Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

NGÀY THƯỜNG VỚI NHÀ VĂN TRANG THẾ HY

Dễ có gần hai mươi năm, tôi nghĩ là vậy, ông giã từ Sài Gòn với một lời chia tay thật ấn tượng: “Tôi già rồi… giờ phải đi chỗ khác chơi”. - Đi chỗ khác chơi… Nhiều đồng nghiệp và tôi coi câu trả lời của ông như một dấu hỏi, mỗi người một góc săm soi, xem ông - một người đã “chơi” tới đỉnh vinh quang của nhân tình thế sự và văn nghiệp bây giờ còn tìm được chỗ nào hay hơn để chơi! Và sao ông có quá nhiều chỗ để mà chơi vậy?….
Nhà văn Trang Thế Hy

Đã nhiều lần, tôi vẫn thường xuôi theo những con suối nhỏ, dòng nước trong veo , chảy thành khe từ rừng sâu núi thẳm. Thú vị nhất là khi nhìn những dòng nước nhỏ mát lạnh, từ triền cao đổ xuống dội lên tấm lưng của tảng đá già tạo thành từng tiếng kêu… róc rách. Tiếng róc rách của suối hoà cùng một giọng xào xạc của gió đại ngàn, cộng với tiếng véo von của chim muông rừng rú… dễ làm cho ta ngất ngây, mê đắm. Những lúc như thế tôi thường hay nhớ đến một chữ Tình. Và rồi theo qui luật tự nhiên, dòng nước của con suối nhỏ lại đổ về một con sông lớn, con sông lớn ấy luôn tạo cho mình một phong cách rất riêng: lúc quanh co vật vã, lúc luyến lái đa tình nhưng cuối cùng vẫn phải về với biển.

Trước sân nhà tôi có một cây xoan. Vào mùa xuân, lá xoan xanh mởn, hoa trắng nở đầy… Sức sống của cây, vẻ đẹp của hoa và lá lồ lộ một sự sung mãn giống như con người ta bước vào tuổi trăng tròn mười tám. Vào hạ, lá và hoa đã hút no đầy linh khí của trời đất, tạo ra vô số những chùm quả nhỏ. Rồi đến mùa thu, cũng là lúc những quả trên cây chín mộng, còn đám lá xanh non giờ đã chuyển sang màu vàng rực rỡ. Nhưng chỉ một chút đông thôi, những chiếc lá vàng cuối cùng trên cây đã rơi về nguồn cội…

Tôi không có ý so sánh ông với một dòng sông… Lại càng không cố tình thần thánh hoá ông với một rừng thu vàng lá. Nhưng cái cách mà ông nói - phải đi chỗ khác chơi, cũng giống như dòng sông phải về biển cả… Như chiếc lá vàng về với cội rễ đất đai.

Ông nói “Gìa rồi…đi tìm chỗ khác chơi”. Nhưng nơi ông tìm không phải chỗ chơi, ông đang trở về nơi ông đã ra đi. Ở nơi đó có “Nắng đẹp miền quê ngoại”; có “Tiếng khóc và tiếng hát”… Ông còn làm chủ một xưởng dược "tinh thần": “Bào chế thuốc giảm đau" cho đời”…

Qua phà Rạch Miễu (bây giờ là cầu) về hướng xứ Dừa Bến Tre chừng mươi cây số, ở đó có một con đường nhỏ. Con đường ấy bây giờ vẫn chỉ là con đường đất trộn đá, vào mùa mưa nước đọng thành từng vũng, mùa nắng thì chỉ cần dập mạnh gót chân, bụi mù đã tung tẩy bay lên từng đám lớn. Trong con đường đó có căn nhà nhỏ của ông. Bạn bè cho biết, để có mấy công đất ruộng và căn nhà nhỏ ấy, ông đã phải làm việc miệt mài cả một đời văn. Từ ngày ông về, tức là ông đã tìm được “chỗ khác để chơi”, thì con đường đất hướng vào nhà ông trở nên nhộn nhịp bởi những bạn văn khắp nơi kéo tới. Người đã thành danh cũng nhiều, kẻ mới tập tạnh theo kiểu nhà văn tỉnh lẻ như tôi cũng lắm. Đặc biệt nhất là có nhiều người, cả đời chưa viết nổi một câu thơ… họ chỉ là bạn đọc, thương những nhân vật do ông sinh ra mà tìm đến tỏ bày cảm xúc. Đối với một nhà văn cả đời tận tuỵ với nghề, sống đẹp với đời thì đó là món quà trên cả tuyệt vời.

Tôi đã nhiều lần tới căn nhà nhỏ của ông. Căn nhà nhỏ nên những vật dụng trong nhà đều nhỏ, trước sân lại là một mảnh vườn nhỏ, ở đó ông trồng vài cây dấp cá, năm bảy bụi tía tô, một hai cây bưởi… Sau nhà là vườn dừa sum xuê quanh năm cho trái. Tôi đoán, ngoài lương hưu thì thu nhập lớn của một nhà văn nổi tiếng như ông là chính vườn dừa. Cũng lô gích thôi, ông viết đâu có nhiều, mỗi năm chỉ vài truyện ngắn… Từng ấy tác phẩm, nhà văn không thể sống bằng văn chương. Trước giờ đã có nhiều “cây cao bóng cả” trong làng văn và phê bình văn học đã viết về con người, sự nghiệp của ông. Người thì cho rằng ông là “Người hiền của văn học Nam bộ”; người nhận thấy “Ông là người hóm hỉnh và thâm thuý”… Có người lại tìm được ở ông “Một sự khó tính mến yêu”…

