúng ta đang sống. Ở giữa đám đông ông tự cô lập mình, để mà cảm, để mà đau với những cái mà người đời đang hả hê, tung hô. Đó là sự cô lập có lương tri của một người nghệ sĩ:

“… Cuộc đời nhí nhố vây quanh
Nửa quê kệch, nửa thị thành đan nhau
Khi buồn ngắm chiếc thuyền câu
Khi vui lại ngắm nhà cao nắng đầy

Cuộc đời dở tỉnh dở say
nửa kia điện sáng nửa này sương dăng,
Bia trào bọt phía cao tầng
Bờ hồ con đĩ tụt quần nằm chơi.

Cuộc đời dở chuột dở dơi
Nửa bóng tối, nửa mặt trời nhá nhem
Hai tờ sách mở hai bên
Tôi nằm ở giữa khâu bền sợi đau”

                                -Nhà tôi-

Trong lúc trò chuyện, tôi bảo ông kể về những thăng trầm trong cuộc đời, bởi tôi muốn có những chi tiết để làm nên thân phận của một nhà thơ như ông, cho bài viết của mình. Ông chỉ lặng yên, nhìn ra ngoài khung cửa. Bỗng ông quay lại nhìn tôi, rồi lại rủ rỉ kể những câu chuyện về quê hương, về tuổi thơ của ông. Trong câu chuyện đó tôi nhìn thấy ánh mắt ông sáng lên, giọng nói của ông linh hoạt hẳn lên, chốc chốc lại nở một nụ cười. Và cứ như thế ông say sưa kể lại những kí ức của sáu, bảy chục năm về trước. Tôi chợt hiểu ra rằng khi con người ta đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời thì mọi kí ức đều có thể trở thành vô giá nhưng cũng có thể trở thành vô thường. Khi đứng trước cái ranh giới đó thì ta phải biết cân bằng chính mình. Kể từ phút đó tôi không hỏi thêm gì nữa mà chỉ ngồi nghe ông kể lại những chuyện gì mà ông ghi nhớ, muốn chia sẻ với người khác.     Ông bảo, quê hương chính là thượng nguồn của mọi cảm xúc trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. Trong câu chuyện, ông đã đưa tôi về với cái làng Hậu Luật, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của ông. Ở cái làng Hậu Luật đó có ngôi đền Bạch Y, có đình Trung, có ngôi mộ cổ rộng cả mẫu đất của cụ Hùng Lễ Bá Võ Phúc Tuy, một danh tướng của Lê Lợi, người dân làng ông vẫn gọi là mộ cụ Hùng, có cánh đồng Lao, có đồi Di Lĩnh, có cổng làng rêu phong, có con đường gạch mà ngày trước cụ nghè đã bái tổ vinh quy. Ông lại kể cho tôi nghe về ngọn núi Hai Vai, con sông Bùng trong xanh với bao truyền thuyết, kể về cây đa, cây muỗm của làng Hậu Luật có hàng mấy trăm năm tuổi. Ông say sưa kể về người bạn nối khổ từ thuở mục đồng có tên là Bá; những đêm theo chúng bạn đi hát đối hát dặm trong làng và ở các làng lân cận. Ông bảo, ông mê mẩn những làn điệu dân ca, những câu hò, vè, ca dao, tục ngữ quê mình. Mê đến nỗi, khi được địa phương cho đi học ngành ngân hàng ở Trung Quốc, ông đã từ chối vì không muốn xa quê hương, không muốn phải rời xa những làn điệu dân ca, hò vè mà ông vẫn nghe, vẫn hát hàng ngày. Ông cười tươi và bảo đó là cái may mắn đầu tiên của ông. Bởi nếu không sau này, ông đã trở thành một cán bộ ngân hàng rồi. Còn điều may mắn thứ hai của ông, đó là sau khi tốt nghiệp trường Đại học Tổng Hợp, ông được nhận về làm việc ở Bộ ngoại giao. Sau khi làm việc ở đó được một năm, cảm thấy công việc không phù hợp với mình nên ông  đã xin chuyển. Có nhiều người bảo ông là gàn là dại. Cũng có thể bây giờ thành một ông to nào đó rồi cũng nên. Nhưng với ông thì đó là may mắn. Những người thân, bạn bè làng Hậu Luật cũng bảo đó là may mắn. Nhờ vậy mà làng Hậu Luật mới có một  nhà thơ Võ Văn Trực.

Chỉ cách đây khoảng 3 năm thôi, năm nào ông cũng về quê ba bốn lần, sau này yếu thì mỗi năm một lần. Cho đến hồi đầu năm nay, khi bị tai biến, ông không còn đủ sức để được về với làng Hậu Luật thân yêu của ông nữa, điều đó làm cho ông buồn và day dứt. Ông kể, cách đây độ sáu, bảy năm, ông mua chục cái quần soóc và chục cái mũ lưỡi chai, để mang về quê tặng mỗi người bạn từ thuở chăn trâu cắt cỏ một bộ. Rồi, họ cùng mặc bộ đồng phục đó để gặp gỡ nhau, đi chơi khắp xóm làng, vui vẻ hồn nhiên như thuở thiếu thời vậy. Chính vì nặng nợ với quê hương như vậy mà hình ảnh quê hương cứ đi vào trong các tác phẩm của ông một cách tự nhiên và mộc mạc. Bạn bè văn chương gọi ông là người có nhiều trang viết về quê hương nhất trong Hội Nhà văn Việt Nam. Rồi sau này, trải qua những năm tháng biến cố của lịch sử, mà đã từng được cho là “đổi mới” “cải cách” của chính quyền, cái làng Hậu Luật của ông đã bị tàn phá nặng nề. Đến mức, sau đó, ông không dám về làng khi trời còn đang sáng, mà phải chờ trời tối mịt mới dám bước chân qua cổng làng. Ông bảo, thời đó, họ dồn hết Thánh, Thần, Phật…tập trung vào một nơi thờ cúng, để còn lấy chỗ làm kho chứa. Ngay cả đến ngôi mộ cổ của cụ Hùng mà dân làng vẫn thờ cúng bao đời nay cũng bị đào lên cùng hàng trăm ngôi mộ của bà con để rồi chôn chung vào một chỗ. Một cảm giác đau xót, ớn lạnh chạy dọc sống lưng khi ta đọc bài Lưu lạc giữa quê nhà của ông:

Một khoảng trời bỗng hoang vắng cô đơn
Khi cây muỗm đầu làng không còn nữa
Lòng tôi cũng bơ vơ cùng tiếng gió
Thổi về đâu mây trắng dạt trời xa

Một mùa đông bỗng xô về hiu hắt
Khi đã tan hoang miếu mạo đình chùa
Đồ tế khí ngả nghiêng thành gỗ nát
Cuốn gia phả tả tơi thành bụi cát
Mấy chục năm lưu lạc giữ quê nhà.

