Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018

BÙI CHÍ VINH GHÉT THÓI LĂNG MẠ VÀ ĐỐ KỴ TRONG VĂN CHƯƠNG

Bùi Chí Vinh và Phan Hoàng là hai nhà thơ có phong cách sống và viết khác biệt, nhưng họ lại là bạn “trà dư tửu hậu” của nhau dù tuổi đời cách hơn một con giáp. Như một sự giải toả bức xúc của Bùi Chí Vinh trước những cái “loạn” của đời sống văn học, Phan Hoàng đã “khơi mạch” cho anh về nhiều vấn đề gai góc trên VietNamNet.
Bùi Chí Vinh và Phan Hoàng trò chuyện với nhau - Hí hoạ của Hs Cận

Nguỵ quân tử trong văn chương có thể đầu độc cả một thế hệ

Nói đến Bùi Chí Vinh trước hết là nói đến một thi sĩ, một thi sĩ bẩm sinh. Tuy nhiên, trong khi đã có đến hàng trăm tập văn xuôi và kịch bản phim của Bùi Chí Vinh ra mắt thì đến nay anh chỉ mới in hai tập thơ riêng là Thơ tình và Thơ đời. Anh đang rụch rịch muốn cho ra đời Thơ đạo, Thơ bóng đá,… Nghĩa là tài-sản-thơ chưa chính thức công bố của anh còn “giàu sụ”!

Dù có nhiều tranh luận khác nhau, nhưng theo tôi, Bùi Chí Vinh thực sự là một hiện tượng độc đáo của nền thi ca Việt Nam cuối thế kỷ XX và sức sáng tạo của anh còn vắt sang thế kỷ XXI. Thơ cũng giống như cuộc đời thật của Bùi Chí Vinh, mạnh mẽ, ngang tàng, phóng túng, bụi bặm và cũng đầy những trắc ẩn về thân phận con người, về xã hội, về đất nước. Một phong cách thơ riêng biệt. Một quái kiệt giữa đời thường.

Khi tôi còn ngồi trên giảng đường đại học, nhiều bạn sinh viên đã truyền tay nhau tập Thơ tình Bùi Chí Vinh, với một giọng điệu rất lạ. Tôi nhớ hoài bài thơ lục bát bốn câu Đọc truyện liêu trai nửa đêm ngộ nghĩnh của anh:

“Phải là ma cái thì lên
Còn là ma đực vô duyên thì chuồn
Phải là ma cái anh thương
Còn là ma đực khôn hồn cút ngay”

Nhiều bạn trẻ khác thì thích và đọc sang sảng bài Thiếu nữ mỗi khi có dịp vào phòng con gái để nghịch và “tán tỉnh”:

“Cô gái ơi, anh nhớ em
Như con nít nhớ cà-rem vậy mà
Như con dế trống đi xa
Một hôm nhớ đến quê nhà gáy chơi
Con dế thì gáy một hơi
Còn anh gáy hết một thời con trai”

Sau này trở thành đồng nghiệp của nhà thơ Bùi Chí Vinh và có dịp đọc thơ anh nhiều hơn, đi chơi từ Nam đến Bắc và trò chuyện cùng anh, tôi thấy ở anh còn tồn tại một con người khác với người-thơ ngang tàng, tài tử của mình. Đó là một con người nhân hậu, hết lòng với vợ con và đồng nghiệp bạn bè. Năm 1995, tập thơ đầu tay Tượng tình của tôi ra mắt, anh đã “động bút” viết một bài giới thiệu trên báo Thanh Niên rất trân trọng. Đây là một trong những bài hiếm hoi “tán dương” thơ người khác của Bùi Chí Vinh. Rồi sau này trong một sáng cao hứng bên ly cà phê ở Hội quán PYSA, anh còn viết tặng tôi bài thơ 4 câu:

Gặp Phan là gặp Tượng tình
Gặp Hoàng là gặp bình minh Tuy Hoà
Con cò lặn lội đường xa
Giữ thơm chữ nghĩa mặn mà Phú Yên

Gặp Bùi Chí Vinh là gặp thơ, gặp con-người-thơ. Và bây giờ cũng bên ly cà phê quán cóc ven đường, tôi có cuộc đối thoại thẳng thắn cùng anh trước nhiều vấn đề mà người yêu thơ quan tâm…

Mở đầu câu chuyện với tôi, bậc đàn anh họ Bùi cao hứng vẽ chân dung mình:

- Thời quá độ bồi hồi tôi nói
Tôi năm nay hơn năm mươi tuổi
Từng đi bộ đội từng đạp xích lô
Cao một thước bảy tư, nặng bảy mươi ký lô
Thích hát ca, ghiền bóng đá và mê thơ

Có bao giờ anh chợt nghĩ, nếu không làm thơ thì anh làm…

- Không làm thơ thì làm… người. Làm người có nhiều cách. Nhưng bất kỳ cách thức nghề nghiệp nào cũng bảo đảm được nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và nuôi được vợ con.

Đúng là giọng điệu rất… Bùi Chí Vinh! Trong thơ cũng như đời thường đã không ít lần anh bị “bầm dập”. Giờ ngẫm lại, anh cảm thấy chán ghét điều gì nhất?

- Tôi ghét nhất là bọn cường hào ác bá, tham quan ô lại, bọn đạo đức giả và nguỵ quân tử. Nếu điều đó xảy ra với đồng nghiệp thì lại càng ghê tởm hơn. Ngụy quân tử trong đời thường chỉ làm hại một cơ quan, một tổ chức là cùng, nhưng ngụy quân tử trong văn chương có thể đầu độc cả một thế hệ.

Chắc anh từng đối mặt với nguỵ quân tử trong văn chương?

- Không phải một lần mà nhiều lần, trong đó có người tưởng chừng là bạn rất thân.

Anh xử lý thế nào?

- Cách hay nhất là không giao du với bọn ngụy quân tử.

Giữa văn chương và con người, theo anh có khoảng cách?

- Không. Kinh nghiệm cho thấy một người viết tài hoa thật sự không bao giờ đánh tráo nhân cách của mình để đạt được mục đích.

Và đó cũng là điều tối kỵ trong văn chương?

- Đúng. Điều tối kỵ trong văn chương là sự giả dối, làm theo đơn đặt hàng, vô cảm. Tác giả có thể hoàn tất đơn đặt hàng một cách hoàn hảo bằng kinh nghiệm nghề nghiệp để kiếm tiền và kiếm danh mà không hề có một chút xúc động. Căn bệnh lớn nhất của những người chưa thành kẻ sĩ là thích mọi người chú ý đến mình, dù không biết mình viết gì và nói gì. Một căn bệnh khác cũng nguy hiểm không kém là thích lăng mạ và đố kỵ lẫn nhau ngoài chuyên môn.

Thế hệ dễ bị tổn thương

*Quan niệm của anh về mối quan hệ giữa văn chương và chính trị?

- Trong văn chương tất nhiên phải có thái độ chính trị. Điều đó thể hiện qua nội dung tác phẩm, mà người đọc sẽ nhận ra anh đứng ở đâu, đứng ở phía chính anh hay phía đám đông, phía nhà cầm quyền.

Anh có từng thử làm chính trị?

- Có, từ năm 15 tuổi tôi đã làm chính trị, tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào sinh viên, học sinh yêu nước ở Sài Gòn trước năm 1975. Tôi cũng từng có bí danh, cũng từng mê Che Guevara. Nhưng sau năm 1975, tôi cảm thấy chính trị lỗi thời hơn sự chiến đấu của ngòi bút nhiều.

Đọc thơ Bùi Chí Vinh, có người thích thú, có người chê bai, có người khen hết lời, có người chửi thậm tệ. Dù thế nào Bùi Chí Vinh vẫn là… Bùi Chí Vinh. Đó cũng là bản lĩnh sáng tạo đáng quí. Anh có cảm thấy mình gần gũi với bậc tiền bối nào không?

- (Rít một hơi thuốc dài, anh lại tự “vẽ mình” bằng thơ).

Với trí nhớ của Lê Quý Đôn
Cái đầu đội trời của Cao Bá Quát
Lại thêm Tú Xương chút mùi khinh bạc
Ta đem thân ta đùa giỡn với công hầu

Thật hào sảng! Từ khoảng giữa thập kỷ 1980 về sau này, trên thi đàn TP.HCM xuất hiện một số giọng thơ “nhại” rất giống Bùi Chí Vinh. Anh phản ứng ra sao?

- Mới đầu cảm thấy rất khó chịu do dư luận bạn bè xầm xì. Nhưng xét cho cùng sự làm giống nhau chỉ càng khẳng định thêm phong cách của mình đã ghi dấu trong lòng bạn đọc. Đó cũng là một cái hay. Giống như bản thân tôi đã từng học hỏi tinh hoa của những người đi trước.

Theo anh, thơ Việt Nam hiện nay có trường phái?

- Trong thơ có hai trường phái thơ nhất định. Một là trường phái nghệ thuật tuyệt đối phục vụ cho cá nhân thi sĩ. Hai là trường phái xã hội đặt người sáng tác trong vai trò đại diện đám đông. Hiện nay, ở nước ta hai trường phái ấy thể hiện rất rõ nét trong sáng tác.

Còn thủ lĩnh trường phái thơ?

- Có thủ lĩnh thơ ngầm được sự công nhận ngấm ngầm trong giới văn nghệ, nhưng không được nhà nước khuyến khích như những thủ lĩnh đích thực bởi nhiều lý do khác nhau.

*Một cách chủ quan, anh tin thơ mình sẽ… vượt thời gian?

- Tôi tin. Ngay cả những năm tháng tác phẩm của mình không được công nhận công khai thì tôi đã được biết rất nhiều người trên nhiều địa phương đã truyền miệng nhau một vài bài hay một vài câu thơ của tôi.

Anh tin, nhưng anh có sợ thơ mình sẽ bị phủ nhận hoàn toàn trong vài chục năm nữa?

- Nếu có một sự “đảo chính” hoặc phủ nhận thành quả thơ cá nhân vài chục năm nữa thì đó cũng là qui luật tất nhiên của sự đào thãi, nếu thế hệ sau tìm ra được thần tượng mới của họ.

Nghĩa là hiện tại có thần tượng thơ sao?

- Tôi tin có thần tượng của một thế hệ. Cái đó đôi khi lóe ra trong đầu nhưng để phát biểu thành văn thì là của những người khác, trong đó có công chúng trong những buổi đọc thơ.

*Có người bảo thơ nên vần nên điệu đã sắp “tận số”?

- Điều đó e rằng hơi khó xảy ra đối với một đất nước thừa hưởng mấy ngàn năm văn hiến và một nền văn hóa kế thừa truyền thống nho giáo nặng về hình thức ca dao vần điệu.

Là một trong những nhà thơ trưởng thành sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, anh cảm nhận ra sao về vị trí của thế hệ mình?

- Đây là thế hệ dễ bị tổn thương nhất. Họ không có quá khứ của thời chiến và cũng không tự mình được định hướng trong thời bình. Họ bị chi phối bởi những cây đa cây đề văn nghệ luôn cảm thấy mình có thành tích và luôn bảo thủ. Họ cô đơn vùng vẫy, cố gắng tìm hướng đi mới cho mình trong sáng tác, cho dù đó chỉ là ánh sáng cuối đường hầm. Tôi ủng hộ và chia sẻ tất cả những thành tựu của mình cho hạnh phúc và bi kịch của họ. Tôi muốn đồng hành với họ.

Còn đối với thế hệ những nhà thơ trẻ mới xuất hiện sau này?

- Tuổi trẻ hiện nay đang chịu búa rìu dư luận và nhiều áp lực của cơ chế xã hội. Nhưng tôi tin rằng cây có thể mọc lên từ đá. Nhiều cây bút mới có tài đã xuất hiện. Hãy khoan vội trù dập, mà hãy mở đường cho họ.

Khi bị đẩy đến chân tường, tôi như một lò xo nén…

Anh nuôi sống mình và gia đình hoàn toàn nhờ nhuận bút. Qua trường hợp anh, có cảm giác lao động nghệ thuật hiện nay nuôi sống được nhà văn!

- Không, tôi không nghĩ như vậy. Trường hợp tôi là đặc biệt. Khi bị đẩy đến chân tường, tôi như một lò xo nén, bật ra và biết thu vào bằng ngòi bút sinh kế và sáng tạo của mình.

Trên đây anh đã phát biểu thẳng thắn về cái sự chán ghét của mình. Vậy còn chuyện yêu thương?

- Ngoài đời tôi thích Che Guevara, còn trong văn học tôi thích một nhà thơ chỉ đại diện cho 500.000 dân nhưng tác phẩm lại gây dấu ấn mạnh lên toàn thế giới. Đó là Rasul Gamzatov, người con vĩ đại của dân tộc Dagestan, mà cả nhân loại phải nghiêng mình tiễn đưa ông vào mùa thu năm 2003. Tôi nhớ mãi những câu thơ để đời của ông:

“Nếu bạn gõ cửa nhà tôi, tôi không mở
Mưa đá sấm rền sẽ ập vào nhà tôi
Nếu bạn gõ cửa nhà tôi, tôi mở
Bạn không vào, mưa đá sấm rền sẽ ập xuống đầu bạn”

* Với ngôi nhà riêng anh hình như khó có mưa đá sấm rền, nhất là khi anh may mắn có người vợ xinh đẹp, hiền lành và chịu đựng. Anh lại là người nổi tiếng khéo… nịnh vợ!