Tiếp xúc với ông nhiều, tôi còn thấy ông là một người rộng lượng, mến khách và rất hiểu tâm tính người khác. Nếu là người cùng nghề, ông thừa biết “nghề ngỗng” của người đó chẳng đi tới đâu, nhưng ông vẫn trải lòng với nghiệp văn chương. Còn người không cùng nghề, ông vẫn có nhiều câu chuyện thú vị về đời để hàn huyên cùng họ. Ông là người khó tính! Đúng thế, nhưng đúng hơn thì ông khó với bản thân và văn chương của mình. Ông là người yêu sự thanh tịnh, ghét thói bê tha, hời hợt. Trong các mối quan hệ, kể cả những việc nhỏ trong sinh hoạt thường ngày, ông luôn tôn trọng qui tắc ứng xử phải có văn hoá. Có lần ông nói: - Ở tuổi ông bây giờ đang là giai đoạn mục rữa,nhưng mục rữa cũng phải như thế nào để coi cho được… không lẽ một ông già tám mươi lại đi uống bia ôm… Cái đó thì không thể được rồi. Có nhiều tác phẩm, đáng ra bây giờ đã đến tay bạn đọc, nhưng chỉ vì còn vài chữ mà ông chưa vừa lòng và không chấp nhận công bố coi đó là một sự dở dang cần phải tiếp tục hoàn thiện. Ông khó tính với chính mình và văn mình là như vậy. Ông là người giàu “cá tính”. Điều đó thì đúng rồi. Quí ông ở chỗ, ông không có thói quen áp đặt cái tôi của mình lên người khác. Đối với những người mà ông mến yêu, ông thường nhắc tên với vài lời khen nhẹ nhàng. Còn với người không hợp tạng thì ông chỉ cười và lái câu chuyện sang một hướng khác… Có lẽ đối với ông ở thế gian này không có ai là tuyệt đối xấu, có chăng là họ chưa kịp sống tử tế mà thôi.

Mỗi lần đến thăm ông, ông thường hay mời uống rượn. Không nhiều đâu, chỉ một hai ly, có khi là rượu tây, có bữa là một cốc đế thơm ngon đúng điệu. Với ông, rượu chỉ là chất kích thích giúp cho câu chuyện bớt đi phần nhạt, còn uống tèm lem, say bí tỉ thì ông chẳng thích chút nào. Ngày xưa ông học trường Tây nên ông yêu thích văn học Pháp. Ông hay nói: - Các nhà văn Pháp họ viết nhiều hơn nói. Riêng đối với Hê-min-uê, ông coi là nhà văn bậc thầy. Ông thường mượn những câu chuyện của Hê-min-uê để gửi gắm thông điệp về chuyện nghề với những người trẻ. Ông kể, khi trả lời một nhà báo người Áo về những điều kiện cần có của một nhà văn, Hê-min-uê đã trả lời rằng: - Có năm điều kiện. Một là thái độ chính trị, thứ hai là đàn bà, thứ ba là chất kích thích, thứ tư là tham vọng và điều kiện thứ năm chính là thiếu bốn điều kiện trên.

Với tôi, ông là bậc cha, chú lại được ông coi như chỗ thâm tình, mỗi khi gặp mặt, ông vẫn thường hay lựa lời nhắc nhở. Ông nói: - Ở cái tuổi như tôi (thế hệ 6x) là cái tuổi đang phát hoả của một đời người. Vậy thì phải biết phát hoả như thế nào cho đúng điệu, đúng cách, phát hoả bằng năng lực và sự thành tâm của chính bản thân… Còn phát hoả theo kiểu hoả hoạn, xicanđan... thì oẹ lắm.

Bây giờ “ông già của tôi” đã qua tuổi tám mươi rồi. Nhưng ông vẫn giữ được sự tinh anh, thâm thuý, tuy rằng tiếng bước chân đi đã có phần nặng nhọc. Ông thường hay dùng cụm từ “mục rữa” để nói về quá trình lão hoá tự nhiên của một con người. Vẫn biết văn chương của ông không có tuổi. Nhìn dáng ông đi từng bước chậm, tôi lại nhớ đến tâm sự của người nghệ sĩ trong truyện ngắn “Tiếng khóc và tiếng hát”: - Nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất điểm tựa đáng tin cậy của mình là nỗi đau lớn nhất của một số đông thầm lặng.

Thiên lương của người nghệ sĩ trong ông thật đẹp. Cái đẹp, cái thiện nó không chỉ phát tiết ra từ trang văn, nó còn hiện hữu ngay cả trong những ngày thường lặng lẽ.

PHAN TẤN HÀ
Nguồn: SCL


Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2018

TÂM THỨC LƯU ĐÀY VÀ NỖI NHỚ CỐ HƯƠNG TRONG THƠ XUÂN NGUYỄN BÍNH

Với Nguyễn Bính, ngày Tết không trông thấy quê hương là nỗi buồn đau tột cùng… Và kiếp lưu đày chỉ khiến nỗi nhớ cố hương đầy thêm trong tâm cảm của nhà thơ. Đây cũng là chìa khóa giải mã tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương
Nhà thơ Nguyễn Bính

1. Trong những gương mặt tiêu biểu của Thi ca tiền chiến Việt Nam những năm 1932 -1945, Nguyễn Bính được định danh là thi sĩ của đồng quê  như chính ông đã tự nhận: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh / Thầy u mình với chúng mình chân quê” (Chân quê). Cái chất “đồng quê” ấy đã chuyển hóa thành những thi giới chứa đầy hồn quê, tình quê và đã trở thành một sự ám ảnh trong thơ ông. Vì vậy, đọc thơ Nguyễn Bính ít ai nghĩ rằng ở con người nhà quê “chính hiệu” ấy lại ẩn chứa một tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương, vì những tháng năm phải sống biền biệt trong cảnh ly hương. Tâm thức ấy, dường như là sự an bài của định mệnh, nó không chỉ hiển lộ trong thơ mà còn là một thực thể trong hành trình sống của đời ông qua những cuộc thiên di trên mọi miền đất nước, từ Hà Nội nghìn năm văn vật đến Cố đô Huế cổ kính, rồi dạt vào Sài Gòn hoa lệ, tới những vùng đất phía Nam tổ quốc mà bài thơ Hành phương Nam như một hiện hữu xác tín cho những tháng ngày lưu lạc “giang hồ” của cuộc thiên di này như thi nhân đã tâm sự:

                                        Đôi ta lưu lạc phương Nam này
                                        Trải mấy mùa qua én nhạn bay
                                        Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
                                        Mà ta với người buồn vậy thay
                                                         (Hành phương Nam)
     
Và trong những tháng ngày lưu lạc ấy, Nguyễn Bính luôn khắc khoải một nỗi nhớ cố hương. Nỗi nhớ ấy là tâm thức hiện sinh hiện hữu trong thơ ông, là tiên đề tạo nên dự phóng để thi nhân sáng tạo. Thế nên, khi đọc những câu thơ này, ta không thể không thấy nao nao một nỗi nhớ cố hương khởi lên từ hồn thơ của tác giả dội vào lòng ta như những con sóng vỗ bờ. Nỗi nhớ ấy như được chưng cất từ tâm cảm thi nhân, tan chảy vào thơ như một thứ mật đắng nhớ mong và xa cách của tâm thức lưu đày...