Một làng vui bỗng lạnh tựa tha ma
Khi tiên tổ ông bà không còn mộ
Mồ côi cả đất đai và ngọn cỏ
Lũ chim non khản giọng lạc bài ca
Mấy chục năm lưu lạc giữa quê nhà.

Tôi quỳ sụp cổng làng, đầu cúi xuống
Chắp tay lạy nhưng ngôi mồ tưởng tượng
Nghìn vong linh ám ảnh cả làn da
Trái tim nhỏ tụ về muôn giọt máu
Mấy chục năm lưu lạc giữa quê nhà.

Có gì như đau đớn, có gì như uất nghẹn, có gì như hối tiếc tự thẳm sâu, nhưng tất cả đã quá muộn rồi. Than ôi lũ chim non khản giọng lạc bài ca mất rồi.

Trong cái biến cố khủng khiếp đó, ông cũng phải chịu một nỗi đau là mất mộ mẹ. Sau này, mỗi lần về quê, ông lại đốt một bó hương thật to, rồi cứ lang thang khắp cánh đồng để cắm hương và khấn nguyện mẹ mình trong đau thương và trong nước mắt. Chính từ nỗi đau đó ông làm bài thơ “Tìm mộ mẹ”, một trong những bài thơ hay nhất, đau buồn nhất của ông, khiến cho bất kì người đọc nào cũng có thể bật khóc:

“Mẹ mới khuất mười năm, không còn mộ
Con đi tìm, dẫm nát cỏ đồng quê
Nén hương khấn mười năm không tắt lửa
Mẹ nơi đâu? Xin hãy gọi con về.

Mất mồ mẹ con lang thang tìm kiếm
Như đứa con hoảngày rạc tả tơi
Chiếc thuyền nhỏ lênh đênh trùng song biển
Bến bờ nao con định hướng cuộc đời?

Canh cánh mãi bên lòng đau xé ruột
Giữa chiêm bao giấc ngủ nặng như chì
Mơ thấy một tay ôm vầng cỏ mọc
Mở mắt ra chăn gối ướt đầm đìa

Trên trần thế mười năm con phiêu dạt
Đất nơi đâu cũng thấy mẹ đang chờ
Hài cốt mẹ suốt mười năm lưu lạc
Con đốt trầm lạy bốn hướng vu vơ…”

Có thể nói đó là một bức tranh đen tối của một thời ngu muội. Một thời kì cần phải lãng quên trong thùng rác của lịch sử.

Trong chốc lát, ông im lặng nhìn tôi, rồi lại nhìn quanh căn phòng của mình như muốn kiếm tìm một điều gì đó. Lúc này tôi mới để ý, bên dưới tủ sách đồ sộ của ông, có rất nhiều báo cũ, tài liệu, bản thảo được ông xếp thành hai hàng dài, ngay ngắn trên nền gạch. Những tờ báo cũ, những trang bản thảo bằng giấy pơ luya đã ố màu thời gian vẫn được ông cất giữ nâng niu. Rồi ông đứng dậy, từ từ đi lại cái tủ sách. Tôi định dìu ông lại đó, ông bảo: “Để bác tự đi được”. Ông rút ra mấy quyển sách đem lại tặng tôi. Có thể nói, nhà thơ Võ Văn Trực có một sức lao động rất đáng nể. Kể từ khi nghỉ hưu ông đã sáng tác hàng mấy trăm bài thơ, độ dăm cuốn tiểu thuyết, ngoài ra còn có những cuốn khảo cứu, sưu tầm về văn hoá dân gian. Đọc tác phẩm của Võ Văn Trực, ta có thể thấy được phần nào con người ông, thời đại ông đang sống ở trong đó. Những đau thương mất mát, vui buồn trong đời ông, những ngang trái bất công của xã hội cứ ăm ắp trong tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim người đọc. Sau khi tặng sách cho tôi, ông bảo: “Kể từ khi bác bị ốm. Anh em báo Văn Nghệ đến thăm nhiều lắm. Mọi người chu đáo lắm”. Tôi thầm nghĩ bụng, một con người hiền lành và nhân ái như ông thì làm sao mọi người có thể không nhớ đến được kia chứ. Kể từ lúc nghỉ hưu cho đến cách đây độ hai, ba năm thôi, năm nào ông cũng tổ chức một bữa cơm vào dịp gần tết, rồi gọi tất cả đám thanh niên báo Văn Nghệ đến để liên hoan. Đối với cánh thanh niên của báo Văn Nghệ, ông vừa là một thủ trưởng cũ, vừa như người cha, chú và cũng như một người bạn. Bởi khi còn là Phó tổng biên tập báo Văn Nghệ, ông luôn luôn chan hoà, gần gũi, sẻ chia và nâng đỡ cánh trẻ.

Kể từ ngày nghỉ hưu ông tránh xa mọi cuộc hội hè đoàn thể. Mọi thứ công danh đều trở thành vô nghĩa, chỉ còn lại cái tình tri kỉ với một số bạn bè, với văn chương mà thôi:

Bạn bè tan tác cả rồi
Còn dăm ba đứa ta ngồi với nhau
Lẽ đời thấu hết nông sâu
Chén vui chưa cạn chén đau đã đầy
Một lời tỉnh hai lời say
Nồng nàn bằng hữu chua cay nhân tình
Thôi thì mình tự yêu mình
Vứt cha cái bả công danh mà về
Chính trường càng ngẫm càng ghê
Lưỡi tê vị đắng tay tê chén cầm
Nhìn nhau nước mắt ướt đầm
Giọt vui nâng chén, giọt bầm ruột gan.