- (Ra bộ nghiêm trang) Tôi rất quí trọng vợ, bởi vợ là người đẻ con cho mình, săn sóc mình bằng phương pháp riêng không ai thay thế được. Tôi từng viết:

Khi anh được mọi người tung hô
Em không dám đạp xe ngang tiệm phở
Khi anh đăng quang làm Thành Cát Tư Hãn của nền thi ca thịt mỡ
Em sợ con trai chúng ta kêu vạn tuế bánh mì
Khi anh dùng văn chương làm yến tiệc triều nghi
Em lấy cái lưỡi đong từng lon gạo chạy
Khi anh đổ bia lên đầu những tên thừa tướng, thái sư bằng giấy
Em chắt sữa tươi đi đóng thuế riêng mình

*Chỉ nghe anh đọc thơ thôi, chị Lan vợ anh cũng đủ sướng! Hình như anh có dụng ý khi đặt tên con trai là Bùi Vương?

- Đúng, có hai lý do. Thuở sinh tiền, thi sĩ Bùi Giáng đề nghị đặt tên như thế với ước mơ họ Bùi có một kẻ được làm vua… tưởng tượng! Và cái tên Bùi Vương của con trai nói lên niềm mơ ước của một người cha thất bại trước hoài bão của mình. Như bài Họ Bùi tôi đã viết:

Ta kiếm hoài một gã họ Bùi
Trong lịch sử từng làm hoàng đế
Chỉ thấy họ Đinh, Lê, Trần, Lý
Thay phiên nhau khoác áo long bào
Gượng cười ba tiếng mà lệ rơi
Bùi gia trang tuyệt giống rồi sao?
Không xưng vương thì ắt cường bào
Ta bỏ sử đi tìm kinh sách
Nguyễn Đình Chiểu đui mà thấy hết
Gọi ngay ông Bùi Kiệm đến chào
Hê hê, thuỷ tổ nhà ta lạ
Khinh ngai vàng, mê gái thật sao?
Không xưng vương thì ắt xưng “tao”
Ta bỏ sách đi lung tứ phía
Chùa Long Huê có người mũ tía
Trải chiếu rơm viết một chữ “Bùi”
Ta giả thiền sư đi ngắm nghía
Biết rằng Bùi Giáng ghé am chơi.
Thế thì dòng dõi nhà ta bậy
Tửu sắc đều say đến bốc trời
Không lập đế vì ưng rượu đế
Xưa nay say xỉn kỷ nhân hồi
Không lập chúa vì ưng nữ chúa
Thà lên… Bùi mãi, chẳng lên ngôi!

Nhân tiện nhắc đến thi sĩ Bùi Giáng, anh nhìn nhận ra sao về vị trí của ông trên thi đàn?

- Bùi Giáng có một vị trí rất đặc biệt trong thi ca Việt Nam. Phải nói là vô tiền khoáng hậu. Bởi sự nghiệp thơ Bùi Giáng không nằm trong sáng tác mà nằm trong chính cuộc đời của ông khi giả điên và dấn thân như một đạo sĩ giữa phù du cuộc đời.

Sau khi thi sĩ Bùi Giáng qua đời đã có khá nhiều câu lạc bộ kinh doanh thơ, thư pháp…

- Ăn theo cái chết Bùi Giáng chứ gì! Bọn ấy có thể liệt kê vào thành phần ngụy quân tử, thiếu lương tâm, thiếu nhân cách và vô đạo đức. Bởi sinh tiền Bùi Giáng không hề quan tâm đến họ mà chỉ chơi với trẻ con, chuồn chuồn, châu chấu…

Được biết anh là một trong những thành viên sáng lập Hội Nhà văn TP.HCM, nhưng vì sao cho đến nay anh không vào Hội Nhà văn Việt Nam?

- Cách đây hàng chục năm có vài người trong Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đề nghị tôi gia nhập Hội với sự giới thiệu của họ, nhưng tôi từ chối, vì không muốn biến thành một robot văn nghệ.

Vậy còn đối với Hội Nhà văn TP.HCM?

- Cần phải cải tổ đến tận gốc rễ, bởi nó thiếu tính chuyên nghiệp và không giúp ích được gì cho người sáng tác về vật chất lẫn tinh thần hội viên.

Anh quan niệm thế nào về sự công bằng trong vấn đề thụ hưởng?

- Từ nguyên thủ quốc gia đến người dân đen đều có khinh khoái như nhau. Một anh xích lô ăn dĩa cơm, uống ly trà đá vỉa hè cũng khoái như một tỉ phú ăn uống ở nhà hàng năm sao. Thậm chí anh xích lô còn có cảm giác an bình tự do hơn.

***

Nhà thơ Bùi Chí Vinh hiện là một trong những trường hợp cá biệt của làng văn nghệ, khi không ăn lương ở bất cứ cơ quan nhà nước nào mà vẫn sống bình thản. Anh sống bằng nghề cầm bút thuần túy, nhưng không phải nhờ thơ mà nhờ truyện. Mảng truyện chính là mảng cơm áo gạo tiền, nguồn thu nhập duy nhất của cả gia đình anh. Bùi Chí Vinh là một trong những cây bút rất có duyên với thiếu nhi, đã xuất bản hơn 70 tập truyện Năm Sài GònSài Gòn tứ kiệtHải đại bàng và phóng tác 70 tập truyện thiếu nhi Tứ quái TKKG,… Ngoài ra, anh còn xuất bản nhiều tập tiểu thuyết và kịch bản phim, đặc biệt là serie phim ma hợp tác với hãng phim của Nguyễn Chánh Tín. Một thành quả đáng nể của một con người ham chơi nhưng cũng hết sức cần mẫn trong lao động nghệ thuật, một con người đầy chất giang hồ Nam Bộ nhưng có tấm lòng nhân hậu, từng lăn lóc mưu sinh để tồn tại bằng nhiều nghề lương thiện khác nhau: khuân vác, đạp xích lô, phu xe, đi bộ đội và cả làm báo, đóng phim… như lời “tự thú” của chính anh: “Khi bị đẩy đến chân tường, tôi như một lò xo nén, bật ra và biết thu vào bằng ngòi bút sinh kế và sáng tạo của mình”.

PHAN HOÀNG
Nguồn: VietNamNet 


NGUYỄN MINH KHIÊM GẶT HÁI TRÊN CÁNH ĐỒNG NHIỀU HƯỚNG GIÓ

Nguyễn Minh Khiêm thể nghiệm nhiều thể loại, nhưng thành công nhất và tạo được nhiều dấu ấn đối với bạn đọc vẫn là lĩnh vực thơ ca. Hơn 10 tập thơ xuất bản, trong đó, Cánh đồng nhiều hướng gió (NXB Hội Nhà văn, 2013) thể hiện phong cách, tài năng, cá tính sáng tạo và thế giới nghệ thuật độc đáo hơn cả. Nhờ tính co duỗi linh hoạt của thơ văn xuôi cùng với sự phong phú về các thi ảnh, sự kiện, giúp Nguyễn Minh Khiêm giãi bày trăn trở, ray rứt, suy tư trước vấn đề xâm lăng của đời sống đô thị, mai một của các giá trị truyền thống, tự do của con người, nỗi đau thân phận,...
Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm

1. Sự xâm nhập và tái sinh truyện kể dân gian không còn lạ gì trong thơ ca Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX đến nay. Không ít tác giả sử dụng chất liệu dân gian làm tư liệu sáng tác. Từ Vương Trọng, Hà Nhật, Đoàn Thị Lam Luyến, Trần Đăng Khoa, Lãng Thanh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Văn Công Hùng, Võ Quảng,... cho đến những tác giả trẻ hơn như Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Nguyễn Quang Hưng, Lữ Thị Mai,... Ở đó, với cảm quan, tư duy và tâm thế hiện đại, các nhà thơ thẳng thắn bày tỏ đồng thuận hoặc đôi khi trái chiều trước những nhân vật, sự kiện, chi tiết của truyện kể dân gian để bàn luận về tình yêu, thân phận, bi kịch,... của con người. Ở tập thơ Cánh đồng nhiều hướng gió, Nguyễn Minh Khiêm sử dụng nhiều chất liệu dân gian, mượn chất liệu dân gian gia tăng thi ảnh. Khá nhiều ca dao, tục ngữ, thành ngữ được sử dụng, tuy nhiên, hầu hết mới dừng lại ở sự vay mượn, sáng tạo chưa cao. Ấn tượng nhất vẫn là chất liệu từ truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết. Những chất liệu ấy đều được ông soi chiếu trên cái nền của hiện thực. Với cảm quan mới, ông vừa nhận thức lại huyền thoại, vừa mượn huyền thoại, so sánh, đối chiếu với thực tại, nhờ đó, ông đã lạ hóa thực tại, tạo ra một thế giới khác, thực tại khác, neo vào người đọc ý thức phản tỉnh. Do đó, Cánh đồng nhiều hướng gió có sự đan chéo, phối hợp giữa nguồn mạch dân gian và âm hưởng đương đại. Tính hợp lưu này tạo nên cái riêng khác cho Cánh đồng nhiều hướng gió.

Nhiều chi tiết, nhiều nhân vật trong truyện dân gian được tác giả vay mượn: quả dưa Mai An Tiêm, bọc trứng Âu Cơ, niêu cơm, tiếng đàn, cây cung, gốc đa Thạch Sanh, trái tim ĐanKô, nỗi đau Prô-mê-tê, chàng Đăm San và nữ thần Mặt Trời, tiếng sao Trương Chi, Thánh Gióng,... Trong đó, nhiều chất liệu dân gian được lặp đi lặp lại. Nhân vật Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương) lặp 5 lần; Sơn Tinh lặp 5 lần, Thủy Tinh lặp 6 lần; chi tiết bọc trứng Âu Cơ lặp 5 lần; chi tiết về Thạch Sanh lặp 5 lần,... Mỗi lần lặp đều đưa đến những cảm xúc riêng. Một số chi tiết trong truyện Thạch Sanh, Sơn Tinh Thủy Tinh, Mỵ Châu – Trọng Thủy, Tấm Cám,... được nhà thơ cắt nghĩa lại. Những hành động như “Lý Thông lấp đá giết Thạch Sanh”, “Sơn Tinh ném đá xuống đầu Thủy Tinh”, “Tấm xui Cám vào chum tắm để đẹp xinh hơn”,... đều để lại những ám ảnh khó phai về sự trả thù trong cách ứng xử nhân sinh. Theo Nguyễn Minh Khiêm, hành động của Lý Thông đã “hình thành vực thẳm trong nhiều ánh mắt”. Hành động của Sơn Tinh “để lại vết sẹo dài trong ký ức hết thế hệ này qua thế hệ khác”. Hành động của Tấm khiến “trang sách nào mở ra cũng kinh hoàng vại mắm”... Ông không chỉ tái sử dụng một số chi tiết từ chất liệu dân gian mà ông còn phát hiện, bổ sung thêm một số nét mới, hay nói cách khác, ông viết tiếp, theo cách nhìn nhận, đánh giá của mình. Ông đánh giá Sơn Tinh, Thủy Tinh trên tinh thần công bằng, lòng nhân ái:

Sơn Tinh và Thủy Tinh nhận ra mình cùng sinh từ bọc trứng Âu Cơ
Sau mấy nghìn năm xung khắc bất đồng vì một người con gái, nay tìm cách chung sống một mái nhà
Sơn Tinh nhận lại Hoàng Sa, Trường Sa, nhận lại những đảo chìm đảo nổi

Thủy Tinh lên đầu suối, đầu sông mở Hồ Núi Cốc, mở Hồ Hòa Bình. Mở Hồ Sơn La, nhận lại Hồ Ba Bể
Đem dấu chân cha dắt năm mươi người con xuống bể về thờ; đem dấu chân mẹ dắt năm mươi người con lên núi về thờ

(Sau một đêm thức dậy)

Hoặc vừa đối thoại với cổ tích vừa đối thoại với thực tại, tạo đất để người đọc tự suy nghiệm:

Ta trở về cánh đồng nơi có bước chân lạ mẹ ta ướm vào sinh ra Thánh Gióng
Văng vẳng câu nuôi khát vọng thì nuôi đồng xa, chớ nuôi đồng nhà làng bắt
Chiếc giỏ hạnh phúc nhiều lần bị lừa đổ trộm
Nhưng mỗi lần nhận con bống bụt cho ta vẫn sợ  mang theo bao nhiêu tai họa
Ta không muốn về làm hoàng hậu bằng cách dụ dỗ Cám trèo cau
Giọt máu của cha ta liệm mấy trăm năm rồi mắt vẫn chừng chừng mở.