                                    Quê nhà xa lắc, xa lơ đó
                                    Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay
                                                           (Hành phương Nam)

                                     Chao ơi, Tết đến em không được
                                     Trông thấy quê hương thật não nùng
                                                              (Xuân tha hương)

2.  Song, tâm thức lưu đày ấy, không chỉ là cái riêng có của thi sĩ Nguyễn Bính. Đó là căn tính của phận người trong kiếp nhân sinh và thi nhân đã nâng lên thành một qui luật phổ quát của tâm cảm con người. Đó là cái tình hoài hương trong những ngày xuân phải sống “lênh đênh” xa cách, khi mà nhu cầu đoàn tụ, sum họp bên ngôi nhà ấm êm ở quê nhà mỗi khi Tết đến, đang là khao khát thiêng liêng đối với con người hơn bao giờ hết!?

                                       Lênh đênh tóc rối cỏ bồng
                                       Chiều ba mươi tết ai không nhớ nhà  
                                                    (Xuân về nhớ cố hương)
      
Hình như trong cõi nhân gian này, những thi sĩ đích thực đều mang thân phận lưu đày của kẻ tha hương!? Và chính điều này đã kết tinh trong thơ họ một nỗi nhớ cố hương như dấu ấn của nỗi đau xa cách. Bởi thế, Tản Đà đã từng “ngạo nghễ” trong đắng chát khi tự thú: “Giang hồ mê chơi quên quê hương”. Còn Huy Cận từng xa xót thở than “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” nên suốt đời, luôn mang trong tâm thức một mối “sầu vạn cổ” của kẻ ly hương. Thế nên, không phải ngẫu nhiên trong thơ Nguyễn Bính lại xuất hiện nhiều bài thơ xuân thể hiện tâm thức lưu đày như: Xuân tha hương, Xuân vẫn tha hươngvà ngay cả ở những bài thơ không có từ “tha hương” thì tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương vẫn đong đầy trong thi đề, thi ảnh, thi tứ của các bài thơ như: Xuân nhớ, Xuân thương nhớXuân về nhớ cố hương, Hành phương Nam, Tết biên thùy, Đêm mưa đất khách... Bởi, nỗi nhớ cũng là một phương diện khác của tâm thức lưu đày...

Trong cái nhìn của chủ nghĩa hiện sinh, con người hiện hữu giữa cõi nhân gian chính làdấn thân vào một cuộc lưu đày và cuộc lưu đày của thi nhân là một cuộc lưu đày bất tận. Vì vậy, trong thơ Nguyễn Bính nói chung và thơ xuân của ông nói riêng, tâm thức lưu đày luôn thường trực và là cảm hứng chủ đạo làm nên một hệ mỹ học của thơ ông. Thế nên, trong bài thơ Xuân tha hương được Nguyễn Bính viết ở Huế, tháng chạp năm Nhâm Ngọ 1942, câu thơ “Tết này chưa chắc em về được”, thi nhân đã nhắc lại đến bảy lần và mỗi lần thể hiện một trạng thái khác nhau của tâm thức lưu đày. Nhưng tựu trung vẫn là sự xa cách và nhớ thương trong cô độc phận người của những ngày “xuân tha hương” mà khi chạm đến những câu thơ này lòng ta không thể không thấy xa xót và cảm thương đối với thi nhân. Điệp ngữ  “Tết này chưa chắc em về được” như lưỡi dao cứa vào tim thi sĩ và người tiếp nhận vì sự ám ảnh khôn nguôi của xa cách và nhớ mong. Thi sĩ – kẻ tha hương dường như đang tha thiết kiếm tìm sự đồng cảm, tri âm trong nỗi đau xa xứ đang đè nặng tâm hồn ông đến “não nùng”...

                                Tết này chưa chắc em về được
                                Em gửi về đây một tấm lòng
                                Ôi, chị một em, em một chị
                                Trời làm xa cách mấy con sông
                                  ...
                                 Tết này chưa chắc em về được
                                 Em gửi về đây một tấm lòng
                                 Chao ơi, Tết đến em không được
                                Trông thấy quê hương thật não nùng
                                                       (Xuân tha hương)
         
Song, cái tâm thức lưu đày đó không chỉ đơn thuần là sự cách xa, là nỗi buồn và niềm thương nhớ đến quặn lòng đối với cố hương mà đó còn là nỗi cô đơn của thân phận vốn là một yếu tính của kiếp người. Và khi nỗi cô đơn đẩy đến tận cùng thì tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương kết lại thành nỗi đau nhân thế. Bài thơ Xuân lại tha hương của Nguyễn Bính là hiện thân của nỗi đau này, khi mỗi độ xuân về nhưng thi nhân vẫn là kẻ bơ vơ, lạc loài, vẫn “ăn cái Tết ngoài thiên hạ”, vẫn sống lặng thầm trong cảnh tha hương:

                                     Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió;
                                     Xuân này em chị vẫn tha hương,
                                     Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ,
                                     Son sắt say hoài rượu bốn phương.
                                                        (Xuân tha hương)
        