                              -Uống rượu với bạn-

Rồi thỉnh thoảng lại thấy ông lóc cóc đạp cái xe đạp mi ni đến thăm một số bạn bè cũ. Khi đã đi gần hết cuộc đời, nhìn lại chặng đường đa qua, nhìn lại những được và mất trong cuộc đời, con người ta mới sực nhận ra rằng cuộc đời này vốn rất giản đơn, nhận diẹn trắng đen cuộc đời bằng cái cười mỉm, nhận diện thế thời bằng nỗi chua cay:

Một cành cây gẫy
Thảng thốt cánh chim

Một luồng gió độc
Bóp chết ngọn đèn

Một tiếng chó sủa
Bóp nát bình yên

                    -Đêm-

Với hàng nghìn trang sách viết về quê hương, viết về người thân ruột thịt, về bạn bè ở cái làng Hậu Luật có lẽ nên gọi ông là Người của làng. Bởi trái tim ông luôn hướng về mảnh đất quê hương, vui buồn vì nó. Ngay cả khi đau yếu này ông vẫn luôn nghĩ về nơi ấy. Và tôi xin được kết thúc bài viết này bằng câu thơ của ông:

“Tình cốt nhục, nghĩa lân bang
Quý hơn gấp triệu lạng vàng cầm tay”
TRẦN VŨ LONG
Nguồn: Văn Nghệ

 ______________________________


Nhà thơ Võ Văn Trực sinh ngày 28/1/1936 tại làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Năm 1958 ông ra Hà Nội học đại học. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông đã xác định theo đuổi con đường văn chương. Dù ông từng được Bộ Ngoại giao nhận về nhưng cuối cùng vẫn xin được chuyển sang làm việc tại một cơ quan văn hoá. Năm 1962, ông về làm biên tập viên tại Nhà xuất bản Thanh niên. Đến năm 1977, ông về làm việc tại báo Văn nghệ cho đến lúc nghỉ hưu.

Cầm bút từ những năm sáu mươi, ông viết nhiều thể loại: thơ, văn, bút ký và biên khảo. Võ Văn Trực là tác giả nhiều tập thơ trong đó có Trăng phù sa, được giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội năm 1983. Ngoài thơ, bạn đọc còn biết đến Võ Văn Trực với những tác phẩm viết về quê hương, như tập bút ký Truyền thuyết núi hai vai, hay cuốn tiểu thuyết Chuyện làng ngày ấy viết năm 1990, được nhà xuất bản Lao động tái bản tại Hà Nội năm 2005, đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Một số tác phẩm chính: Chú liên lạc đội Xích vệ (1972), Trận địa quê hương (1972), Người anh hùng đất Hoan Châu (1976), Ngày hội của rạng đông (1978), Hành khúc mùa xuân (1980), Trăng phù sa (1983), Tiếng ru đồng nội (1990), Hương trong vườn bão (1995)

Ông cũng đã được trao nhiều giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam và các Hội văn nghệ, các cuộc thi sáng tác: Giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội năm 1983 với tập thơ Trăng phù sa; Giải thưởng Bộ Giao thông Vận tải 1987 với tập bút ký Đèo lửa đèo trăng…

Trước khi nghỉ hưu, nhà thơ Võ Văn Trực là Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ. Có thể gọi nhà thơ Võ Văn Trực là người điển hình cho tính cách người xứ Nghệ: hiền lành, thủng thẳng nhưng gàn và cục tính. Ông cương trực như chính cái tên cha mẹ đặt cho mình, luôn thẳng thắn và quyết liệt đấu tranh với những thói rởm đời dù ông hoàn toàn nhận thức được rằng, sự đấu tranh đó không phải lúc nào cũng mang lại cho ông những điều may mắn.

Về nghỉ hưu, nhưng nhà thơ Võ Văn Trực vẫn không rời trang viết. Ông viết về quê hương, về những chiêm nghiệm của cuộc đời. Song tuổi già, sau lần tai biến cứ dần nuốt chửng trí nhớ và sức lực của ông. Ông không nhớ gì nhiều, khoảng ký ức đậm nét nhất là hình bóng quê nhà, ở làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ở đó có con sông, bến đò quê hương, có cả một tuổi thơ ngập tràn trong tiếng đùa nghịch của ông và chúng bạn thời thơ ấu...

Nhà thơ Võ Văn Trực từ trần hồi 2h42 phút sáng thứ sáu ngày 5/4/2019, thọ 84 tuổi.

Tang lễ nhà thơ được tổ chức từ 9h15 đến 11h ngày thứ ba, mồng 9 tháng 4 năm 2019, tức ngày mồng 5 tháng 4 năm Kỷ Hợi tại Nhà tang lễ Bệnh viện Thanh Nhàn quận Hai bà Trưng, Hà Nội.