(Cánh đồng nhiều hướng gió)

Việc cắt nghĩa các chi tiết, hình ảnh dân gian, đưa đến diện mạo mới cho Cánh đồng nhiều hướng gió, vừa đậm chất dân gian vừa mang hơi thở mới, cảm quan mới, tư duy mới. Đây là hướng đi đáng quý khi thơ ca đang tràn lan, gây nhiễu loạn trong quá trình tiếp nhận.

2. Nhiều hình ảnh trong Cánh đồng nhiều hướng gió tạo được độc đáo, bất ngờ. Thiết kế khoảng trống giữa các từ ngữ chưa phải là điểm mạnh của Nguyễn Minh Khiêm nhưng việc kết hợp lệch chuẩn đã cấp nghĩa mới cho hình tượng thơ, đưa đến sắc thái lạ. Câu thơ “Những đôi vai gánh nếp nhăn vượt khỏi đời mình mỏi mệt dựng câu hát cũ làm lều tránh nắng” là một ví dụ. Ở đây, kết hợp lệch chuẩn cùng với tương hỗ của thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ, hình ảnh "những đôi vai" dội vào lòng người âm hưởng buồn, ray rứt trước nỗi đau thân phận. Hoặc hình ảnh ngọn gió trong trong tập thơ. Đây là một hình tượng sinh động, vừa thực vừa hư. Ngọn gió được nhìn ở chiều kích mới, mang tính đa nghĩa, nước đôi. Gió xuất hiện ở nhiều góc độ. Nguyễn Minh Khiêm không dùng chày để giã gạo mà dùng để giã gió: Những chiếc gùi mang lam lũ nhọc nhằn xệ xuống bởi tiếng chày giã gió. Gió gợi nỗi đau: Gió đắng đót khúc đồng dao lệch nắng. Gió – khởi đầu của sự rạn nứt: Bóc mỗi sợi gió thấy bao nhiêu đứt gãy. Gió của cường quyền: Cánh buồm không căng lên được bởi những cơn gió bại liệt. Gió của tình yêu: Bóc ra từng sợi gió đặt lên môi,... Như thế, gió của Nguyễn Minh Khiêm tồn tại trong nó nhiều mặt, vừa gợi những gì trong trẻo, đẹp nhất, vừa biểu hiện bi kịch thân phận, vừa biểu hiện ngăn cách, chia lìa,... Sự đa dạng hình tượng gió đã phần nào mở ra sự đa dạng của cõi thế.

Viết về mẹ, về cha, hình ảnh đôi bàn chân, bàn tay có sức gợi, sức ám ảnh cao. Nó là biểu tượng vẻ đẹp cần mẫn, lam lũ trong lao động của người dân. Bàn tay mẹ được tác giả so sánh ngầm với những vật dụng quen thuộc được dùng trong lao động:“Bàn tay hình lưỡi cuốc. Bàn tay hình lưỡi xẻng. Bàn tay hình chiếc gàu tát nước. Bàn tay hình chiếc cào năm răng, mười răng. Cuốc cào suốt sáng thâu đêm” (Sấm xa). Khoác vào hình dáng ấy, đôi bàn tay đã lột tả hết những đớn đau, vất vả, suốt một đời lo toan vì chồng, vì con của người phụ nữ. Cũng ở bài Sấm xa, đoạn thơ khác, bàn tay của mẹ còn là biểu tượng của niềm tin, sức sống, khát vọng dù ẩn chứa trong đó cả một trời buồn đau, cơ cực: “Đêm Ba mươi tết mẹ ngửa bàn tay. Khát vọng xòe ra. Mơ ước xòe ra. Màu tóc xòe ra. Tuổi xuân xòe ra. Da nhăn vỏ đỗ xòe ra”. Động từ “xòe ra” tạo được hiệu ứng thẩm mỹ cao. Bàn tay xòe ra, tuổi xuân xoạc ra, nỗi cơ cực giãn ra, tách ra từng thớ một khiến lòng người thêm se sắt. Đôi bàn chân của cha cũng được tác giả phác họa khá đắt: Chạm đôi dép cũng nảy mình lên như gặp bàn chân cha tóe máu trong giày; Bàn chân móng mất móng còn không thành ngòi bút viết tiểu sử và hồi ký. Đôi bàn chân bị tổn thương, bị biến dạng, tự nó đã lột tả những âm thầm vất vả hi sinh thầm lặng của người cha.

Hôn phối các từ ngữ, cụm từ ngữ lạ trở thành một phương tiện để Nguyễn Minh Khiêm mở rộng khả năng phản ánh chiều sâu của hiện thực, mở rộng biên độ của cái đẹp, quyến dụ người đọc bước vào một thế giới của ảo mộng, huyền bí nhưng lại rất hiện thực. 

3. Yếu tố thế sự đậm đặc trong Cánh đồng nhiều hướng gió. Nguyễn Minh Khiêm gửi gắm trong đó tình cảm về quê hương, đất nước, suy ngẫm về chiến tranh, về tình yêu, về lẽ sống, về thế thái nhân tình,... với giọng điệu vừa trữ tình đằm thắm vừa triết lý, vừa chao chát, ngậm ngùi vừa pha chút tưng tửng, bình thản.

Cảm hứng từ lịch sử như truyền thuyết về cái chết của Trần Khát Chân, thái sư Trần Thủ Độ, hình ảnh cô gái Pa Kô,...; các địa danh, những trận chiến lớn - dấu tích chiến tranh khốc liệt - như: Thánh địa Mỹ Sơn, Thành cổ Quảng Trị, bãi cọc Bạch Đằng, hang Đầu Gỗ, chiến dịch Làng Vây, chiến dịch Tà Cơn, chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh,... cũng tạo điểm nhấn cho Cánh đồng nhiều hướng gió. Lấy cảm hứng từ cuộc chiến 81 ngày đêm đầy bi tráng, thủ pháp ẩn dụ, điệp, liệt kê, tương phản, câu cảm thán liên hoàn đã giúp nhà thơ xây nên một tượng đài Thạch Hãn đẫm màu đỏ. Màu đỏ của chia li, đoạn tuyệt, tang thương, ray rứt không thể nào liền da. Hôm nay, tiếng reo nối tiếp tiếng reo mà sao rưng rức, tái tê! Tiếng gọi không lời đáp tan vào dòng sông máu dội vào ngực người ở lại những nốt trầm đau thương: Từ thượng nguồn buốt tới hạ lưu. Tiếng reo nối vào nhau xé ngực. A! Thấy một lọn tóc! A! Thấy một mẩu xương! A! Chiếc lọ bi-ni-xi-lin chưa vỡ! Những tiếng reo nước mắt chảy ròng ròng. Những tiếng reo mà đứt trăm khúc ruột. Những tiếng reo đến muôn sau còn buốt// Từng mẩu xương, từng mẩu tóc vẫn được tìm lên. Những giọt nước mắt vẫn nối nhau rơi xuống/ Mẹ gọi/ Vợ gọi/ Con gọi/ Người yêu gọi/ Đồng đội gọi/ Bạn gọi/ Dòng họ gọi/ Làng xóm gọi/ Dòng Thạch Hãn ngày nào cũng thế!” (Miên man Thạch Hãn).

Nếu cảm hứng từ văn học dân gian đưa đến nhiều triết lý, suy nghiệm trên cái nền hư thực thì cảm hứng lịch sử, chủ yếu được xây đắp bằng yếu tố thực nhưng vẫn đầy day dứt, chua xót, ám ảnh người đọc.

Trong Cánh đồng nhiều hướng gió, sự xuất hiện của các đồ dùng, vật dụng quen thuộc như đèn cù, rơm rạ, tấm lưới, vỏ trấu, hạt lúa, củ sắn, củ khoai, lưỡi cuốc, lưỡi cày, dao, mai, thuổng, chiếc bồ, chiếc đòn gánh, hình nộm, con trâu, con bò, xe bò, chiếc dậm,... và các trang phục truyền thống như áo tứ thân, mớ ba mớ bảy, áo the, khăn xếp,… cho đến những lễ vật, hoạt động trong lễ hội truyền thống như bánh chưng bánh dày, trầu cánh phượng, câu hát giao duyên, phường bội phường chèo, cồng chiêng, đàn đá,... tạo không khí rất đồng quê, rất dân gian. Đối lập với những hình ảnh mang đậm hồn quê là sự hiện hữu sóng đôi của lối sống thời @, tràn ngập vật chất và quyền lực, nơi ngự trị của đồng tiền màu xanh màu đỏ, đồng đôla xanh, đồng đôla trắng, com lê cà vạt, vũ trường, điệu nhảy Disco, lắc, hít, chất bột trắng,... Nhất là, hàng loạt động từ biểu thị trạng thái tâm lí, mang sắc thái lo âu, xa xót, gợi sự bất ổn, đổ vỡ (đứt gãy, rữa ra, bay hơi, trượt, rỉ, xỉa, quật, xé, rụng, nẫu, sứt, nứt ra, nấc lên, tứa ra, quất xuống,...) càng làm rõ sự quá trình xâm lấn của lối sống hiện đại với nếp sống truyền thống dân tộc. Đến nỗi, nhà thơ băn khoăn, hoài nghi, chất vấn “có phải vì lời ru đến muộn” nên trong “ngọn gió mùa xuân vẫn có nhiều đứt gãy”?

Gông vào mình những đớn đau, nghiệt ngã của lũ lụt, của lối sống thời thị trường, làng trong mắt của nhà thơ đã “phố hóa”: Rạ rơm không biết mình đang được định giá bởi cái ngoắc tay, cái gật đầu ở một quán bi-a hay trong nhà tắm”. Lòng tham của con người đẩy vào làng những thứ phẩm độc hại, người người hại nhau một cách nhẫn tâm đến nỗi rơm rạ, hạt lúa, lá cây, ngọn gió… cũng bao phen khốn đốn: Băng zôn biểu ngữ treo rực rỡ từ đồng cạn đến đồng sâu làm thuốc tăng lực rơm rạ vẫn phải nhiều lần đưa lên bàn cấp cứuHình nộm giắt quanh mình rất nhiều thuốc trừ sâu, mặt người quê vẫn xanh xao vì bao nhiêu thứ đỉaHạt lúa trượt chân xuống tiếng thở dài/ Lá rụng buồn như khuôn mặt vay nặng lãiGió cứ u u thổi (Gió cứ u u thổi). Không gian yên bình của làng quê, những giá trị văn hóa cổ truyền hiện lên trong kí ức, trong nỗi nhớ tiếc, trong giấc mộng của nhà thơ: Ta muốn ru chiếc đòn gánh không còn ghì xiết vai làng bật máu/ Ru những hạt phù sa có nắm nhau ta không bao giờ bị đem đi cầm cố lúa non/ Ru mùa hoa đến sớm trong giấc mơ không vay nặng lãi/ Ru ánh mắt làng được ngủ thật ngon trên rãnh cày mà không phải giật mình bởi mống cụt cầu vồng (Cánh đồng nhiều hướng gió). Tương ứng với không gian hư ảo là thời gian của mộng tưởng. Thời gian đã bị tác giả đẩy lùi về quá khứ. Đó là màu thời gian của cổ tích, huyền thoại: “Ta lạc về cái ngõ ngày xưa đôi rắn liu điu dìu nhau qua giông bãoMang tiếng sáo chàng Trương thả lưới đón ánh trăng vàng trúc xinh tát nướcNhững con tằm cùng ăn một lá cùng nằm một nong đóng gàu sòng tát cạn biển đôngLông ngỗng Mỵ Châu chấp chới  bay ra từ lồng ngựcTrao nón ba tầm cây đa gánh tộiMặc áo tứ thân đêm rằm chịu lỗi” (Những mảnh vỡ @). Ngày xưa được gợi nhớ bằng những thi ảnh vừa gần gũi vừa cổ tích như nhân thêm khát vọng trở về tuổi thơ, trở về mái ấm của nhà thơ: “thèm củ khoai lang mật ủ tro dưới gầm giường”, “muốn ru chiếc đòn gánh không còn ghì xiết vai làng bật máu”, muốn “giữ chiếc dậm cho cha đánh thật nhiều cua nấu canh rau bợ”,... Đối lập hoàn toàn giữa ngày xưa ấy với cuộc sống thời @ tạo ra những vết nứt sâu hoắm, in vào từng ngõ ngách, từng khuôn mặt, từng bước chân. Những vết nứt ấy lặn sâu vào trong từng hơi thở, lời nói, cái liếc mắt, nụ cười... dù có vá/ nối cũng chỉ hoài công. Bởi, theo tác giả, đó là vết nứt di truyền từ quá khứ đến hiện tại.