Phải chăng, những bài thơ thấm đẫm nỗi buồn nhân thế này cũng là một giá trị trong thơ Nguyễn Bính. Nỗi buồn ấy là kết tinh từ thân phận lưu đày của thi nhân trong những mùa xuân tha hương, trong những ngày tháng “giang hồ” trên khắp mọi miền đất nước, mà có những lúc ông phải sống như kẻ không nhà, sống trong đói cơm, thiếu áo và chỉ còn có thơ để ông “vịn” (từ của Phùng Quán) vào đó mà tồn sinh, mà hiện hữu... Cho nên, có thể nói, những bài thơ xuân với cảm thức “tha hương” của Nguyễn Bính đã tạo nên một cảm thức mỹ học về nỗi buồn của kiếp lưu đày trong thân phận con người. Vì vậy, Đào Trường Phúc trong bài viết: “Nguyễn Bính những mùa xuân tha hương”, khi nhận định về tính chất tha hương của Nguyễn Bính, rất có lý khi cho rằng: “Có hay chăng một thứ định mệnh ràng buộc Nguyễn Bính với những chuyến đi? Đó là những chuyến đi vừa thơ mộng vừa cay đắng, những chuyến đi thất bại. Đó là những chuyến đi cô quạnh, nếu có một kẻ đồng hành nào thì cũng chỉ là kẻ đồng hành tình cờ, gặp nhau trong nỗi cô đơn của mỗi người để chia sẻ một chút gió bụi buồn của giang hồ, rồi lại chia lìa nhau suốt đời. Đó là những chuyến đi chất chứa đầy nhớ thương, đầy chua chát, đầy tan nát. Đó là những chuyến đi tượng trưng đầy đủ nhất cho định mệnh của một thi sĩ giang hồ, của thi sĩ và giang hồ”.(1) Và Nguyễn Bính gọi đó là nỗi buồn của “tên lính ở biên cương” như chính ông đã thú nhận ở bài thơ Xuân tha hương:

                                         Em đi non nước xa khơi quá!
                                        Mỗi độ xuân về bao nhớ thương;
                                        Mỗi độ xuân về em lại thấy,
                                        Buồn như tên lính ở biên cương.
                                                          (Xuân tha hương)
        
Và theo Đào Trường Phúc chính nỗi buồn, niềm cô đơn của những ngày tháng lưu đày trong kiếp giang hồ đó đã đốt cháy trong tâm thức Nguyễn Bính một khao khát trở về, một khát vọng hoài hương, một cái “ngoảnh lại” trong cuộc phiêu lưu của việc chạy đua với định mệnh. Chính “Nỗi cô đơn, tình hoài hương, tâm trạng lưu đày cùng một lúc phả vào thơ Nguyễn Bính trong giai đoạn sau này của đời ông, một hơi thở chua chát thê lương và đốt nóng lên trong dòng thơ ấy ngọn lửa khao khát của một ngày về.”(2) Nhưng cay đắng hơn, tâm thức lưu đày ấy không chỉ là hệ quả của sự xa cách quê hương bởi những cuộc thiên di, để từ đó thi nhân khao khát một ngày trở về như Đào Trường Phúc đã viết mà có khi ông đã trở thành “kẻ lưu đày” trên chính quê hương mình. Vì vậy, có thể nói, tâm thức lưu đày trong thơ xuân của Nguyễn Bính chính là một phẩm tính hiện sinh của thân phận, của thế giới nội cảm kết tinh và lan tỏa trong vũ trụ thơ ông. Nó không phải là những “tinh tú rực rỡ” vô hồn mà là những “vì sao trơ trọi” của nỗi cô độc phận người trong kiếp tha hương. Vì vậy, nó gần gũi với tâm cảm của con người như một sẻ chia, bởi trong kiếp sống lênh đênh phận người, ai lại không có những ngày tháng xa quê. Thơ Nguyễn Bính chân thật mà say đắm hồn người là vì thế...

                             Quê nhà gối chiếc, thôi rồi kẻ
                             Chia nửa vầng trăng với dặm trường
                                             (xuân vẫn tha hương)
     
Để rồi, “Trong nỗi cô quạnh ấy, ngọn lửa khát vọng của ngày về quê hương vẫn không tắt trong lòng Nguyễn Bính, ngọn lửa thắp sáng giữa cõi phi - ý - thức đó đôi lúc đã khiến cho chính ông có những ảo giác về một ngày về. Lời ước hẹn và giấc mơ của những bài thơ chất chứa lòng sầu xa xứ.” (3)

                      Đất Bắc phải đâu là đất khách
                      Sao lòng mãi nặng mối tình quê?
                                               (Xuân nhớ)
         
Nhưng dù có đi đến đến tận cùng của nỗi khao khát “qui cố hương” thì Nguyễn Bính cũng không thể nào vượt qua sự đặt để của số phận trong kiếp lưu đày của một thi sĩ giang hồ. Vì theo Đào Trường Phúc thì “tình hoài hương của Nguyễn Bính, như thế, vẫn không biến đổi gì từ cái bản chất đặc biệt phảng phất trong mỗi câu thơ, từ Lỡ bước sang ngang đến những bài thơ cuối cuộc đời ông. Nguyễn Bính trước sau vẫn chỉ là một thi sĩ giang hồ, một thi sĩ tha hương.”(4) Và lý giải điều này từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh, Đào Trường Phúc đã rất có lý khi cho rằng: “Nỗi cô đơn của Nguyễn Bính, của một kẻ tự lưu đày trong những chuyến lang thang tìm kiếm quê hương bằng những bước rời xa quê hương, như thế, trở thành gần như một nỗi cô đơn thu kín và tuyệt vọng.” (5) Và đây chính là nhân duyên làm nên kiếp sống giang hồ của Nguyễn Bính trong những ngày hiện hữu ở cõi đời mà tâm thức lưu đày trong thơ xuân của ông là một phần trong kiếp “giang hồ” của thi sĩ.