CẢM THỨC CÔ ĐƠN TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ

Thành công trên nhiều lĩnh vực song với Lưu Quang Vũ thơ ca là nguồn sống bất tận, là cứu cánh, “là mây trắng” của cuộc đời ông. Từ tập thơ đầu tiên Hương cây - Bếp lửa (in chung với Bằng Việt) xuất bản lúc sinh thời cho đến tập Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993) được công bố sau khi mất, Lưu Quang Vũ đã khẳng định được “cá tính thơ độc đáo trong dòng thơ Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỉ XX”([1]). Không thể phủ nhận sự đa dạng của cảm hứng thơ Lưu Quang Vũ trong suốt hành trình sáng tạo nhưng đúng như Lưu Khánh Thơ đã nhận định: “Bản năng thi sĩ của ông giàu có trong những nỗi buồn, cô đơn, tuyệt vọng. Những khoảnh khắc bị dồn đẩy đến cùng, thơ ông luôn tung bứt lên để đối mặt với chính cảnh ngộ của mình”([2]). Đã có lúc cái tôi cô đơn Lưu Quang Vũ tưởng chừng lạc nhịp và càng lẻ bóng hơn trong âm hưởng thi ca hào sảng của dân tộc đang cần tiếng nói chung hòa cùng dòng chảy thời đại; song sau tất cả định kiến, tiếng thơ cô đơn chất chứa những dằn vặt, đớn đau cùng cực ấy đã được công chúng yêu thơ đón nhận như là lẽ tự nhiên, thậm chí góp phần định dạng phong cách độc đáo của một hồn thơ tài hoa, tinh tế, đa đoan, đầy hoài nghi nhưng rất đỗi nhân văn.
Nhà thơ Lưu Quang Vũ

Cuốn sách xếp lầm trang là một trong một số tập thơ đã được Lưu Quang Vũ đặt tên và sắp xếp hoàn chỉnh nhưng chưa xuất bản. Hơn hai mươi bài thơ viết trong quãng thời gian 1971-1972 cho thấy cảm thức cô đơn vừa như là một bản năng nghệ sĩ, vừa như là chọn lựa của một cá tính ý thức rất rõ về sự “lệch nhịp” giữa cuộc đời. Khái niệm cô đơn ở đây cần được nhìn nhận như một phạm trù triết – mĩ. Có thể thấy cô đơn thuộc về vô thức, tồn tại như một bản năng của con người nhưng lại có liên quan sâu xa đến nhận thức. Khi nhận thức được cuộc sống là hữu hạn, vũ trụ là mênh mông, vô thường, đối diệnvới cái chết là lẽ đương nhiên không thể cưỡng lại được nên con người rơi vào nỗi cô đơn bản thể. Vì vậy, bi kịch nảy sinh từ chỗ con người có khả năng tự ý thức, vừa sống vừa chiêm nghiệm cuộc đời, khao khát chiếm lĩnh, làm chủ thế giới nhưng lại không thể làm chủ vận mệnh của chính mình. Ở góc độ xã hội học, cô đơn lại thuộc phạm trù nhận thức. Khi bị đẩy ra bên lề hoặc cảm thấy không thể hòa nhập vào khối “tổng hòa” của các mối quan hệ xã hội, con người trở nên lẻ loi, xa lạ với xung quanh. Nếu nỗi cô đơn bản thể là cơ chế “tự cô đơn” thì sự cô đơn có ý thức từ con người lại là kiểu “bị cô đơn”. Lúc này con người chọn cô đơn, nghĩa là tự tách mình khỏi đám đông để bảo toàn tín niệm riêng, để mình được là mình. Như vậy, với Lưu Quang Vũ, cảm quan cô đơn trong thơ (đặc biệt là những bài trong tập thơ Cuốn sách xếp lầm trang) vừa mang ý nghĩa bản thể, vừa là sự lựa chọn tách biệt khỏi dàn đồng ca sử thi lúc bấy giờ để cuộn mình trong những suy tư, trăn trở về hiện thực cuộc sống theo góc nhìn cá nhân: buồn đau, bi quan bởi cảnh tao loạn của đất nước; lạc lõng, yếu đuối trong triền miên ngổn ngang thế sự cuộc đời; thổn thức, phấp phỏng buồn lo từ trái tim giàu xúc cảm, đa đoan…

Nỗi ám ảnh kinh hoàng “khi mặt đất mênh mông đầy biến loạn”

Tập thơ được Lưu Quang Vũ viết trong những năm cuộc chiến tranh chống Mỹ diễn ra khốc liệt nhất. Đã có quá nhiều nỗi đau được gọi tên từ những khắc nghiệt của chiến tranh! Nhưng với Lưu Quang Vũ nỗi đau đó được chuyển hóa thành một dạng thức khác, làm cho con người tê liệt hết mọi cảm giác, đặc quánh cô đơn và dằng dặc những hoài nghi: Tôi lớn lên giữa thời bạo ngược/ Biết trông đợi gì biết tin tưởng vào đâu (Cầu nguyện). Đúng là không còn “biết trông đợi gì” và không còn “biết tin tưởng vào đâu” khi một đất nước bé nhỏ phải hứng chịunhững cuộc chiến ác liệt và không hề cân sức với các cường quốc bạo tàn. Lưu Quang Vũ đã cảm nhận nỗi đau của thân phận một dân tộc từ nỗi đau thân phận đời người cùng những trải nghiệm, nếm trải nghiệt ngã, đau đớn. Đối với ông tất cả phía trước là bầu trời hoang lạnh đầy những tai ương khủng khiếp và tiếng người “không át được tiếng bom gầm”. Cảm giác bất lực đến tuyệt vọng tắt nghẹn trong ông khi: Muốn kêu lên mà không sao kêu được/ những chiếc xe tăng đi qua/ những khẩu súng đi qua/ những người lính đi qua/ chẳng có chút mặt trời nào trong nước lạnh (Mặt trời trong nước lạnh).

Dằng dặc chết chóc, dằng dặc đau thương… đã đẩy con người đến tận cùng tuyệt vọng và để rồi cảm giác mất phương hướng, lạc lõng thấm sâu vào những lời thơ “chẳng có chút mặt trời”. Làm sao đây giữa cuộc chiến tàn ác? Làm gì đây với những “tháng ngày vỡ nát nối nhau trôi”. Nỗi đau, nỗi mất mát này với Lưu Quang Vũ là quá sức chịu đựng.

     Bài hát cũ nghẹn không thành tiếng được
     Cô danh ca nghe nói giờ đã chết
     Và bức tranh màu trắng đã phai sơn
     Anh đã đi dằng dặc những ngả đường
     Những rừng tối mịt mù muỗi độc
     Cuộc chiến tranh tàn ác
     Xô tháng ngày vỡ nát nối nhau trôi
                      (Quán cà phê ngoại ô)

Và rồi càng chứng kiến, càng cảm nhận những mất mát của dân tộc, của số phận mỗi con người… ông càng thu lòng mình lại để rồi trong khổ đau tuyệt vọng, đáng lí ra phải khóc để nguôi ngoai nhà thơ lại “ôm mặt cười lặng lẽ”. Có cái gì đó không bình thường, thậm chí có thể là trạng thái điên loạn trong cái “cười lặng lẽ” đắng cay này.