Thành phố hôm nay cũng thế! Nhà thơ đau lòng, nhức nhói khi ở thành phố, nghề bới rác, tìm kiếm trong đồ phế thải một sự sống, trở thành thiên đường của những số phận bất hạnh. Thành phố là thiên đường tung hoành của ngập ngụa ruồi muỗi, rắn rết, chuột bọ,...; là thiên đường của những người “lôi thôi lếch thếch xiêu vẹo, kẻ không quần, người không áo, thần kinh, tàn tật, con đẩy ra đường, cha mẹ bỏ rơi đen đúa, run rẩy”. Những mảnh đời cơ cực trên cái nền đen đúa, tối tăm, mù mịt, không có tương lai như một thước phim quay chậm, chậm từng tí một, dội vào người đọc những ám ảnh khôn nguôi. Đối lập với không gian ấy là không gian của những kẻ sống xa hoa, quyền quý, lướt qua những cảnh đời ấy bằng chiếc xe bóng nhoáng, không đơn giản chỉ là té nước khi phóng qua mà ghê sợ hơn khi họ bịt mồm, bịt mũi, kéo rèm che cửa kính để tránh cái mùi thối, mùi mưu sinh của biết bao phận người. Nhà thơ nói mỉa thành phố ấy là thiên đường, nhưng đó là thiên đường những gì khủng khiếp, ghê sợ nhất.

Nhà thơ xoay hướng nào cũng thấy vết nứt. Cuộc thế cứ như khối vuông rubic bộn bề màu sắc. Phải chăng thông qua bức tranh tương phản trên, Nguyễn Minh Khiêm muốn cảnh tỉnh, thức tỉnh con người trước nguy cơ bất ổn, phi lý giữa những hệ giá trị cũ và mới?
               
Sử dụng chất liệu dân gian, tư liệu từ lịch sử, đổi mới, lạ hóa hình ảnh thơ, không – thời gian nghệ thuật, từ ngữ vừa hiện đại, đa dạng, đa nghĩa vừa dân dã, pha chút lạnh lùng,... như một phương tiện để Nguyễn Minh Khiêm giải bày cảm quan của người nghệ sĩ trước nguy cơ xói mòn, lai tạp của các giá trị truyền thống, trước những ám ảnh, day dứt về quá khứ, trước những mảnh vỡ của cuộc sống. Qua những thể nghiệm trong Cánh đồng nhiều hướng gió, người đọc vừa thấy một Nguyễn Minh Khiêm băn khoăn, trăn trở vừa thấy một Nguyễn Minh Khiêm hết sức thẳng thắn, trực diện khi chọc vào các vết nứt của cuộc sống. Cảm quan hiện đại cùng với nhãn quan hiện thực nhạy bén, đầy tính nhân văn đã tạo sinh khí mới cho Cánh đồng nhiều hướng gió. Cuối tập thơ, ông nhắc nhở “Suỵt! Nói nhỏ”, thế nhưng, không có bức tường nào có thể ngăn nổi những ngọn gió quyền lực trong Cánh đồng nhiều hướng gió. Một khi nhiều thứ tích tụ, chúng như cái nhọt mưng mủ, sẽ bị vỡ ra, vén màn bí mật của thời cuộc: “Gió đưa tay bịt miệng gió. Nắng đưa tay bịt miệng nắng. Làm ký hiệu cho nhau: Suỵt! Nói nhỏ.// Nói nhỏ. Nói nhỏ. Nói nhỏ/ Nhỏ mãi. Nhỏ mãi/ Nhỏ thành mắt bão” (Suỵt! Nói nhỏ)

Đồng Hới, 16.12.2014
HOÀNG THỤY ANH
________________________________

Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm quê quán ở Yên Trung, Yên Định, Thanh Hoá. Hiện nay ông ở tại Khu 2, thị trấn Quán Lào, Yên Định, Thanh Hoá.

Hội viên Hội VHNT Thanh Hoá.
Hội viên Hội nghiên cứu Khoa học lịch sử Việt Nam.
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013.

Tác phẩm đã xuất bản:

Sư tử làm chúa. Tập truyện. NXB Thanh Hoá. 1989
Tiếng gầm. Tập truyện. NXB Thanh Hoá. 1991
Biển khát. Tập thơ. NXB Thanh Hoá. 1994
Dòng sông không ngủ. Tập thơ. NXB Thanh niên. 1994
Đi tìm chiếc bút của dòng họ. Tiểu thuyết. NXB Thanh Hoá.1995
Đằng sau mặt trời. Tập thơ. NXB Thanh Hoá. 1996.
Chim yến làm tổ. Tập thơ. NXB Văn hoá Dân tộc. 1998
Làng tôi không có tượng. Tập thơ. NXB Thanh Hoá. 2000.
Khoảng lặng trong cánh cổng. NXB Văn học. 2004.
Một góc phù sa. Tập thơ. NXB Hội nhà văn. 2007
Nhạc núi. Tập ký (in chung). NXB Văn hoá Dân tộc. 2007
Vết thương đá. Tập thơ. NXB Văn học. 2009
Giải mã. Tập thơ. NXB Thanh Hoá. 2011
Cánh đồng nhiều hướng gió. Tập thơ. NXB Thanh Hóa. 2013
Bầu trời màu hoa gạo. Trường ca. NXB Văn học 2015

Giải thưởng văn học:

- Giải B của UBTQ LHCHVHNT Việt Nam năm 2008 với tập thơ Một góc phù sa.
- Giải A của UBTQLHCHVHNT VN năm 2011 với tập thơ Giải mã.
- Giải Ba cuộc thi Thơ lục bát của Tạp chí VNQĐ và Tạp chí Sông Hương tổ chức, 2010-2011 với chùm thơ Tòong teng.
- Giải Ba cuộc thi Thơ lục bát “Nghìn năm thương nhớ” do Tuần báo Văn Nghệ; Đài TNVN… tổ chức, 2910, bài thơ Chiếc điếu cày.
- Tặng thưởng cuộc thi thơ của Tuần báo Văn Nghệ năm 2002-2003, chùm thơ Anh về với mẹ.
- Giải  Nhất cuộc thi thơ của Tạp chí Xứ Thanh (2007-2009 ), chùm thơ Gánh...
- Giải Nhất cuộc thi thơ Tạp chí Cửa Việt năm 2012, chủ đề Chiến tranh vệ quốc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chùm thơ Sau lá bồ đề.
- Giải B cuộc thi Thơ viết về 45 năm chiến thắng Hàm Rồng, của Hội VHNT Thanh Hoá và Báo Thanh Hoá Tổ chức năm 2009, bài Cỏ non.
- Giải Thơ hay nhất Tạp chí Sông Hương, 2010, bài Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta.
- Giải thưởng Tác phẩm xuất sắc của Tap chí Xứ Thanh 2001, chùm thơ Hoa lau.
- Hai lần được Giải thưởng VHNT 5 năm của tỉnh Thanh Hóa.
- Giải B Giải thưởng Lê Thánh Tông của Hội VHMT Thanh Hoá, 2000, tập thơ Làng tôi không có tượng.
- Giải B Giải thưởng Lê Thánh Tông của Hội VHNT Thanh Hoá, 2004, tập thơ Khoảng lặng trong cánh cổng.
- Giải A cuộc thi Truyện  ký của Đài TNVN- Báo Phụ nữ năm 1990 về đề tài: Bác Hồ với phụ nữ - Phụ nữ với Bác Hồ.
- Giải Nhì cuộc thi ký của Báo Văn Hoá - Đời sống, 2009.

Nguồn: NVTPHCM



Thứ Tư, 11 tháng 7, 2018

HÀN MẶC TỬ, MỘT HỒN THƠ DỊ BIỆT

Là một người làm thơ Nhà quê, chủ trương chân thật giản dị, nhưng càng đọc thơ Hàn Mặc Tử, tôi càng thèm khát những lúc cái khuấy lộn của suy tư, tình cảm được diễn đạt thấu đạt nhất bằng thơ, và những ngôn từ lúc ấy chính là máu, là thịt, là hồn, là xác của người thơ…
Nhà thơ Hàn Mặc Tử

Biết nói gì về Hàn Mặc Tử, khi biết bao người đã mến mộ ông, ca ngợi ông, tìm và lấy ra những gì mà người trước chưa đề cập đến hết. Đương thời không ai yêu Hàn Mặc Tử hơn Chế Lan Viên, Hoài Thanh yêu cả phong trào Thơ Mới, yêu Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, lại cũng là người cảm nhận ở Hàn Mặc Tử một vị trí khác hẳn mọi người. Ông là người xác nhận ở Hàn Mặc Tử có một tâm hồn, một tài năng dị biệt mà cả “khen hay chê đều là bất nhẫn” (Thi nhân Việt Nam). Quách Tấn, Yến Lan đều yêu thương, mến mộ Hàn Mặc Tử mặc dù yêu mỗi người theo một cách. Xưa kia những người làm thơ yêu nhau như thể tình nhân, và bởi thế họ mới hiểu nhau đến ngọn ngành và bảo vệ nhau mãi mãi.

Gần đây, thơ Hàn Mặc Tử lại xôn xao khơi gợi trong lòng lớp các nhà thơ trẻ. Họ cảm nhận ở Hàn Mặc Tử có một điều gì gần gũi với họ, muốn vươn tới một điều gì ở sự đổi mới nội tại của thi ca.

Nghiên cứu lại cuộc đời Hàn Mặc Tử, chắc cũng có nhiều điều thú vị. Về tuổi tác, Hàn Mặc Tử sinh năm 1912, so với Huy Cận, Xuân Diệu ông đều hơn tuổi. Và khi phong trào Thơ Mới, sau Phạm Huy Thông, Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, nổi tiếng một loạt, rồi mới đến Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử. Chế Lan Viên kém Hàn Mặc Tử đến 8 tuổi. 16 tuổi tức là năm 1936, Chế Lan Viên xuất hiện với Điêu Tàn, và lập tức nổi tiếng như một tài hoa độc đáo và đặc biệt. Còn Hàn Mặc Tử khi xuất hiện đầu với tập Gái quê, là sự hình thành giữa cái hồn thơ Á Đông với phong trào tình cảm mãnh liệt của Thơ Mới. Xuân Diệu thích Rimbaud và Verlaine, Chế Lan Viên mê Edgar Poe, còn Hàn Mặc Tử thì không tuyên bố mình thích một nhà thơ phương Tây nào. Hình như ông đọc các thi nhân nổi tiếng ở thời ấy để tìm cho mình một lối thơ mà ông thích. Ông có thể chơi với tác giả Mùa cổ điển, tức Quách Tấn, và rất thích những bài thơ Đường luật có tứ rất mới, rất trau chuốt của Quách Tấn ấy, nhưng đột nhiên chuyển hẳn sang một bước mới. Thơ của ông bước vào trận xoáy lốc, hòa trộn giữa đời người, đời thơ; giữa sự cảm nhận tận đáy lòng về khổ đau và hạnh phúc; giữa cứu cánh, cầu mong những thứ siêu hình và những khát vọng riêng tư, của chính cuộc đời sống hết mình trong bệnh tật, trong đắm đuối thi ca, và trong những cảm nhận linh thiêng chỉ ông mới có giữa cõi huyền vi và cuộc đời trần thế...

Ở Hàn Mặc Tử, lúc chưa mắc bệnh hiểm nghèo, thơ đã là cứu cánh. Hàn Mặc Tử sống ở đời tức là sống cho Thơ. Thơ với ông là tất cả. Thơ nhằm gửi gắm những cái đẹp nhất, say nhất, phút thăng hoa nhất, cảm nhận sảng khoái nhất, những yêu thương si mê cuồng nhiệt nhất, những  giao lưu huyền thoại nhất giữa vũ trụ và tâm linh, giữa đơn độc và bao la, giữa khao khát và phía bên kia là hạnh phúc no đầy không vươn tới được.

Thơ Hàn Mặc Tử tự nội tâm mà vọt ra, từ cái thế giới riêng trong nhận thức của ông mà ông viết, do đó tự ông có một phong cách, không giống bất cứ một nhà thơ nào. Ông mới mẻ, ông xúc động đến tột độ đến mức người ta không theo kịp những sự vận động nội lực mà chỉ một tâm hồn ông mới giải thích nổi. Một người tài hoa, phóng khoáng, mê nghệ thuật như Hoài Thanh, phải thốt lên rằng: “Ngót một tháng trời, tôi đã đọc thơ Hàn Mặc Tử. Tôi đã theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần tiên hội, và tôi đã mệt lả...”. Ông lại viết “Trời đất (trong thơ) thực của riêng Hàn Mặc Tử ta không hiểu được và chắc chắn cũng không bao giờ hiểu được!”. Thấy chưa đủ, Hoài Thanh nhấn mạnh thêm “Lại có khi ở ta rất thường mà trong trí Hàn Mặc Tử rất dễ sợ!”.