                                  Trót đà mang số sinh ly
                             
Bao giờ tôi mới được về cố hương
                                 
Xuân về những nhớ cùng thương
                             
Trời ơi! Muôn vạn dặm đường xa xôi!
                                   Chiều ba mươi hết năm rồi
                             Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà
                                    Tôi còn lận đận phương xa
                              Để ăn cái tết thật là vô duyên.
                                          (Hành phương Nam)
      
Bài thơ Hành phương Nam như một dự báo cho cuộc đời ông khi ông dự cảm: “Chiều ba mươi hết năm rồi / Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà”. Bởi, cách đây năm mươi năm, ngày 29 Tết, Bính Ngọ 1966 (năm ấy, tháng Chạp không có ngày 30) ông đã “đi ra ngoài cõi sống” không phải trong ngôi nhà của mình mà ở nhà một người bạn yêu thơ ông. Thì ra, ngay cả đến khi chết, Nguyễn Bính vẫn chọn cái chết của một kẻ tha hương, một kẻ không nhà. Sinh thời, có thể nói, Nguyễn Bính là một trong không nhiều thi sĩ viết nhiều, viết hay và đắm đuối về mùa xuân... vậy mà đời ông hình như chưa có một ngày xuân viên mãn!? Số phận luôn đẩy ông vào những bi kịch của cuộc sống. Phải chăng, vì thế, ông đã trở thành thi sĩ thiên tài, dù chỉ là một thiên tài lỡ dở như Tạ Tỵ đã xác quyết: “Bính là một thiên tài, nhưng là một thiên tài lỡ dở, vì tổng kết từ cuộc sống bản thân tới nghệ thuật, ở bên trong mỗi dữ kiện người ta cảm thấy như Định Mệnh đã an bài cho Bính sự trừng phạt hơn ân thưởng. (...) Sự lỡ dở do Tình Yêu, do cuộc đời, do bạn hữu, do bản thân tạo nên, tất cả như a vào nhau để làm cho tiếng thơ buồn của Bính vút lên rồi tỏa ra những làn ánh sáng kỳ diệu giữa trời thơ nước Việt hôm qua, hôm nay và mãi mãi.”(6)
     
3. Có thể nói, số phận đời ông đã vận vào những câu thơ của ông như một định mệnh, để rồi ông mãi mãi là một kẻ suốt đời rong ruổi trên dặm đường thiên lý mà ngày trở về chỉ là một ước vọng mù khơi. Vì vậy, tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương trong thơ xuân Nguyễn Bính cũng là một phần cuộc đời ông, là một hệ giá trị trong thiên tài thơ Nguyễn Bính mãi mãi còn lại với thời gian... Đọc thơ xuân Nguyễn Bính trong cái se lạnh của những ngày chuyển mùa, không thể không day dứt bởi những vần thơ chân mộc nhưng hàm chứa triết lý nhân sinh sâu sắc: Khát vọng gắn bó con người với quê hương luôn là một hằng số văn hóa, là cội nguồn của sự sống. Với Nguyễn Bính, ngày Tết không trông thấy quê hương là nỗi buồn đau tột cùng… Và kiếp lưu đày chỉ khiến nỗi nhớ cố hương đầy thêm trong tâm cảm của nhà thơ. Đây cũng là chìa khóa giải mã tâm thức lưu đày và nỗi nhớ cố hương, một giá trị nhân văn trong thơ xuân Nguyễn Bính còn neo đậu mãi ở bến bờ tâm thức của người tiếp nhận và là căn tố tạo nên sự bất tử của đời thơ Nguyễn Bính...

TRẦN HOÀI ANH
Nguồn: NVTPHCM
     
Chú thích:

(1) (2) (3) (4) (5)  Đào Trường Phúc: “Nguyễn Bính, những mùa xuân tha hương” Văn 189/1971, tr.45, tr. 50, 51, tr.52, tr.53, tr.51
(6) Tạ TỵMười khuôn mặt văn nghệ, SG, 1970, tr.134



Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

HIỂU VỀ MẠNG XÃ HỘI TỪ GÓC NHÌN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA DÂN GIAN

Theo quan điểm của các nhà folklore học Hoa Kỳ thế kỷ XX, chủ thể của văn hóa dân gian không còn được hiểu theo nghĩa chung chung hoặc những nông dân không biết chữ nữa, mà là các “nhóm dân gian” (folk group) gồm từ hai người trở lên và chia sẻ với nhau một “văn hóa phi chính thống” (folk culture) nào đó. Một trong những “folk group” sôi nổi nhất của xã hội đương đại là các “folk group” trên mạng Internet/ “folk group” trong môi trường kỹ thuật số (Internet/ Digital folk group).

Bài viết này khảo sát một bộ phận của “Internet folk group” đó tại Việt Nam là “folk group” trên mạng xã hội. Dựa vào các cách hiểu đương đại của Folklore học Hoa Kỳ về “văn hóa dân gian” (folklore), “truyền thống” (tradition), “nhóm dân gian” (folk group), chúng tôi vạch ra những “luật chơi” của môi trường dân gian trên mạng xã hội, từ đó lý giải cho sự say mê (và kèm theo cả sự e dè) đối với mạng xã hội tại Việt Nam.

“Truyền thống” bao hàm cả cái đang diễn ra, và “dân gian” có thể là tất cả mọi người, mọi thành phần xã hội

Folklore học (tạm dịch là ngành nghiên cứu văn hóa dân gian) là một ngành học phát triển mạnh ở Hoa Kỳ ngày nay. Lynne S. McNeill trong một giáo trình ngành Folklore học đã định nghĩa folklore như sau: “Folklore là văn hóa truyền thống và phi chính thống. Đó là tất cả những gì thuộc về văn hóa - như phong tục, truyện kể, trò đùa, nghệ thuật - mà chúng ta học lẫn nhau; bằng đường truyền miệng hay bằng cách quan sát, hơn là từ những tổ chức chính thống như trường học hay phương tiện truyền thông”(1).

Tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ngộ nhận về văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian thường được gắn với những gì xưa cũ, thuộc thế hệ ông bà cha mẹ của chúng ta, hay gắn với tầng lớp nông dân ít học. Tuy nhiên, ngành nghiên cứu văn hóa dân gian trên thế giới thế kỷ XX đã chỉ ra rằng: đặc tính của văn hóa dân gian là truyền thống chứ không phải cổ truyền, và dân gian cũng không đồng nghĩa với bình dân (2).

Khái niệm “truyền thống” tại Việt Nam thường được hiểu theo chiều kích lịch đại và theo thời gian; nhưng thật ra truyền thống còn có cả chiều kích đồng đại và trong không gian nữa. Từ năm 1893, nhà folklore học người Anh là Joseph Jacobs trong công trình The Folk (Dân gian) đã chỉ ra rằng [1] folklore liên tục được cập nhật (update) và sáng tạo ra (invent), và vì vậy mà folklore bao hàm sự đổi mới (innovation), và hệ quả là nó bao hàm cả sự chủ động và mang tính cá nhân; [2] “folk” không phải là một cấp bậc (level) của xã hội, mà là một nhóm người chia sẻ với nhau một truyền thống, và họ có thể thuộc về bất kỳ tầng lớp nào; và [3] truyền thống không phải là tri thức thuộc về những người không biết chữ/ thất học (illiterate), mà là một quá trình mà các thành viên trong đó hiểu các quy tắc ứng xử bằng cách làm theo những khuôn mẫu có tính không gian và tâm lý (3).