Nhưng trạng thái đau đớn đến tận cùng, đỉnh điểm là khi tâm hồn nghệ sĩ Lưu Quang Vũ nhận ra rằng không chỉ những thứ vật chất hiện hữu thấy được, sờ được tan hoang hết trong khói lửa chiến chinh mà cả hội họa, thơ ca, âm nhạc cũng chẳng còn tồn tại được giữa thời tao loạn: cơ sự làm sao đến nỗi này/ mông lung không đoán được ngày mai/ máu chảy thành sông, thây chất núi/ bạn bè tan hoang, mình rã rời/ thơ Khánh buồn như lòng đất nước/ thơ hay đời loạn chẳng đâu dùng/ vườn cũ cây tàn chim chết cả/ người chơi đàn nguyệt có còn không (Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn). Mọi giá trị văn hóa tinh thần “thiêng liêng thành nhảm nhí” trong khốc liệt “trụi trần vạn khổ đau” mà dân tộc Việt đang gánh chịu. Thực tế tàn nhẫn này không thể thay đổi, không thể chối bỏ nhưng đối với trái tim đa cảm yêu thương, trân trọng cái đẹp như Lưu Quang Vũ quả là quá đỗi xót xa. Để có thể lưu giữ những giá trị tinh thần cao quý này phải chăng không còn sự lựa chọn nào khác hơn ngoài sự thu lòng lại, gom nhốt hết tất cả những gì tốt đẹp nhất tận đáy sâu tâm khảm. Lưu Quang Vũ đã làm vậy và cũng đã rất đơn độc trên hành trình kiếm tìm, thu giữ những vẻ đẹp đã tàn phai trong lửa đạn mịt mù này. Cảm giác chỉ có một mình, vừa cô quạnh, vừa bất lực đã làm cho tiếng thơ ông da diết cháy lòng:

Bài thơ không đề
Chép trên giấy bản
Em cần gì giếng lạnh
Tâm hồn anh cô quạnh dưới lòng sâu
(Không đề II)

Như vậy một khi đã chấp nhận “bị cô đơn” để riêng mình gặm nhấm nỗi đau, để riêng mình hoài vọng, để riêng mình cảm thấy được tồn tại là cảm quan cô đơn có ý thức sâu sắc của một hồn thơ suy tư đầy trách nhiệm với cuộc đời. Chính vì lẽ đó chúng ta hiểu cội nguồn của những đau đớn, cô đơtrong thơ Lưu Quang Vũ vừa như là lời tự sự với chính mình, vừa mang ý nghĩa phổ quát khi con người mơ hồ nhận ra phi lí của cuộc tồn sinh, tri nhận “cái không biết” của bản thân và cả của tha nhân. Ông đã hồ nghi tất cả những diễn ngôn thời đại và để tiếng thơ mình lạc điệu bởi sớm nhận ra gương mặt hủy diệt của chiến tranh, thấm thía nỗi đau thân phận.

Ông đã từng ước mọng về một “con đường” có “hoa tầm xuân”, về một “dòng sông cũ cánh buồm giăng trắng xóa” (Hoa tầm xuân). Đáng tiếc ước vọng đó trước mắt quá mịt mù không ánh sáng, “cạn khôi trong cỏ dại u buồn” nên Lưu Quang Vũ rơi vào trạng thái tuyệt vọng với “những khổ đau dằng dặc” và cô độc chơi vơi bởi mất điểm tựa tinh thần. Ông đã phải chua chát nhận ra rằng “Quen thất vọng tôi hồ nghi mọi chuyện” (Lá thu).

Như vậy, khi ý thức đầy đủ nhất về thân phận con người, đồng nghĩa với ý thức sâu sắc về thân phận một dân tộc Lưu Quang Vũ rơi vào cảm quan cô đơn là điều không thể tránh khỏi. Giữa bao thất vọng hoài nghi, bao tan hoang đổ nát tiếng thơ ông dẫu lạc nhịp với “dàn đồng ca” thời đại song vẫn chất chứa tinh thần nhân văn sâu sắc; bởi thẳm sâu trong trái tim rỉ máu, Lưu Quang Vũ vẫn cố nuôi dưỡng niềm tin ở phía tương lai “bên kia sông nhiều bướm nhiều hoa/ rồi cha con ta sẽ tìm được con đò sang đó” (Nói với con cuối năm).

Tâm thức hiện sinh từ thẳm sâu vô thức, từ bất tận đổ vỡ và bi kịch riêng tư

Chủ nghĩa hiện sinh đề cập đến “sự bi đát về tội lỗi của con người trong thời đại mất Chúa” và mô tả cuộc sống con người như nó đang tồn tại. Kierkegaardcho rằng mỗi con người là hiện sinh độc đáo, cũng là những con người huyền bí, vì mỗi con người là một vũ trụ đóng kín không ai hiểu nỗi và không thể phát lộ nội tâm phức tạp ấy với bất kỳ ai. Do đó, con người phải tự mình chịu trách nhiệm trước thân phận của mình, từ đó luôn luôn lựa chọn để tự do. Tuy nhiên sự lựa chọn này không hề dễ dàng và vì ý thức bản thể khép kín, cô độc ấy sẽ làm cho con người dằn vặt, luôn luôn âu lo.