Thơ của Hàn Mặc Tử là sự giằng xé của một con người khát yêu, khát sống, có khả năng giao lưu, trò chuyện với mây, gió, sao trăng, với Chúa và Thánh nữ đồng trinh bằng những tình cảm chói sáng nhất, ngây ngất nhất, dâng hiến trọn vẹn, lại là kẻ bất hạnh nhất, bệnh tật nhất, cô quạch nhất. Cái điên cái cuồng trong thơ Hàn Mặc Tử, chính là tiếng đập phá đầy sức mạnh và cũng là bất lực của sự ngăn cách ấy, của cảnh trí trên ấy. Yêu thương, điên loạn trong yêu thương, nên trong cái loạn, cái điên vẫn có cái thực. Ai nhận ra cái thực ấy thì thấy được lối viết nhất quán nội lực của Hàn Mặc Tử, nhận ra một tài năng dị biệt của thơ ông. Còn ai không nhận ra, thì chính là người bị ràng buộc trước những cảm quan thông lệ, của những kẻ người trần mắt thịt. Chủ tướng của phong trào Thơ Mới Xuân Diệu, người đã được coi như niềm tự hào của thi ca thời đó, trước Hàn Mặc Tử, ,mà lạ thay lại chưa hiểu được ông... Tuy nhiên Xuân Diệu không dẫn đích danh, mà chỉ xa xôi bóng gió: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống!”.

Thế mới biết hiểu thơ nhau thật khó. Xuân Diệu còn thế, huống chi ai bây giờ chưa hiểu được thơ Hàn Mặc Tử, không nên lấy thế làm buồn.

Là một người làm thơ Nhà quê, chủ trương chân thật giản dị, nhưng càng đọc thơ Hàn Mặc Tử, tôi càng thèm khát những lúc cái khuấy lộn của suy tư, tình cảm được diễn đạt thấu đạt nhất bằng thơ, và những ngôn từ lúc ấy chính là máu, là thịt, là hồn, là xác của người thơ.

Sống hết mình cho thơ, thơ viết hết mình. Đó là Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử là một chủ tướng trong cuộc đổi mới thi ca, nhưng chính ông chỉ cần mình có nhu cầu riêng cho Thơ ca. Kiểu của mình ông không khoa trương, không cần biết đến các chuyện khen chê. Ông chỉ viết theo tâm hồn mình, trí não mình, cảm hứng của mình đòi hỏi... Ông trẻ và mới cho đến tận bây giờ.

NGÔ VĂN PHÚ (1990)

NHÀ THƠ ĐẶNG HUY GIANG: NHỮNG “NHÀ NGOẠI GIAO PHÊ BÌNH" VÀ “SỰ DỐI TRÁ HOÀN HẢO”

Hình như trên báo chí hiện nay, nhiều người đang “ngoại giao” phê bình hơn là “làm” phê bình. Nhiều người đang làm cái việc có dính dấp đến “sự dối trá hoàn hảo” thì phải. Cũng đã rất lâu rồi, trong làng văn, làng thơ, làng báo của chúng ta không có một cuộc “luận chiến” hoặc “đấu khẩu” văn chương cho ra trò và tử tế nào cả.
Nhà thơ Đặng Huy Giang

Nhiều người đang làm cái việc có dính dấp đến “sự dối trá hoàn hảo”

Theo anh, phê bình có vai trò như thế nào trong sự phát triển văn học nghệ thuật?

- Về mặt lý thuyết, phê bình thường có tác động tích cực đến sự phát triển của văn học nghệ thuật. Nó giúp các tác phẩm đến với độc giả nhanh hơn, chuẩn xác hơn và có sức lan toả hơn. Đôi khi, nó cũng có vai trò mà ta vẫn quen nói to tát là “định hướng’”, “dẫn dắt” hay “phát hiện”, “động viên”, “gợi mở”… gì đó. Nhưng vai trò này chỉ thuộc về những nhà phê bình đích thực. Đó là những người am hiểu văn học nghệ thuật, có chính kiến, có bản lĩnh, vô tư và khách quan. Tiếc những nhà phê bình ở dạng này đang hiếm hoi như lá mùa thu và như sao buổi sớm.

Anh đánh giá như thế nào về thực trạng phê bình văn học nghệ thuật trên báo chí hiện nay?

- Bàng quan và thiếu trách nhiệm. Ngại đụng chạm. Quen nói một chiều. Tất cả đều bằng bằng và vô vị. Nói như người đời thường nói là… bôi ra cho có vậy thôi, kiểu như “lấy vải thưa mà che mắt thánh” ấy mà. Hình như trên báo chí hiện nay, nhiều người đang “ngoại giao” phê bình hơn là “làm” phê bình. Nhiều người đang làm cái việc có dính dấp đến “sự dối trá hoàn hảo” thì phải. Cũng đã rất lâu rồi, trong làng văn, làng thơ, làng báo của chúng ta không có một cuộc “luận chiến” hoặc “đấu khẩu” văn chương cho ra trò và tử tế nào cả.

Tình trạng “những nhà ngoại giao phê bình” như anh vừa đề cập ảnh hưởng như nào đến đời sống văn học của chúng ta? Sự nhập nhằng giữa phê bình và các bài điểm sách cần giải quyết ra sao?

- Trước hết, nó gây nhiễu cho một bộ phận độc giả. Sau nữa, nó làm người viết khó chịu. Tôi gọi những người “phê bình điểm sách” là những “nhà khen học”. Phải giải quyết sự nhập nhằng giữa phê bình và các bài điểm sách như thế nào ư? Liệu chúng ta có cần phải sòng phẳng và mất thời gian về "sự" này đến vậy không? Nhưng chúng ta cũng đừng quá lo xa. Tôi tin có nhiều độc giả (có khi lại là số đông) đều biết cả đấy, có điều họ không muốn nói hoặc không thèm nói đấy thôi. Và sự lặng im của họ, đôi khi cũng là một cách biểu hiện thái độ.

Lâu nay, tôi thường có thói quen đọc các bài “phê bình điểm sách” thơ bằng cách đọc dăm bảy câu thơ dẫn chứng. Nếu thấy các dẫn chứng không thuyết phục thì không đọc nữa. Tôi tin không có “bột” thì dù có tán hươu, tán vượn thế nào, cũng không thể “gột” nên “hồ” được. Dần dần, tôi loại bỏ bằng cách không đọc những bài viết kiểu này. Tôi tin nhiều độc giả cũng cách phản ứng giống tôi.

Cũng có lúc, tôi đọc những bài viết này vì cái tên của người viết. Một khi cái tên của người viết, nói như dân miền Nam là “không có gram nào hết trơn”, thì chúng ta đọc chúng làm gì nữa. Nói chung, khi đọc những bài “phê bình đọc sách”, chúng ta cũng cần trang bị cho mình một “bộ lọc”.

Có tình trạng ở một số tờ báo của ngành, tuy không chuyên về văn học nhưng vẫn có những trang văn hóa văn nghệ. Trên những trang này thường xuyên đăng tải những bài phê bình văn học thiếu thuyết phục, thậm chí là lệch lạc. Anh nghĩ sao về điều này? Chấp nhận, bỏ qua hay cần một thái độ cương quyết?

- Tôi hoan nghênh một số tờ báo, cho dù là của ngành và không chuyên về văn học, vẫn có những trang văn hóa văn nghệ. Đó là quyền tự do quan tâm đến văn học nghệ thuật của mọi tờ báo. Nhưng nếu những trang báo này thường xuyên đăng tải những bài phê bình thiếu thuyêt phục, thậm chí lệch lạc, thì lại là việc hoàn toàn khác. Các tờ báo này sẽ được liệt hạng không chuyên nghiệp và mất uy tín. Và trước những bài viết kiểu này, chúng ta cần có thái độ cương quyết trên những tờ báo chuyên về văn học nghệ thuật.

Tôi thường nói với các phóng viên chuyên về văn học nghệ thuật: Hãy phấn đấu trở thành một chuyên gia của một lĩnh vực nào đó mà mình đang quan tâm, theo dõi. Đừng viết dựa, nói dựa theo người khác và cũng đừng viết khi mình chưa đọc kỹ, hiểu kỹ, hiểu đúng tác phẩm.

Tệ hại hơn, có những nhà báo không đọc sách mà vẫn cho đăng những bài đọc sách, được ký một bút danh vu vơ nào đấy và được đăng tải trên hàng loạt báo. Đây là những bài có sẵn do các nhà sách viết với mục đích PR, quảng cáo để bán sách. Đổi lại, những nhà báo kiểu này vừa được lĩnh nhuận bút của bản báo, vừa được các nhà sách trả thêm tiền thù lao. Thật là “nhất cử lưỡng tiện”! Theo tôi, kiểu làm ăn này vừa lười biếng, vừa không trung thực, vừa không lương thiện và minh bạch cho lắm.
Từ phải sang, các nhà thơ Đặng Huy Giang, Trần Quang Quý,
Quang Hoài, Phan Hoàng thăm chùa Thầy, 02.2012 - Ảnh: Lãng Ma

Các nhà phê bình đích thực hãy lên tiếng

Trong khi các nhà phê bình chuyên nghiệp khá “kín tiếng” trước các vấn đề/ hiện tượng văn học mới nảy sinh, những tác phẩm mới gây tranh cãi thì những nhà “phê bình tay ngang” vào cuộc sôi nổi. Điều này theo anh là tốt hay không tốt?

- Việc các nhà phê bình chuyên nghiệp khá “kín tiếng” trước các vấn đề/ hiện tượng văn học mới nảy sinh, những tác phẩm mới gây tranh cãi… chưa hẳn là điều tốt. Tại sao lúc nào, các nhà phê bình chuyên nghiệp cũng phải thận trọng và bình + tĩnh như thế? Còn các nhà “phê bình tay ngang” vào cuộc sôi nổi… chưa hẳn là điều không tốt. Trước hết, phải biểu dương sự nhiệt tình của họ. Sau đó, cũng cần xem họ viết đúng hay viết sai. Mà nhiệt tình + viết sai thì hậu quả là gì? chắc là rất nhiều người biết hoặc hoàn toàn có thể đoán ra ngay thôi.

Chính tình trạng lười biếng, không lương thiện, không minh bạch như trên chi phối đến cách nhìn nhận của phía độc giả vì ngoài những bài phê bình điểm sách, hoặc những thông cáo báo chí biến thành bài giới thiệu sách đăng tràn lan trên báo chí hiện nay, họ không hoặc rất khó tìm được những bài đánh giá khách quan, chuẩn xác về những tác phẩm, hiện tượng văn học mà họ quan tâm. Anh vừa đề cập đến việc “ cần có thái độ cương quyết trên những tờ báo chuyên về văn học nghệ thuật”, vậy theo anh có cần đặt tiếp vấn đề về trách nhiệm của các nhà phê bình văn học chuyên nghiệp trước tình trạng này hay không?

- Tại sao... không? Theo tôi, trách nhiệm này trước hết thuộc về các nhà phê bình văn học chuyện nghiệp. Không thể để những người núp bóng họ, nhân danh họ làm những chuyện nhiễu nhương như vậy. Một "con sâu" có khi đã đủ "làm rầu nồi canh" rồi, huống hồ trên thực tế lại có quá nhiều "con sâu".

Có thể nói chưa bao giờ đời sống văn học của chúng ta cởi mở như bây giờ. Mọi người đều có quyền nói lên tiếng nói của mình. Tuy nhiên sự cởi mở cũng có mặt trái của nó. Anh nghĩ gì về điều này?

- Tôi đồng ý và xin chia sẻ với bạn câu hỏi này. Nếu coi sự cởi mở là biểu hiện một quyền tự do nào đó chẳng hạn, thì trước khi thực hiện nó, thiết nghĩ cũng cần phải hiểu cởi mở là gì? tự do là gì? đã chứ. Làm gì có chuyện cởi mở, tự do vô giới hạn! Và một khi chưa biết tự do là gì và chưa có kiến thức gì về quyền tự do, thì cũng không nên để ai đó tự do quá. Có khi lại “lợi bất cập hại” không chừng. Cái gì cũng có mặt trái của nó. Đối với sự cởi mở ở mức thái quá, cũng chẳng nên khuyến khích làm gì.

Đã bao giờ anh là “nạn nhân” của các nhà phê bình không chuyên? Nếu gặp phải những trường hợp phê bình phán xét hồ đồ liên quan đến anh, thái độ của anh như thế nào?

- Cũng đã có một, hai lần, tôi trở thành “nạn nhân” đấy. Cách nay chừng 10 năm, có một người có kiến văn rất lỗ mỗ, khi mới đọc có 2 câu thơ mở bài của một bài thơ dài 20 câu của tôi đã vội chê. Tôi đã hỏi lại người này: Thế bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, hay nhất ở câu “Đầu súng trăng treo”, lại là câu thơ cuối cùng trong bài thơ, thì ông nghĩ sao? Cũng có một vài lần tôi bị khen sai (nên nhớ đối với dân sáng tác chuyên nghiệp, dù khen sai hay chê sai, đều không thể chấp nhận được). Cách nay đã lâu, có một lần, có một nhà phê bình không chuyên khen 2 câu trích trong một bài thơ “Những câu hỏi của con” mà tôi viết tặng con gái tôi khi cháu còn nhỏ. Người này viết: Hẳn phải thương mẹ lắm, bé mới hỏi: Sao bố không mua trăng/ Làm đồ chơi tặng mẹ? Người này đã nhầm. Không phải đứa bé thương mẹ mà hỏi vậy. Cái chính là ở tuổi bé thơ, đứa trẻ nào cũng nhìn mọi vật như đồ chơi của nó vậy. Gặp những trường hợp phê bình phán xét hồ đồ ấy, tôi lại nhớ một câu nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng nói: Dị ứng với mọi lời khen, chê.