Như vậy, truyền thống là cái chúng ta đang tạo ra mỗi ngày, đang thích nghi những di sản của cha ông vào trong những điều kiện hiện đại và đương đại của chính chúng ta. Truyền thống không phải là cái cố định, tĩnh tại, đã qua; mà là cái đang vận động, đang biến đổi. Đồng thời, những biến đổi đó không phải ngẫu nghiên, rời rạc, cá thể mà là sự biến đổi được dân gian (folk) đồng thuận ở cấp độ xã hội. 

“Dân gian” ngày nay không chỉ có nghĩa là những nông dân không biết chữ, ít học; dân gian (folk) ngày nay được hiểu là tất cả mọi người, họ tạo thành các folk group (nhóm dân gian) theo nhiều cấp độ rộng hẹp khác nhau (folk group nghề nghiệp, folk group tôn giáo, folk group công sở, folk group trường đại học, folk group trẻ em, folk group kỹ thuật số - các “cư dân mạng” theo cách gọi hiện nay). Các thành viên trong folk group này chia sẻ với nhau một folk culture bên cạnh một văn hóa chính thống (institutional culture). Và bất cứ khi nào có con người, có sự giao tiếp thì có folklore hay văn hóa dân gian! (4) 

“Cư dân mạng” là một nhóm dân gian và chia sẻ với nhau một văn hóa dân gian

Như đã trình bày ở trên, văn hóa xã hội bao hàm văn hóa chính thống và văn hóa phi chính thống (tức văn hóa dân gian). Chúng ta không thể hiểu thời đại của mình nếu bỏ qua phần văn hóa dân gian đó. Và mạng xã hội cũng là một môi trường dân gian như thế. Ở đó, chúng ta có một “cộng đồng” đang giao tiếp và tương tác mạnh mẽ với nhau mỗi ngày, đang sản sinh ra những “luật chơi” (rules) riêng cho họ, sản sinh ra một nền văn hóa phi chính thống, tươi trẻ và đầy tính phản biện.

Ở phương diện nội dung và hình thức biểu đạt của nền văn hóa dân gian đó, chúng ta thấy một bức tranh phong phú bề bộn: các câu chuyện cười chính trị-xã hội-văn hóa, truyền thuyết đô thị, chuyện kể kinh nghiệm cá nhân, truyện ma…; các thông tin và kiến thức được chia sẻ hàng loạt: kĩ năng sống, nuôi dạy con, làm đẹp, sơ cấp cứu…. Cộng đồng mạng sử dụng những cách diễn đạt rất “dân gian”: vừa rập khuôn theo công thức (hay còn gọi là mô-típ), vừa sáng tạo trong việc tạo ra các dị bản đa dạng (“Chỉ có đàn ông mới mang lại hạnh phúc cho nhau”“Chỉ có phụ nữ mới mang lại hạnh phúc cho nhau”“Người yêu không có nhưng chó phải có một con”“Người yêu không có nhưng bạn thân phải có một đứa”…); và một “kho” những biểu tượng cảm xúc (emoticons), những hình động, những từ viết tắt (lol, kaka, hehe, ahihi, ahuhu) để tăng tính biểu cảm chính xác hơn khi không thể giao tiếp mặt đối mặt. Văn hóa mạng xã hội có sự kết hợp của ngôn ngữ, hình ảnh và âm thanh. Rất phổ biến trên mạng xã hội là các Internet meme (thường gọi là “ảnh dìm”, “hình troll”) - một hiện tượng sống động của văn hóa dân gian thời đại kỹ thuật số. Các meme này sử dụng những hình ảnh có tính phổ biến (các nhân vật quen thuộc như Doraemon, Bạch Tuyết, Tổng thống Trump, Obama, “Cô giáo bọ cạp…”) và lắp ghép vào đó các câu châm ngôn hài hước theo một công thức nào nó được biến tấu lại (5).

“Cộng đồng mạng” chính là nhóm dân gian (folk group) và đây là môi trường dân gian đúng nghĩa. Không có một văn bản chính quy nào dạy chúng ta phải ứng xử ra sao trên facebook, chúng ta chỉ việc quan sát người ta làm và làm theo thôi. Quan sát và làm theo là một đặc thù của văn hóa dân gian. Trong đời sống dân gian, nếu chúng ta ngoáy mũi khi đứng trước mặt sếp, hay chạy đến ôm hôn thắm thiết cha mẹ của bạn mình, hay vào tiệm thức ăn nhanh và ngồi lên bàn, đưa tay vẫy người phục vụ đến ghi món… thì chẳng ai phạt tiền hay tống giam chúng ta cả, nhưng chúng ta sẽ bị nhìn như người ngoài hành tinh. Các khu vực dân gian đều có những quy định bất thành văn của nó. Trong nghệ thuật dân gian thì quy định này còn rõ ràng và chặt chẽ hơn. Chẳng hạn như, ca hát Quan họ - đỉnh cao của nghệ thuật ca hát dân gian - có những quy định rất nghiêm túc và đôi khi ngặt nghèo. Việc các liền anh, liền chị chỉ có thể giãi bày tình yêu dành cho nhau trong nghệ thuật nhưng trong cuộc đời thực thì không được tiến đến hôn nhân là một quy định rất “trái ngang” như thế, nhưng những người tham dự đều tự nguyện chấp nhận và làm theo. Tuy có những luật lệ nghiêm khắc và chặt chẽ nhưng ca hát quan họ vẫn không trở thành biến thành văn hóa chính thống mà vẫn trong địa hạt văn hóa dân gian; vì những quy định đó được xây dựng trên hạt nhân cốt lõi là sự tự nguyện của mỗi cá nhân khi muốn gia nhập vào cộng đồng đó (khác với thể chế chính thức - không có vấn đề tự nguyện hay ý muốn cá nhân).