Lưu Quang Vũ, khi tách mình ra khỏi dòng chung, dường như đã “lạc” vào địa hạt của chủ nghĩa hiện sinh. Ông luôn truy tìm bản thể, ngẫm suy thân phận người. Mình là mình hay mình là một ai khác mình. Trạng thái lưu đày tâm tưởng này luôn dằng đặc trong thơ Vũ: “Ta là ai/ ta đến làm gì?.../ ta đến làm gì ta sẽ đi tới đâu?/Anh là gì của em/ con người là gì đối với nhau” (Bài hát trong một cuốn phim cũ); “Hắn không phải là tấm hình đẹp trong sách/ hắn chỉ là dãy phố nghèo lấm đất/ không giấu che sự thật của lòng mình/ chỉ là bờ đê nhiều khói và than/là con thuyền/ luôn luôn kiếm tìm, luôn luôn từ bỏ”(Người con trai đến phòng em chiều thu); Chúng ta rất dễ nhận thấy ở các bài thơ trong tập Cuốn sách xếp lầm trang được viết như là sự giãi bày, như là lời tự sự từ một kiếp người nếm trải hết mọi đắng cay. Nhu cầu được bộc lộ cái tôi ẩn ức lúc này mãnh liệt hơn bao giờ hết. Có lẽ vì thế giọng điệu ở tập thơ này không mượt mà, không êm đềm mà đầy khắc khoải, xáo trộn. Lưu Quang Vũ dường như không thể nào lí giải, cắt nghĩa được hết mọi niềm đau, trái ngang ở cuộc đời xuất phát từ đâu? vì ai?

Tôi đọc hoài không thể đoán ra
nghĩa lý sao, tại đâu lại thế
do ông thợ in cẩu thả
hay anh đóng sách điên rồ
...
tất cả rối bời
là do người ta lẫm lẫn
(Cuốn sách xếp lầm trang)

Thật ra khi ý thức được sự tồn tại như là một chủ thể độc lập của cái tôi, con người dễ rơi vào cảm thức tự khẳng định mình và chối bỏ hết mọi thứ xung quanh mà bản thân khó có thể nào chấp nhận. Để bảo toàn ý niệm cá nhân con người ta thường tìm đến sự cô đơn như là sự giải thoát chính mình khỏi những bất hạnh, khổ đau từ nghịch cảnh. Như vậy cảm quan cô đơn tồn tại trong thơ Lưu Quang Vũ không chỉ bắt nguồn từ thực tại cuộc sống “rối bời” mà còn là ý thức mãnh liệt về sự lưu giữ duy nhất của cái tôi vô thức lẻ loi. Vì thế rất dễ nhận thấy trong thơ ông là tiếng nói “lẻ loi”, “cơn mơ thảng thốt”, là “bóng tối”, “phố đêm lưu lạc”, thậm chí có cả “gió độc” và “mặt trời trong nước lạnh”... Những hình ảnh này gợi dẫn chúng ta về sự đơn độc, về ẩn ức của cái tôi vô thức luôn dằn vặt với những ngột ngạt, bế tắc quanh mình. Lưu Quang Vũ chẳng phải đã thú nhận rằng: Sao tôi lại muốn em tin/ khi chính tôi cũng chẳng tin ai cả/ tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ/ thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào/ bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao(Mấy đoạn thơ...). “Lẻ loi”, “hồ nghi”, “chẳng tin ai”... là biểu hiện về ý thức phản tư rõ rệt. Điều này cũng cho thấy cái tôi cô đơn Lưu Quang Vũ hiện hữu ngay cả trong yêu thương và từ những tháng năm hồn nhiên nhất của cuộc đời. Ông luôn cảm thấy lẻ loi, mất điểm tựa với tất cả mọi thứ quanh mình để rồi tháng ngày trôi qua bên ông luôn đằng đẵng “nỗi cô đơn hoàn toàn nỗi cô đơn khủng khiếp”, cả “trước và sau trong và ngoài cuộc đời và trang sách…” (Mấy đoạn thơ).

Hơn nữa, trong thơ Vũ dường như khi nào cũng có một con người khác nấp bóng sau con người hiện diện. Con người ẩn tàng này lại luôn tri nhận về sự lạc lõng của thân phận kiếp người: “Có những lúc tâm hồn tôi rách nát/ như một chiếc lá khô như một chồng gạch vụn/ một tấm gương chẳng biết soi gì/ một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì” (Có những lúc). “Chồng gạch vụn”/ “đáy giếng cạn”/ “hốc mắt đen sì” là hình ảnh mang tính biểu tượng ám gợi cõi sâu vô thức của một tâm thức hiện sinh u uất. Trước mắt Lưu Quang Vũ là thăm thẳm bóng tôi buồn đau. Cảm quan cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ càng đẩy đến tận cùng kèm với nhận thức về hiện trạng bi đát của bản thân mình.

Người con giai đến phòng em chiều thu
mặc áo mưa lính rách rưới
hắn buồn và nói huyên thuyên
...
hắn từ mặt trận trở về
từ quán rượu từ phố đông huyên náo
từ những câu thơ tuyệt vọng trở về
bị lừa dối bị lăng nhục
hắn ngồi trước mặt em
(Người con giai đến phòng em chiều thu...)

Cuộc đời riêng với nhiều nỗi đa đoan dồn đẩy ông từ trạng thái rã rời, chán chường đến tuyệt vọng, bế tắc. Còn nếm trải nào mà nhà thơ chưa từng đi qua: “bị lừa dối, bị lăng nhục”, “rách rưới, bơ phờ, cô độc”. Cái đáng lưu ý ở đây là ngay trong những chuỗi ngày triền miên cay cực gian khó ấy Lưu Quang Vũ càng nhận thức sâu sắc được nhiều điều và đặc biệt nhận thức, khám phá được chính bản thân mình: kiên cường, bản lĩnh và tận hiến. Dẫu biết rằng sẽ bị đời hủy hoại thì tôi vẫn là tôi, vẫn phải sống như là chính mình: Giọt nến trắng chảy ròng như nước mắt/ Soi trang chữ cần phải viết/ Những cây nến của chúng ta/ Tự hủy hoại đời mình (Những ngọn nến). Khát vọng sáng tạo thôi thúc mãnh liệt song hành cùng cái tôi cô đơn bấp chất, nổi loạn. Lưu Quang Vũ như muốn phá tung mọi giới hạn của cuộc đời để được cháy hết mình nhưng thực tại lại quá đỗi ê chề: Em sập cửa lại rồi/ tôi đã nhận bao cái tát/ của đời của bạn thân/ Em sập cửa lại rồi/ tôi còn gì mà đau khổ nữa/ …tôi còn gì mà đau khổ nữa em? (Mấy đoạn thơ). Câu hỏi cho đời, cho người và cho mình sao mà day dứt quá!