Sự nhiễu loạn phê bình văn học trên báo chí hiện nay, theo anh, chúng ta cần phải làm gì?

- Chúng ta hãy lên tiếng! Các nhà phê bình đích thực hãy lên tiếng! Đừng để vàng thau lẫn lộn! Đã đến lúc cần gióng lên những hồi chuông cảnh báo cần thiết. Đừng để lặp lại cái cảnh “thuyền đua thì lái cũng đua…” trong phê bình văn học nghệ thuật.

Xin cảm ơn anh. Chúng tôi mong các nhà phê bình cũng sẽ tiếp tục lên tiếng về vấn đề này.

Nguồn: Văn Nghệ Trẻ/NVTPHCM


Thứ Hai, 9 tháng 7, 2018

PHAN VĂN TRỊ - MÃNH LIỆT NGÒI BÚT THƠ TRANH ĐẤU


Với những bài thơ phê phán quan lại yếu hèn và triều đình phong kiến nhu nhược, dù không cầm gươm súng tham gia chiến đấu trực tiếp với kẻ thù xâm lược, Phan Văn Trị vẫn được coi là một nhà thơ chiến sĩ, đã dũng cảm đấu tranh mãnh liệt bằng ngòi bút thơ sắc bén của mình như một vũ khí tinh nhuệ. Cuộc xướng họa thi ca giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị đã tạo nên trận bút chiến nẩy lửa độc nhất vô nhị, làm dậy sóng văn đàn Nam bộ trong nửa sau thế kỷ 19…
Nhà thơ Phan Văn Trị

Phan Văn Trị ( 1830-1910) , nguyên quán huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Sau lên Gia Định học và đỗ Cử nhân nên gọi là Cử Trị. Năm 1862, sau khi Pháp đánh chiếm Gia Định (1962), nhà thơ lánh về làng Bình Cách, Tân An, sống bằng nghề dạy học. Sau khi ba tỉnh miền Đông và ba tỉnh miền Tây lần lượt rơi vào tay Pháp, năm 1968, Phan Văn Trị về sống hẵn ở huyện Phong Điền, Cần Thơ cưới vợ là bà Đinh Thị Thanh, ngày ngày tiếp tục lo dạy học và làm thơ. Tác phẩm của Phan Văn Trị hiện giữ được : 10 bài thơ bút chiến với Tôn Thọ Tường, 10 bài cảm hoài và 19 bài đề tài tự do, trong đó có 10 bài vịnh loài vật. Cử Trị làm thơ phê phán quan lại xu nịnh, trách triều đình nhu nhược, gián tiếp tố cáo tội ác của thực dân, thể hiện lòng yêu đất nước quê hương. Tại Giồng Trôm, Bến Tre nguyên quán của nhà thơ có nhà tưởng niệm Phan Văn Trị và tại Phong Điền, Cần Thơ, khu mộ nhà thơ xây dựng trang trọng, được công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia cùng lúc với nhiều trường học và con đường ở các tỉnh lớn được mang tên nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị từ trước 1975.

Phan Văn Trị sinh năm 1930 tại Bến Tre và lớn lên trong một gia đình lễ giáo Nho phong. Năm 1947, chàng thanh niên hiếu học họ Phan rời quê nhà lên học ở Gia Định (Sài Gòn). Nhân kỳ thi Hương tổ chức tại trường Gia Định năm 1949, Phan Văn Trị dự thi và đỗ Cử nhân nên được nhiều người gọi là Cử Trị. Sống trong thời “quốc phá gia vong”, dù đỗ đạt, Phan Văn Trị không ra làm quan mà tìm cách lui về sống đạm bạt bằng nghề dạy học tại Long An. Sau khi cả sáu tỉnh Nam Kỳ rơi  vào tay Pháp, ông tị địa về Vĩnh Long rồi lui về sống tại làng Nhân Ái, huyện Phong Điền, Cần Thơ.

Sự nghiệp văn chương của Phan Văn Trị bao gồm trong khoảng 100 bài thơ hầu hết làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật ngoài hai câu đối. Một câu tương truyền được nhà thơ làm nhân khi ra Huế: “Phú quý Trường An, rong quấn cổ/ Phong lưu kinh địa, chấy đầy đầu” ngụ ý cho biết công danh phú quý chỉ ràng buộc, gây cảnh mất tự do của con người. Câu còn lại do Phan Văn Trị sáng tác để bày tỏ lòng tiếc thương những nghĩa sĩ đả bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa của Đinh Sâm tại Láng Hầm, cạnh Phong Điền : “Võ kiếm xung thiên, Ba Láng giang đầu lưu hận huyết/ Văn tinh lạc địa, Trà Niềng thôn lý đãi sầu nhan” (nghĩa : Kiếm võ ngút trời, Ba Láng sông sâu, tràn huyết hận/ Sao văn sa đất, Trà Niềng thôn xóm thảy sâu mamg). Người ta hay nhắc đến giai thoại, có lần cùng bạn thân là đốc học Trưng đi bộ từ Cần Thơ đến Bình Thủy, dọc đường Phan Văn Trị vừa đi, vừa đái, vừa ngâm hai câu thơ thất ngôn: “Đứng lại làm chi phải mất công/ Vừa đi vừa đái vẽ nên rồng” nhằm tỏ thái độ phê phán mạnh mẽ đối với triều đình vua chúa thối nát. Nhìn lại những bài thơ thuộc loại “Cảm hoài” và nhất là 10 bài thơ, làm theo thể ‘thập thủ liên hoàn’ họa lại thơ của Tôn Thọ Tường. Đọc lại những bài thơ luật giàu tính chiến đấu này của Phan Văn Trị, người đọc dễ xúc động trước tấm lòng sáng trong, cao đẹp như một vầng dương của một nhà thơ trí thức yêu nước mang lập trường dân tộc rõ nét. Phan Văn Trị không làm thơ hưởng thụ ngắm hoa thưởng nguyệt, theo kiểu ‘trà dư tửu hậu’ như một số người xưa nay. Nhà thơ luôn sử dụng ngòi bút như một vũ khí sắc bén, đấu tranh chống bọn tay sai mù quáng hám lợi, triều đình hủ bại yếu hèn và kẻ thù ngoại xâm tàn bạo của đồng bào.
              
Để tránh đụng chạm khi chê trách vua quan phong kiến nhà Nguyễn và tố cáo tội ác dã man của thực dân Pháp, Phan Văn Trị đã khéo ví von, mượn hình ảnh loài vật và cây cỏ thay thế con người, giống như nhà thơ ngụ ngôn (fabuliste) Pháp La Fontaine (1621-1695) : Cây bần, Con cào cào, Con muỗi, Đá cá lia thia … Trước cảnh nhiểu nhương, loạn lạc của nước nhà, kẻ làm trai tài giỏi mà không biết nghĩa vụ quan trọng của mình thực là loài cây cỏ vô dụng đáng trách : “Cao lớn làm chi, bần hỡi bần/ Uổng sanh trong thế, đứng tần ngần !” (Cây bần). Nhà thơ chỉ trích bậc “dân chi phụ mẫu” (như : cha mẹ của dân) mà chỉ là đồ vô dụng, ăn hại như con muỗi, con rận hút máu của dân : “Béo miệng chẳng thương con trẻ dại/ Cành hông nào đoái chúng dân nghèo” (Con muỗi); “ Khéo sinh trong thế chi cho rộn/ Có có, không, không, cũng chẳng cầu” (Con rận). Với lũ quan hại dân hại nước đó, nhà thơ lên tiếng cảnh cáo: “Ngày nào miễn gặp cây xơ quất/ Xử tội nhà ngươi, mắt chẳng nheo” (Con ruồi). Với triều đình mụt nát yếu hèn, nhà thơ không thể bình thản dửng dưng. Những lúc cường độ phẩn uất vua Tự Đức gia tăng, nhà thơ không tránh khỏi có những lời thẳng thừng mạnh mẽ, thể hiện một thái độ quyết liệt không khoan nhượng: “Trảm càn đức chi đầu/ Ẩm càn đức chi huyết/ Phanh càn đức chi thi/ Thực càn đức chi nhục (Chém đầu càn đước/ Uống huyết càn đước/ Xé thây càn đước/ Ăn thịt càn đước). Lượng sức mình không xoay nổi thời thế, Phan Văn Trị đã hai lần tránh xa thực trạng chướng tai gai mắt. Một lần ông Cữ Trị né chốn quan trường, một lần khởi xướng phong trào “tỵ địa”, tránh xa , không sống chung với “lũ quỷ trắng” thực dân Pháp. Nhà văn Nhất Tâm Nguyễn Bá Thế (1925-1996) đã nhận định chính xác về Phan Văn Trị : Phan chỉ chán lối hoạn trường. Nhưng với dân với nước, Phan luôn chú tâm theo dõi. Bằng chứng là Phan đã ngụ ở lòng mình bằng những bài thơ ký thác thiết tha, xuất phát từ một tâm hồn đã xao xuyến, rung động vì nhịp tiến của thời thế và bước đi của dân tộc.
                 
Tâm hồn nhạy cảm của Phan Văn Trị đã nói lên trong thơ nỗi niềm đau đáu của người dân mất nước trong nhiều bài “Cảm hoài” man mác tâm sự của nhà thơ. Âm thanh tiếng kèn Tây xa lạ báo hiệu những đổi thay tang tóc hải hùng trên quê hương. Nhà thơ vừa xót xa cho tổ quốc bị thực dân tàn ác giày xéo, vừa thầm trách những quan lại vô trách nhiệm của triều đình phong kiến : “Tò le kèn thổi tiếng năm ba/ Nghe lọt vào tai, dạ xót xa”/…“Tan nhà cám nỗi câu ly hận/ Cắt đất thương thay cuộc giảng hoà/ Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ/ Ngậm cười hết nói nỗi quan ta” (Mất Vĩnh Long); “Nhìn Nam chạnh tủi cành hoa ủ/ Ngó Bắc ngùi thương đám bạch vân” (Cảm hoài- Bài 2). Nỗi đau bi thương khơi dậy trong thơ Cử Trị một hoài vọng tiếc nuối khôn nguôi về đất nước thanh bình ngày trước: “Non sông cảnh cũ, tình hoài vọng/ Tùng cúc vườn xưa, cảnh nhớ người” (Cảm hoài - Bài 8).
                  
Không thể âm thầm gánh chịu đau thương một các tiêu cực, Phan Văn Trị thể hiện bằng hành động thức thời. Nhà thơ, với lập trường kiên định như sắt thép, dùng ngòi bút như một vũ khí sắc bén, đánh thẳng vào thực dân và nghiêm khắc tố cáo và lên án bọn tay sai xu thời như Tôn Thọ Tường. Phan Văn Trị làm thơ củng cố niềm tin ở nhân dân và động viên đồng bào vùng lên đấu tranh, đi đến ngày chiến thắng. Trước sự hèn nhát, đánh mất sĩ khí của một trí thức mù quáng vô liêm sĩ như Tôn Thọ Tường (1825-1877) đã xem thế lực vật chất của ngoại bang với “tàu đồng”, “giây thép”…là vô địch và coi người mình là non kém, đã có lời lẽ xúc phạm, coi thường người yêu nước: “Miệng cọp, hàm rồng chưa dễ chọc/ Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay”, Phan Văn Trị đã mạnh mẽ trả lời, xem Tôn là “thằng hoang”, “đứa ngu” như “ếch năm đáy giếng” : “Đáy giếng trông trời trơ mắt ếch”, “Đứa dại trót đời già cũng dại”, nhà thơ khẳng định tinh thần kiên quyết chiến đấu của mình và toàn thể nhân dân Nam bộ : “ Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ/ Lòng ta sắt đá, há lung lay !”. Tôn làm việc cho giặc, lẫn tránh trách nhiệm của mình đối với tổ quốc lại hèn hạ, u mê đổ lỗi cho thời thế nên đành nhắm mắt đưa chân:
        
“Phải sao chịu vậy…/Nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng”. Việc lạ đời là đường đường một đấng “nam nhi chi chí” mà Tôn lại đem mình đi sánh với một liễu yếu đào tơ, mượn đạo lý Tam tòng của nhà Hán để biện bạch cho lý do mình họp tác với giặc : “Thà mất lòng anh đặng bụng chồng” (Tôn phu nhân quy Thục), nên bị ngòi bút nhọn của Phan Văn Trị đâm lại thẳng thừng và trúng đích : “Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng” (Bài họa Tôn phu nhân quy Thục). Khi Tôn làm bài “Từ Thứ quy Tào” để bênh vực cho mình theo một loại vần hiểm hóc để Phan Văn Trị không thể họa lại được : “ Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy/ Thân này xin gác ngoại vòng thoi !”. Nhưng nhà thơ họ Phan cũng đã đáp lễ lại cho người bạn thơ có lập trường tư tưởng đối địch bằng một bài thơ họa “Hát bội” vô cùng điêu luyện và sâu sắc : “Quá bị trên đầu nhát búa voi/ Kinh luân đâu nữa để khoe mòi” (Bài họa: Hát bội).
                