Tuy nhiên, do thiết chế mạng xã hội quá mới mẻ (so với các thiết chế cổ truyền) nên những “rules” này cũng gây tranh luận gay gắt ngay trong chính những thành viên của mạng xã hội: người thì bảo chỉ nên chia sẻ những nội dung vui vẻ tích cực, người thì bảo facebook là trang cá nhân nên tôi toàn quyền sử dụng; người thì bảo đừng tranh luận trên facebook vì vô bổ, đầy rẫy ngụy biện, tốn thời gian, người lại bảo không góp tiếng nói gì hết thì sử dụng facebook làm gì, v.v..

Những “luật chơi” của mạng xã hội

Là một cộng đồng, không gian văn hóa đặc thù, mạng xã hội cũng có những “rules” (luật chơi) của riêng nó. Để hiểu về mạng xã hội không thể không vạch ra được các “rules” này; đồng thời để đánh giá khách quan về nó, không thể lấy “luật chơi” của những khu vực văn hóa khác để áp đặt và phê bình nó.

“Luật chơi” đó phải được thiết lập dựa trên những đặc thù của môi trường mạng xã hội và phải do các thành viên đồng thuận (một cách phi chính thức) chứ không thể do một cá nhân riêng lẻ nào thiết lập. Chẳng hạn như, nếu một người nào đó tham gia mạng xã hội rồi hùng hồn đưa ra quan điểm từ nay sẽ không tranh luận trên mạng xã hội vì cho rằng nó vô bổ, đầy rẫy ngụy biện và tốn thời gian. Lúc đầu, có thể anh/chị ấy sẽ được mọi người khen ngợi, đồng tình (vì mạng xã hội rất thích các tiếng nói trái chiều). Nhưng nếu về lâu dài, anh/chị ấy cứ tiếp tục “không bình luận” trên mạng xã hội thì các quan hệ mạng xã hội của anh/chị ấy sẽ dần dần biến mất; và tự bản thân anh/chị ấy cũng sẽ chán nản và cảm thấy bị đẩy ra rìa của mạng xã hội. Đặc trưng này là điều làm nên tính dân chủ và tươi trẻ của mạng xã hội.

Dù chưa định hình một cách cụ thể như đã nói ở trên, nhưng bước đầu chúng ta có thể nêu ra một số “rules” phi chính thức trên mạng xã hội, nhưng hầu hết mọi người sử dụng mạng xã hội đều ít nhiều thừa nhận, như sau:

Tính chất chính của mạng xã hội là giải trí, và nhiều ứng xử trên mạng sẽ tuân thủ nguyên tắc này. “Vui là chính” nên nhiều người sẽ không ngại ngần đăng rất nhiều ảnh (có thể đăng liên tục, ảnh tự chụp hoặc người khác chụp, “nghệ thuật” hoặc “báo chí” hoặc “bình dân/ đời thường”). Giải trí là quan trọng nên một bài viết cũng không quá dài (nhiều khi vài dòng là đã có một trạng thái), ngắn gọn, rõ ràng, kèm theo ảnh minh họa. Đó là nguyên tắc dựa trên tính chất của mạng xã hội, nên hoặc là bạn chấp nhận (có thể lặng lẽ bỏ theo dõi tin về người đó như một giải pháp không còn thấy về người đó trên “tường” của mình), còn nếu bạn phê bình trực tiếp thì bạn sẽ trở nên lạc lõng hoặc mất lòng bạn bè.

Tính chất quan trọng thứ hai của mạng xã hội là tương tác. Tương tác gồm nhiều hình thức: bày tỏ sự yêu thích, tiếc nuối, phẫn nỗ; hoặc bình luận đơn giản xã giao, hoặc bình luận thân mật…; và khi người khác bình luận về bạn thì bạn không thể không trả lời. Bởi vì là tương tác nên nó cũng tuân thủ những nguyên tắc về lịch sự giao tiếp thông thường: hô - ứng và hồi đáp, hài hước đúng chỗ, tùy vào quan hệ thân sơ mà có thái độ phù hợp,v.v..

Một đặc tính quan trọng nữa làm nên sức thu hút của mạng xã hội là tính chất dấn thân và ý muốn cải tạo xã hội. Đây chính là khía cạnh thực tế, cụ thể nhưng được xây đắp trên nền móng đượm màu sắc bay bổng, lãng mạn không thể thiếu của bất kỳ một nền văn hóa dân gian nào. Mạng xã hội là nơi tập hợp những con người có một lý tưởng hành động trên rất nhiều lĩnh vực đa dạng, tụ hội họ vào những nhóm lớn nhỏ khác nhau chia sẻ cùng một vấn đề nào đó: chính trị, làm đẹp, sức khỏe, nuôi dạy con cái, du lịch, tiêu dùng thông minh, bảo vệ môi trường… Đặc tính này được thể hiện qua hai hình thức: cá nhân (facebook cá nhân) và tập thể (fanpage). Đây là một môi trường mà sức cạnh tranh của facebook cá nhân nhiều khi còn mạnh mẽ hơn fanpage của một tổ chức. Các cá nhân có thế mạnh về một số lĩnh vực nào đó (lịch sử, nuôi dạy con, làm đẹp…) tập hợp xung quanh họ một lượng tương tác rất đáng kể. Do bị chi phối bởi đặc tính tương tác nói trên nên mọi người nhiều khi thích tương tác với một nhân vật mạng xã hội cụ thể, sống động hơn là một tổ chức chung, phi cá nhân nào đó được quản lý bởi một hoặc một đội admin (người quản lý) giấu tên.

Theo chúng tôi, ba thuộc tính nổi trội trên hình thành các “luật chơi ngầm” trên mạng xã hội mà các thành viên trong cộng đồng muốn tham dự phải tuân thủ nếu muốn có một đời sống trên mạng xã hội lành mạnh, tích cực: tôn trọng sở thích, khuynh hướng, lý tưởng của các thành viên khác của cộng đồng mạng; không thể từ chối tranh luận và khi giao tiếp phải tuân thủ những nguyên tắc về lịch sự giao tiếp như một giao tiếp ngoài đời thực,v.v..