Không còn hướng thoát nhà thơ chấp nhận lẻ loi để “đi tìm thế giới của riêng em/ Tình yêu và nỗi khổ của riêng em/ Niềm tin lớn giữa cuộc đời vô lý” (Lá thu). Cõi sâu vô thức u ẩn của một tâm thức hiện sinh phát lộ trong những hình ảnh “một đáy giếng cạn”, “một hốc mắt đen sì” và “đen ngòm miệng vực”. Khi ám ảnh đau buồn, ẩn ức tâm lý không thể giải tỏa thơ Vũ sẽ kết đọng ở hình ảnh mang dấu hiệu của đổ vỡ, kiệt cùng tuyệt vọng. Những gì còn lại và duy nhất của sự tồn tại cá nhân([3]) lúc này trong vô thức là sự rệu rã, đặc quánh sầu tư. Chính vì vậy có thể nhận ra cảm quan cô đơn trong tuyển thơ Cuốn sách xếp lầm trang của Lưu Quang Vũ mang tâm thức hiện sinh đầy u uất từ thẳm sâu vô thức, từ bất tận đổ vỡ và bi kịch riêng tư.

Vượt thoát tin yêu giữa biển đời dằng dặc cô đơn

Vương Trí Nhàn khi nhận định về những bài thơ viết sau Hương cây: “đã cho thấy một Lưu Quang Vũ khác, Vũ của dằn vặt, đau xót, lầm lỡ, cô đơn, mà cũng là Vũ của những tha thiết muốn vượt trên hết mọi mệt mỏi, hoài nghi để sống, để tồn tại. Hai chặng khác nhau nhưng đều là của một con người thống nhất”([4]). Quả thật vậy! Luôn có sự hiện hữu hai chủ thể đối lập nhau trong con người thơ Lưu Quang Vũ. Vì lẽ này mà trong triền miên u buồn ông đã phần nào cảm thấy bớt đơn độc, tìm được chính mình ở vô vàn cuộc đời khác, ở tất cả những ai can dự đến mình. Đó là em, là anh, là đứa trẻ, là tôi xấu xí mù lòa, là “những người con gái con trai im lặng/ mắt mở to trong nắng thẳm mong chờ” (Lá thu). Họ có thể là chính họ, cũng có thể là hóa thân của chính cái tôi bản thể Lưu Quang Vũ mà ông cảm nhận được từ trải nghiệm cuộc đời. Nếu là em thì “giọng em sáng như một chùm hoa nắng” (Hoa Tầm xuân); nếu là đứa trẻ thì “những tuổi thơ không có tuổi thơ” (Những tuổi thơ); nếu là tôi thì dẫu “xấu xí mù lòa” vẫn “luôn luôn kiếm tìm, luôn luôn từ bỏ” (Người con giai đến phòng em chiều thu). Và từ các kết nối có thể là những cuộc đời thật, cũng có thể là sự phân thân cái tôi này đã cho Lưu Quang Vũ đa dạng hơn trong cảm thức, trong ý niệm về cuộc sống và nhận ra bên cạnh khổ đau vẫn cần phải dung dưỡng tin yêu. Thật vậy, tình yêu diệu kỳ đã là cứu cánh để Lưu Quang Vũ có lí do tồn tại, nhen nhóm ngọn lửa khát vọng dẫu thực tại tan vỡ, chua chát đến cỡ nào: Mai em đi. Mùa hạ cũng qua rồi/ tôi ở lại một mình trên phố vắng/ hoa cúc rối chiều xuân nào tôi đến/ chẳng gặp em, chỉ màu hoa vàng rực/ đêm nay về để đốt lửa giữa hồn tôi/ (...)/ Tôi muốn đi tới đích cùng em/ Tôi phải đi tới đích cùng em/ lòng tôi như buổi sớm vẫn nguyên lành (Lá thu).

Dẫu tận sâu trong tiềm thức có cất lên những tiếng nói khác, dẫu con người cô đơn đầy ý thức nhiều khi thấy trống rỗng và buồn nản, song ngọn gió tâm hồn thơ Lưu Quang Vũ, ngọn gió của những yêu thương sẽ không khi nào ngừng dào dạt. Bởi nếu không sống với tình yêu, với đam mê đam mê sáng tạo, Lưu Quang Vũ sẽ không còn là ông nữa. Và khi đó, sự tồn tại yên phận chỉ là tồn tại vô nghĩa.

Sóng khổ đau đã tạc hình em
Anh yêu ngọn lửa đó
Bài hát trong một cuốn phim cũ
Như những con đom đóm
Thức dậy giữa đêm dài.
(Bài hát trong một cuốn phim cũ)

Rõ ràng Lưu Quang Vũ đã vượt thoát được chính nỗi cô đơn, niềm đau vây chặt quanh mình. Ông đã biết bám víu tin yêu ngay cả trong khoảnh khắc tột cùng đau khổ. Điều này tạo nên ngọn lửa lòng sưởi ấm cho chính ông. “Những con đom đóm” trong thơ Vũ vừa mang tính biểu tượng của ánh sáng giữa mịt mùng bóng tối, vừa là biểu tượng của khát vọng muốn tìm hướng thoát khỏi vây bủa của cuộc đời. “Những con đom đóm” xuất hiện trong tường liên tưởng đối lập với bóng tối, bé nhỏ nhưng sinh động, tỏa sáng bền bỉ. Chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa của biểu tượng con đom đóm trong hệ thống tương quan, kết nối với các yếu tố khác([5]) là “sóng khổ đau”, “bài hát buồn”, đặc biệt là giữa “đêm dài”. Có thể vì thế “những con đom đóm” cũng niềm tin còn lại trong trái tim đầy vết xước của Lưu Quang Vũ.