Với những bài thơ phê phán quan lại yếu hèn và triều đình phong kiến nhu nhược, dù không cầm gươm súng tham gia chiến đấu trực tiếp với kẻ thù xâm lược, Phan Văn Trị vẫn được coi là một nhà thơ chiến sĩ, đã dũng cảm đấu tranh mãnh liệt bằng ngòi bút thơ sắc bén của mình như một vũ khí tinh nhuệ. Cuộc xướng họa thi ca giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị đã tạo nên trận bút chiến nẩy lửa độc nhất vô nhị, làm dậy sóng văn đàn Nam bộ trong nửa sau thế kỷ 19. Phan Văn Trị, với tinh thần yêu nước nồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc, nhà thơ đã không chiến đấu cô đơn trên mặt trận văn chương, mà luôn được sự hỗ trợ tán dương bởi nhân dân, sĩ phu, nghĩa sĩ và văn nghệ sĩ khác : Nguyễn Đình Chiểu (1852-1924), Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872), Nguyễn Thông (1827-1894), Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1882), Lê Quang Chiểu (1852-1924), …Nhớ lại vào năm 1972, trong một lần hướng dẫn một đoàn sinh viên học sinh Cần Thơ, vượt qua những chiếc cầu khỉ chông chênh, đi dã trại, tham quan phần mộ nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị - phần mộ Cử Trị lúc ấy còn quá tiêu điều - tại rạch Trà Niềng (Phong Điền-Cần Thơ). Tôi có tranh thủ thuyết trình tại chỗ về thân thế và sự nghiệp văn chương mang ý nghĩa cao đẹp của nhà thơ Phan Văn Trị. Về nhà đêm ấy, trong lòng còn bồi hồi xúc động, tôi cảm hứng sáng tác bài thơ nội dung liên quan một thị trấn còn mang đậm dấu ấn lịch sử của liệt sĩ Lê Bình và nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị : “Ở Cái Răng mà nhớ Cái Răng/ Đêm đêm hồn ngập nỗi bâng khuâng/ Mang mang bìm bịp kêu con nước/ Trăng trắng phù sa rụng bãi bần/ Xào xạc chèo khuya khua chợ nổi/ Ngọt ngào ca cổ vọng sông trăng Phong Điền một dạo thăm quê đó/ Vời vợi hồn thơ, nhớ cụ Phan” (Nhớ Cái Răng).

NGUYỄN THANH
Báo Văn Nghệ


Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2018

VĂN HÀO PHÁP HONORÉ DE BALZAC: CUỐI CÙNG CÒN LẠI TÌNH YÊU

Honoré de Balzac dự định bộ "Tấn trò đời" của ông sẽ có 143 tập. Tuy nhiên, ông mới chỉ kịp hoàn thành 90 tập. Dẫu vậy, đó vẫn là bộ sách khổng lồ và vĩ đại, miêu tả sâu sắc và rộng rãi không chỉ bức tranh xã hội Pháp đương thời mà còn nêu bật được những "tấn trò đời" vĩnh cửu với những tiểu thuyết xuất sắc qua nhiều thời đại như "Miếng da lừa" (1831), "Eugenie Grandet" (1833), "Cha Goriot" (1834), "Vỡ mộng" (in năm 1843), "Bước thăng trầm của kỹ nữ" (1845)...
Văn hào Honoré de Balzac của Pháp

Honoré de Balzac sinh ngày 20/5/1799 tại thành phố Tours. Cha ông, Bernard-Franois Balssa, là viên chức thuộc ngành quốc phòng, chuyên cung cấp quân trang quân dụng cho sư đoàn đóng ở đô thị nhỏ này.

Khi nhà văn tương lai cất tiếng khóc chào đời, người cha đã ở tuổi 53. Người mẹ, Anne-Charlotte-Laure Sallambier, vốn là cô con gái ngoan trong một gia đình tư sản ở Paris, kém chồng tới 32 tuổi. Ông Bernard-Franois Balssa đôi khi nửa đùa nửa thật khoe về dòng dõi quý tộc cổ kính Balzac d'Entraigues mà dường như ông là một hậu duệ.

Về sau, người con trai đã biến câu chuyện vui này thành một sự kiện bất khả bác bỏ và lấy đó làm họ cho mình và ghi lên trên các lá thư và các cuốn sách. Nhà văn cũng sử dụng gia huy Balzac d'Entraigues để vẽ trên xe ngựa của mình khi đi tới Vienna. Trong khi đó, tất cả những tài liệu còn lại cho tới hôm nay đều không có gì minh chứng cho dòng dõi quý tộc của nhà văn.

Tuổi thơ của nhà văn đã trôi qua ở ngoài tổ ấm gia đình. Ngay từ khi còn đỏ hỏn, Honoré đã được vú nuôi, một phụ nữ nông dân bình dị, nuôi dưỡng. Từ khi lên 4 tuổi tới năm 11 tuổi, cậu đã phải trải qua nhiều học xá khác nhau.

Những ngày tháng u ám nhất trong tuổi thơ của nhà văn tương lai là bảy năm sống trong Trường Vendôme, một học xá khá kín nằm dưới quyền điều hành của các tu sĩ theo dòng Oratory ở Saint Philip Neri (những tu sĩ sống với cộng đồng tôn giáo nhưng không tuyên thệ). Hai trăm học trò đã phải nhất nhất tuân theo kỷ luật khắc nghiệt của các tu sĩ. Phạm bất cứ lỗi lầm nào dù nhỏ đến mấy cũng bị phạt nặng bởi roi vọt hay bị giam trong phòng kín lạnh lùng.

Ngay từ nhỏ, Balzac đã nổi tiếng là một học trò cẩu thả, có tính tình u uẩn. Chính trong hoàn cảnh sống như thế, Honoré đã sớm tìm tới sách vở. Cậu bé thường ngồi lỳ trong thư viện của trường. Và mày mò tự viết nhưng đã chỉ khiến đám bạn đồng lứa chế giễu và mỉa mai đặt cho biệt danh "Thi sĩ".

Khi Balzac 15 tuổi, người cha được chuyển về Paris. Đó là năm 1814, khi đế chế của Napoléon vừa sụp đổ. Nước Pháp lại trở thành vương quốc của dòng họ Bourbon. Theo đòi hỏi của cha, nhà văn tương lai vào học Trường Luật, đồng thời làm một chân thư ký ở Văn phòng luật sư Jean - Baptiste Guillonnet - Merville. Tuy nhiên, Blazac cũng giấu cha mẹ để dự giảng những tiết về văn học ở Sorbonne và say mê đọc những cuốn sách lịch sử và triết học ở thư viện.

Tới năm 1819, Balzac tốt nghiệp xuất sắc Trường Luật nhưng đã khiến cha mẹ ngạc nhiên khi quyết định chỉ chuyên về viết văn. Khi đó, cha ông đã về hưu và cả gia đình chuyển tới ở một thầnh phố nhỏ gần thủ đô. Một mình Balzac ở lại Paris, trong một khu công nhân và tá túc ở một căn phòng áp mái nhỏ trong cảnh túng bấn. Viết thư cho em gái, nhà văn lớn tương lai hài hước: "Anh trai của em, người đang được hứa hẹn một vinh quang như thế, hiện ăn uống hoàn toàn như một vĩ nhân, nói cách khác tức là đang chết đói".

Thử nghiệm văn học đầu tiên trong thể loại bi kịch của Balzac đã bị "hội đồng gia đình" phê phán kịch liệt. Thấy vậy, Honoré đã chuyển sự chú ý sang các tiểu thuyết "gôtích", thế giới của những ác nhân không trái tim, nơi nảy sinh những tội ác dã man tàn bạo nhất, nơi khám phá ra những tội ác rùng rợn nhất và những mỹ nhân mềm tính luôn ở hiền gặp lành.

Trong giai đoạn đầu kéo dài tới 5 năm, Blazac kết hợp với một "thợ văn" giàu kinh nghiệm cho xuất bản tới cả chục cuốn tiểu thuyết nhưng vẫn không sao thoát khỏi cảnh sống "bóc ngắn cắn dài". Túng thiếu, cho tới tuổi tam thập, Blazac cố tình duy trì cảnh sống không vướng víu đàn bà. Đó là giai đoạn mà nhà văn vĩ đại trong tương lai tỏ ra rụt rè, nhút nhát tới... bệnh hoạn, chỉ đơn giản bởi ông cũng cảm thấy sợ sức mạnh dục tình trong chính lòng mình.

Thêm vào đó, hiểu rõ mình chỉ là một gã đàn ông chân ngắn, vụng về, ông rất sợ trở thành kệch cỡm nếu hành xử như những trai lơ thời ấy trước mặt các mỹ nhân sắc nước hương trời. Và họa hóa phúc, chính nỗi sợ giáp mặt mỹ nhân đã khiến Balzac sống trong cô độc lại giúp ông ngồi lâu hơn cạnh bàn viết và sáng tạo.

Từ Paris, thi thoảng Balzac trở về thành phố ngoại ô sống cùng cha mẹ. Và tại đó, năm 1821, ông đã làm quen với Laure de Berny, một phụ nữ đã ở tuổi 45, có không chỉ một đứa con, rất bất hạnh trong đời sống gia đình. Chồng của chị, Gabriel de Berny, con trai một thống đốc, thành viên tòa án Hoàng gia, hậu duệ của một dòng họ quý tộc lâu đời.

Thị lực của Balzac khi đó ngày một trở nên tồi tệ hơn. Thân mẫu của nhà văn buộc ông phải cùng làm việc với con trai của Laure. Hai người gần như là đồng niên. Chẳng bao lâu sau, thân mẫu của nhà văn mới phát hiện ra một số chi tiếp khiến bà phải "cảnh giác". Bà có cảm giác như cậu con trai tài hoa của bà đang phải lòng cô bé xinh đẹp kém mình vài ba tuổi Emmanuel, con gái của Laure de Berny. Thế nhưng, thực ra, trái tim của nhà văn trẻ lại thổn thức vì "mẫu hậu" Laure, người đàn bà đã sinh cho chồng mình tới 9 đứa con!--PageBreak--

Laure de Berny, mối tình đầu của Balzac, đã đóng một vai trò trọng đại trong cuộc sống của ông.

"Nàng đối với tôi vừa là mẹ, vừa là bạn gái, vừa là khách đồng hành, vừa là gia đình, cố vấn, tri âm tri kỷ. - Sau này Balzac nhớ lại. - Nàng đã biến tôi thành nhà văn, an ủi tôi khi còn non tơ, nàng đánh thức trong tôi thẩm mỹ, nàng khóc và cười với tôi, nàng luôn tới với tôi như một giấc mơ hạnh ngộ, làm dịu đi mọi nỗi đau đớn của tôi... Không có nàng hẳn là tôi đã chết...".

Laure de Berny đã làm mọi việc mà một người phụ nữ có thể làm được vì Balzac. Mối quan hệ giàu nhục cảm giữa hai người kéo dài qua không chỉ một thập niên, từ năm 1822 tới năm 1833. Balzac về sau đã viết: "Không gì có thể so sánh được với tình yêu của người phụ nữ dâng hiến cho người đàn ông hạnh phúc của mối tình đầu".

Laure de Berny đã không ngay lập tức đáp lại niềm cảm xúc của Balzac nhưng đã không thể cứng lòng mãi được trước sự chân thành và nồng nhiệt của nhà văn trẻ. "Trời ơi nàng đẹp quá trong lễ hội đêm qua! Nàng đã quá nhiều lần về với tôi trong mơ, rạng rỡ, cuốn hút, nhưng tôi xin thú thực là, đêm qua nàng đã vượt lên trên đối thủ duy nhất của mình, tiên nữ trong giấc tôi mơ...".

Và một đêm tháng 5 ấm áp, Laure de Berny đã quy thuận nhà văn. Balzac hào hứng: "Ôi Laure yêu quý! Anh viết về em và xung quanh anh đang là bầu im lặng của đêm, cái đêm đang sống động trong anh ký ức về những nụ hôn nồng cháy của em! Tôi còn có thể nghĩ về điều gì khác nữa? Tôi lúc nào cũng thấy trước mắt cái ghế đá mà trên đó ta đã ngồi, tôi cảm thấy đôi bày tay thân thiết của em lúc nào cũng ôm ấp trìu mến lấy tôi và những cánh hoa trước tôi dẫu đã héo vẫn nguyên mùi hương thanh khiết...".