Như vậy, những biểu hiện của cảm quan cô đơn trong tập thơ Cuốn sách xếp lầm trang cho thấy một Lưu Quang Vũ – nghệ sĩ, một Lưu Quang Vũ đa diện, một Lưu Quang Vũ hóa thân thấu cảm với bao thân phận cuộc đời. Và cho dù ở tư cách nào thì hiện hữu trong thơ ông đều đằng dặc cô hơn lẫn hoài nghi về cuộc đời, về sự tồn tại của con người. Cô đơn là cách ông lựa chọn để được tự do trải lòng, để tìm đường hướng cho sự tồn tại của chính mình. Vì thế cảm quan cô đơn trở thành cá tính sáng tạo độc đáo khác biệt của Lưu Quang Vũ so với nhiều dòng thơ khác trong giai đoạn mà văn học sử thi là cảm hứng chủ đạo. Chọn cô đơn để được là mình, để thỏa sức sáng tạo và tận hiến là lựa chọn mà lí trí lẫn trái tim đầy trắc ẩn của Lưu Quang Vũ không thể kiểm soát được hoặc không muốn kiểm soát. Để sẻ chia, để có thể sống và duy trì niềm tin, tiếng thơ ông đã chọn hướng rẽ lắng sâu trong nỗi đau riêng chung, khóc cho thân phận mình và thân phận dân tộc. Dẫu vậy thì niềm tin yêu, khao khát yêu thương, cống hiến vẫn tiềm ẩn trong ông như mạch nước ngầm, dù có bị đất đá chèn lấm vẫn âm ỉ chảy, tưới mát phần nào trái tim khô cằn bởi cuộc đời nhiều đắng cay, đầy nỗi đa đoan. Điều này cho thấy cảm thức cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ cũng tồn tại ở bề sâu của nó những vẻ đẹp của một trái tim tràn đầy tình yêu và khát vọng sống. Nếu cô đơn bởi chứng kiến, nếm trải quá nhiều khắc nghiệt của chiến tranh là tiếng lòng của một cá nhân đầy suy tư, trăn trở cho vận mệnh dân tộc thì nỗi cô đơn giày xé khi bản thân con người luôn đa đoan, chới với, hoài nghi lại cho thấy một Lưu Quang Vũ đầy ẩn ức, đắm đuối, chân thành với những cung bậc cảm xúc hết sức nhân bản. Vì lẽ đó mà cái cô đơn trong thơ Lưu Quang Vũ đã có một khả năng lôi cuốn và truyền cảm mạnh mẽ. Đôi lúc, hòa cảm với tiếng lòng nhà thơ, để cho nỗi cô đơn xâm chiếm, chế ngự, cũng là lúc tâm hồn người lặng dịu hơn giữa bộn bề cuộc sống, đối diện với chính mình, hiểu và thêm trân trọng bản thân cùng những gì mình đang có.

Và cuối cùng vượt qua mọi khổ đau Lưu Quang Vũ đã tự nói với mình và tất cả chúng ta rằng: Nước lũ qua sẽ còn lại phù sa/Những tình yêu những ước vọng thiết tha/ Dẫu bay đi không một lời đáp lại/ Dẫu trơ trọi trong lạnh lùng bóng tối/ Dẫu đường dài xa ngái/ Đừng phút nào mệt mỏi, thơ ta ơi (Nói với mình và các bạn). Cũng chính vì vậy mà ông tồn tại, thơ ông tồn tại!

TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG K
HOA KHXH&NV - ĐH DUY TÂN, ĐÀ NẴNG

________________

[1] Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm, (Lý Hoài Thu - Lưu Khánh Thơ tuyển chọn và giới thiệu), Nxb. Giáo dục, H., 2007, tr.25.

[2] Lưu Khánh Thơ: “Lời giới thiệu”, trong Lưu Quang Vũ: Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (tuyển thơ), Nhã Nam & Nxb. Hội Nhà văn, H., 2010, tr.7.

[3] Trần Đình Sử trong bài “Buồn như là phạm trù hiện sinh” (trandinhsu.wordpress.com/2016/11/10/cai-buon-nhu-la-pham-tru-hien-sinh) đã khẳng định chủ nghĩa hiện sinh coi sự tồn tại của con người là một hiện sinh. Sự tồn tại của con người là một nhiệm vụ mà con người phải tự giải quyết, tự thực hiện việc làm ra chính mình mà không phải dựa vào một cái gì bên ngoài mình. Trong trạng thái đó có mấy đặc điểm sau: 1. Sự tồn tại có trước bản chất, tồn tại chỉ là trong khả năng mà con người có thể tự do lựa chọn; 2. Tồn tại của người tức là tồn tại của “tôi”. Tức là tồn tại duy nhất, không ai thay được của những con người cá nhân, cá thể. 3. Sự tồn tại ấy chỉ được nhận ra không phải bằng lí tính hay bằng khoa học, không phải bằng khái niệm, mà chỉ bằng trạng thái phi li tính của con người. Đó là những thể nghiệm nội tâm, những đau khổ, dằn vặt, những nối buồn, lo, đắm chìm, kinh hãi trước cuộc tồn tại.

[4] Vương Trí Nhàn: “Lời bạt”, trong Lưu Quang Vũ: Bầy ong trong đêm sâu, Nxb. Hội Nhà văn, H., 1993, tr.119.

[5] Trịnh Bá Đĩnh cho rằng: Trong tác phẩm văn học, biểu tượng nằm trong hệ thống tương quan với các yếu tố khác, là một thành phần của cấu trúc hình tượng tác phẩm… Khi đặt biểu tượng vào một ngữ cảnh cụ thể nhờ những đối sánh tương quan, sẽ xuất hiện những ý nghĩa bổ sung (xem thêm Trịnh Bá Đĩnh: Từ ký hiệu đến biểu tượng, Nxb. Đại học Quốc gia, H., 2017, tr.35).


BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...