Bà Laure de Berny khi ấy còn đầy nhiệt huyết. Nhưng rồi mối quan hệ giữa hai người bị tiết lộ. Xã hội lên án. Trong khi đó các dự án in ấn của Balzac đều thất bại. Laure giúp đỡ ý trung nhân không chỉ bằng lời nói, mà cả bằng những hành động vật chất cụ thể. Họ đã là bạn của nhau tới phút cuối của cuộc đời bà, năm 1836.

Laure de Berny đã là nguyên mẫu của một trong những nhân vật nữ trong tiểu thuyết "Những bông huệ đồng bằng", dẫu rằng chính Balzac đã nói nhân vật văn học chỉ là sự phản chiếu yếu ớt của người đàn bà trong đời thực. Cũng chính từ bà Laure de Berny, Balzac chỉ nhìn thấy niềm hứng khởi của mình ở những người phụ nữ vượt lên trên ông ở kinh nghiệm đời sống và tuổi tác. Những mỹ nữ trẻ trung đòi hỏi nhiều và chỉ có thể đáp ứng được ít, không còn làm ông quan tâm nữa. "Nàng tứ thập làm ta hứng khởi, nàng hai mươi có nghĩa gì đâu...".

Nữ công tước D' Abrantès, goá phụ của tướng Junot, khi Balzac làm quen với nàng vào năm 1829, ở Versailles, đang bị chìm trong nợ nần và không được xã hội thượng lưu kính trọng. Nàng đã buộc phải mang hồi ức của mình ra mặc cả với đời. Nữ công tước đã không phải khó khăn gì lắm để lôi nhà văn trẻ Balzac ra khỏi vòng tay của người phụ nữ luống tuổi Laure de Berny.

Không rõ vì một lý do gì đó nhưng cho tới phút cuối cùng của đời mình, Balzac luôn bị mê hoặc bởi những tước vị quý tộc. Và ông cảm thấy hãnh diện khi có được mối quan hệ tình cảm với nữ công tước D' Abrantès. Mặc dầu giai đoạn "hương nồng lửa đượm" không kéo quá dài nhưng về sau, quan hệ giữa hai người vẫn là thân hữu. Nữ công tước D' Abrantès đã giúp Balzac vào với salon của bà Récamier và một số những nhân vật thượng lưu khác. Còn nhà văn thì giúp mỹ nhân này hoàn thành những hồi ức của nàng.

Cũng trong thời gian đó, Balzac đã gặp gỡ với một người phụ nữ nữa, rất không xinh đẹp nhưng đã yêu ông như cơ hội hạnh phúc duy nhất của đời mình. Và họ đã có với nhau những ký ức khó quên, đầy cảm hứng sáng tạo.

Quả thực là không có phụ nữ xấu, quan trọng là ta biết nhìn ra giá trị nhan sắc của họ. Nàng đã giúp cho nhà văn thấu hiểu hơn giá trị tâm hồn của người phụ nữ sống là dâng hiến: "Một phần tư giờ mà tôi có thể ở cạnh nàng đã cho tôi nhiều hứng khởi hơn cả đêm ở trong vòng tay của một nữ nhân trẻ tuổi...".

Tuy nhiên, người đàn bà đứng tuổi đó hiểu rằng, chị không có sức quyến rũ đàn bà có thể gắn bó nhà văn một lần là mãi mãi. Hơn nữa, chị cũng không thể tiếp tục lừa dối chồng mình hay bỏ ông ta trong cảnh bất hạnh. Và vì thế, chị chỉ muốn có một tình bạn dịu dàng với nhà văn thôi.

Trong những lá thư gửi Balzac, chị công khai nói những ý kiến của chị về các tác phẩm của nhà văn. Balzac cảm ơn chị: "Nàng chính là độc giả của tôi. Tôi tự hào vì đã làm quen được với nàng, với người đã giúp tôi có được khát vọng luôn phải trở nên hoàn thiện hơn...".

Trước khi chết, Balzac, nhìn lại đoạn đời đã qua, đã thú nhận rằng, người đàn bà không xinh đẹp ấy mới chính là người bạn gái tuyệt vời nhất của ông. Và ông cầm lấy bút, sau một thời gian dài biệt vô âm tín, viết thêm một lá thư cuối cùng cho chị...

HOÀNG PHONG
Theo CAND


TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



TRỊNH HOÀI ĐỨC - VỊ CÔNG THẦN ĐA TÀI, TRUNG HIẾU

Có lẽ ít người biết được Trịnh Hoài Đức đã từng là Thượng thư Bộ Binh, một chức tương đương với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay. Bởi vì tài văn thơ của ông quá nổi trội, nên nó lấn lướt cái tài cầm quân của vị Thượng thư này. Hoàng đế Minh Mạng sớm nhìn thấy năng lực quân sự của ông, ngay từ khi mới lên ngôi, vào năm Canh Thìn (1820), đã giao cho ông liền hai chức "bộ trưởng": Thượng thư Bộ Binh và Thượng thư Bộ Lại. Ông lại còn được giao làm Phó Tổng tài Quốc Tử giám phụ trách việc tuyển chọn nhân tài, thi cử.
Tượng danh nhân Trịnh Hoài Đức

Nhà Nguyễn vốn có nhiều tướng tài vào thời điểm thịnh trị, dẹp loạn vùng biên và mở mang bờ cõi phương Nam. Ông lại được phụ trách các tướng tài đó, thì chứng tỏ tầm nhìn chiến lược về quân sự và quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia của ông tài giỏi nhường nào.

Trịnh Hoài Đức là công thần thuộc hàng đầu của triều Nguyễn. Ông đỗ khoa thi do chúa Nguyễn Phúc Ánh mở vào năm 1788 và được bổ dụng làm Hàn Lâm Chế Cáo, rồi Tri huyện của huyện Tân Bình. Ông đã có công khai khẩn đất đai ở vùng Gia Định và trông coi việc cấy cày. Khi chúa Nguyễn đánh trận ở Phú Xuân (Huế ngày nay), ông lại được giao công việc hậu cần, tiếp vận quân lương.

Đến khi chúa Nguyễn lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Long, vua đầu triều Nguyễn, ông đã được tấn phong làm Thượng thư Bộ Hộ rồi Thượng thư Bộ Lễ. Trịnh Hoài Đức là vị tướng văn võ song toàn, lại còn là một nhà ngoại giao xuất sắc, được vua Gia Long cử làm Chánh sứ sang giao thiệp với nhà Thanh (Trung Quốc). Chuyến đi sứ này đã được ông ghi lại trong tập thơ "Đi sứ cảm tác" gồm 18 bài bằng chữ nôm. Ông thông thạo cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ, nhưng ông viết chữ Quốc ngữ khi sang nước người đã chứng tỏ ông muốn đề cao tinh thần tự tôn dân tộc.

Trịnh Hoài Đức còn là một cây bút viết rất khỏe và để lại cho đời nhiều tác phẩm văn học như: "Gia Định thành thông chí"; "Cấn Trai thi tập", "Gia Định Tam gia" (3 nhà văn hóa lớn ở xứ Gia Định bấy giờ. Ngoài Trịnh Hoài Đức còn có Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh), "Thoái thực trung biên tập", "Minh Bột di ngư", "Quan quang tập'', "Khả dĩ tập", "Tự truyện", "Lịch đài kỷ nguyên", "Khương Tế lục"...

Có lẽ nổi tiếng hơn cả trong di cảo văn chương của Trịnh Hoài Đức là tác phẩm "Gia Định thành thông chí" được bao thế hệ người đọc yêu mến. Các nhà sử học coi đây là sách gối đầu giường mỗi khi nghiên cứu về đất phương Nam vào lúc "từ độ mang gươm đi mở cõi, trời Nam thương nhớ đất Thăng Long". Ông viết về xứ Gia Định cách đây gần 200 năm với con mắt của một sử gia có tài. Sách ghi lại mọi điều về xứ Gia Định, nơi ông từng làm Tổng trấn. Sách hay đến nỗi sau khi viết xong, dâng vua Minh Mạng trong dịp vua xuống chiếu cầu sách cũ, đã được vua khen và ban tặng. Vài chục năm sau, một học giả người Pháp là ông Aubaret thấy sách có giá trị đã dịch sang tiếng Pháp. Sau đó, sách lại được nhiều người viết sử ở Nam bộ trích dẫn, dịch. Đến năm 1998, nhà xuất bản Giáo dục mới in lại bản dịch và Giáo sư Đào Duy Anh hiệu đính, được coi là bản hoàn chỉnh nhất.

Lần giở từng trang của "Gia Định thành thông chí" mới thấy cái chất sống động của xã hội miền Nam ở đầu thế kỷ 19 với các phong tục tập quán của người Việt, người Hoa, người Khmer cùng chung sức khai phá vùng đất đồng bằng sông Sài Gòn, sông Đồng Nai một thuở. Trịnh Hoài Đức để tâm hơn khi viết về xứ Nông Nại (nay là Cù Lao Phố) và thành phố Biên Hòa, quê mẹ của ông. Tác phẩm còn khảo tả khá kỹ các sản vật của xứ Đồng Nai, Gia Định, các núi sông, khí hậu, việc thành lập các trấn sở và thành trì cũng như tính cách rất riêng của con người Nam bộ.

Sau 40 năm làm quan dưới triều Nguyễn, Trịnh Hoài Đức luôn tận trung với vua. Ông là người tài lại gặp lúc các vị vua đầu triều Nguyễn trọng dụng nên đã phát huy hết khả năng của mình trong khá nhiều trọng trách vua giao. Tuy quyền cao, chức trọng, nhưng ông vẫn sống cuộc đời thanh liêm trong sáng. Sách "Đại Nam liệt truyện" do các sử gia triều Nguyễn ca ngợi ông: "Đức không có nhà riêng, vua cho 3.000 quan tiền và gỗ, gạch ngói, cho làm nhà để làm chỗ nghỉ ngơi tắm gội. Đức bèn làm vườn quỳ ở phía ngoài cửa Đông. Rồi lại kiêm lĩnh Thượng thư Bộ Lễ". Làm đến Thượng thư 4 bộ, mà ông không tơ hào chút nào của công. Không nhà riêng, vua thương tình mới xây nhà cho. Thật là một tấm gương sáng về liêm khiết muôn đời vậy.

Triều Nguyễn cũng không phụ lòng công bộc của Trịnh Hoài Đức. Khi ông mất vào tuổi 61, Hoàng đế Minh Mạng đã khóc xót thương: "Trẫm nghe tin không ngờ nước mắt nhỏ xuống, bèn sai nghỉ triều 3 ngày và hậu ban cho sa, gấm, trừu, đoạn, tiền, gạo, dầu đèn; tặng Thiếu phó Cần chính điện Đại học sĩ, cho tên thụy là Văn Khúc; cho một tế đàn. Ngày đưa về chôn sai Hoàng tử Miên Hòa đến nhà khâm mạng, ban cho rượu, điển lệ cấp tuất rất hậu; các bày tôi không ai sánh kịp. Đám tang của Trịnh Hoài Đức đến Gia Định, Tổng trấn là Lê Văn Duyệt thân hành đi viếng, nói với người rằng: Hiệp biện họ Trịnh là người đáng khen đời nay, được thấy tôn trọng như thế".

Để làm nên một Trịnh Hoài Đức nổi danh, có lẽ ông có những đức tính tuyệt vời mà không bề tôi triều Nguyễn nào sánh được: "Đức là người cẩn thận, phong độ, trầm tĩnh, nghiêm chỉnh, học vấn rộng rãi, nghị luận thường giữ đại thể" (Đại Nam liệt truyện).

Trịnh Hoài Đức còn là người con có hiếu. Trong một bài thơ, ông da diết nhớ mẹ:

"Ngay thảo tưởng rồi sa nước mắt
Công danh nghĩ lại đổ mồ hôi
Quân thân tuy cách lòng đâu cách
Trọn đạo con là trọn đạo tôi".

Năm lên 10 tuổi, mồ côi cha, ông đã theo mẹ vào sống ở Gia Định. Mẹ ông là một cô gái Việt, quê ở làng Bình Trước, Biên Hòa (nay thuộc Khu phố 3, phường Trung Dũng). Gắn bó với quê mẹ nhiều năm, trước khi mất, ông có tâm nguyện được đưa linh cữu về quê mẹ chôn cất. Ngày nay, mộ ông vẫn còn, người dân quen gọi là "Lăng Ông". Ông đã trở về với dân dã, ngôi mộ đơn sơ xây bằng đá ong. Tuy nhiên, sự nổi tiếng của ông đã được trường Viễn Đông Bác cổ xếp mộ Trịnh Hoài Đức là di tích quý giá vào năm 1938. Ngày nay, ngôi mộ đã được tôn tạo đẹp đẽ và đã được Bộ Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử.

Cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Hoài Đức khá hoàn hảo. Xứ sở Biên Hòa, Đồng Nai đã sinh ra Trịnh Hoài Đức - một danh tướng, Thượng thư của 4 bộ triều Nguyễn, một nhà thơ, một nhà văn, một nhà sử học đại tài.

PGS.TS TRỊNH SINH
Nguồn: Báo Biên Phòng



BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...