Dù ngày nay đã có sự tham dự mạnh mẽ của tổ chức, tập đoàn, thậm chí phòng ban, chính phủ; nhưng chúng tôi nghĩ đặc điểm căn cốt, làm nên bản sắc và sự sống còn của mạng xã hội vẫn là tính cá nhân, trong đó tính giao tiếp, sự tương tác cá nhân trực tiếp là tối quan trọng để duy trì sự tồn tại của môi trường này (Đó là lý do chính mà chúng tôi tự tin gọi mạng xã hội là một hình thức của môi trường văn hóa dân gian đương đại). Các tổ chức văn hóa xã hội, các hình thức kinh doanh online, các fanpage chính phủ, fanpage các thương hiệu hàng hóa… nếu muốn gia nhập môi trường này thì họ phải tuân theo những “luận chơi” đó: phải giao tiếp và tương tác, phải có tính giải trí, phải quan tâm đến các vấn đề xã hội. 

Niềm yêu thích mạng xã hội tại Việt Nam và những “lấn cấn” của người Việt về ích lợi và tác hại của mạng xã hội

Tại sao mạng xã hội phát triển mạnh ở Việt Nam? Theo thống kê của Hootsute và We Are Social vào tháng 4/2018, mạng xã hội có đông người dùng nhất là Facebook với 2,23 tỉ người dùng; trong đó Việt Nam là nước có số lượng người dùng Facebook lớn thứ 7 thế giới với 58 triệu tài khoản (6). Dĩ nhiên có nhiều lý do để lý giải cho hiện tượng này. Trong bài viết này, chúng tôi thử lý giải dựa trên văn hóa và nếp sống “cổ truyền” của người Việt đã ảnh hưởng đến cách ứng xử và các hành vi, quan hệ văn hóa ngày nay.

Người Việt Nam là dân tộc yêu thích đời sống làng xã, những quan hệ thân tình. Vì thế mà phải chăng khi xã hội đô thị hóa và không gian sống bị thu vào những căn hộ chung cư, những ngôi nhà phố, cảm thức tiếc nuối về không gian “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, hay gần đây hơn là những khu “ngõ nhỏ, phố nhỏ/ nhà tôi ở đó” - những tổ dân phố - đã phần nào dần dần chuyển dịch lên mạng xã hội. Nơi đó có một đời sống sôi nổi những mối quan hệ từ họ hàng đến thân thiết, hơi thân thiết, và thậm chí không quen biết ngoài đời nhưng ít nhiều cảm mến nhau qua mạng.

Tại sao mạng xã hội bị phê phán tại Việt Nam (song song với sự say mê mạng xã hội tại Việt Nam)? Theo chúng tôi, đó là khi người sử dụng chưa ý thức được sự rạch ròi giữa các môi trường tương tác, dẫn đến sự chồng lấn giữa các môi trường. Có nhiều loại biểu hiện của sự chồng lấn này, xin đơn cử hai trường hợp: 

1) Chồng lấn giữa không gian của quan hệ cá nhân và không gian của quan hệ mạng xã hội. Có những hình ảnh mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu: gia đình đi ăn tối, bạn bè đi chơi, tình nhân hẹn hò nhưng mỗi thành viên trong nhóm đó lại mỗi người sử dụng một chiếc điện thoại thông minh để lên mạng xã hội;

2) Chồng lấn giữa không gian công việc và không gian mạng xã hội. Chúng ta có thể bắt gặp cảnh vào những giờ làm việc ở văn phòng, khu dịch vụ… nhưng máy tính của nhân viên luôn mở Facebook hoặc đang trò chuyện trên Messenger. Đó là sự lấn sân của không gian mạng xã hội sang không gian làm việc. Ở một hướng ngược lại là sự lấn sân của không gian làm việc sang không gian mạng xã hội: Với một chiếc điện thoại bật 3G 24/24, nhân viên có thể nhận chỉ đạo của sếp 24/24, học trò có thể hỏi han thầy cô 24/24, và một số thầy cô nhiều khi cũng chọn hình thức mạng xã hội để làm mới các hoạt động giảng dạy của mình.

Những sự lấn sân này hình thành một sự ác cảm về mạng xã hội (song song với sự tôn vinh mạng xã hội): mạng xã hội là nơi làm đứt gãy các quan hệ gia đình, cá nhân; mạng xã hội khiến chúng ta mệt mỏi vì đến thời điểm nghỉ ngơi vẫn phải trả lời các tin nhắn về công việc, khi việc học hành và làm việc lấn sang cả những giây phút thư giãn, giải trí. Tuy nhiên, cũng phải nhận thức rằng: những phân tích trên cho thấy tự thân mạng xã hội không tiêu cực. Nếu chúng ta biết cách khu biệt các không gian này và tránh sự chồng lấn kể trên thì mạng xã hội nhiều khi lại là phương tiện làm đầy thêm và sâu sắc hơn các quan hệ xã hội và cá nhân của chúng ta, trong điều kiện không gian sinh sống và tương tác thực tế đang thu hẹp như hiện nay. 

Lời kết

Một trong những vấn đề của nghiên cứu văn hóa là ranh giới giữa văn hóa trung tâm và văn hóa ngoại vi, hay sự chuyển dịch từ văn hóa từ trung tâm sang ngoại vi. Hiện tại, mạng xã hội là khu vực văn hóa ngoại vi, nhưng dần dần, nó đang chuyển vào trung tâm: ngày nay, nhiều người không đọc báo giấy mà đọc báo mạng (vì có nhiều comment tương tác thú vị hơn dưới các bài báo mạng), thậm chí không vào website của báo để đọc mà chỉ xem cư dân mạng chia sẻ những vấn đề thời sự gì vì thường cư dân mạng rất nhanh chóng và rất “thực” (theo quan điểm của người đọc những thông tin loại này); ngày nay, nhiều người không xem ti vi nữa vì mạng đã trở thành một kênh giải trí chính; mạng xã hội là công cụ giám sát của người dân, và nhiều quyết định của chính quyền hay tổ chức ngày nay đang bắt đầu dựa trên những phản hồi và những tiếng nói rất mạnh mẽ từ cư dân mạng.

Sâu xa hơn nữa, với điều kiện làm việc, học tập, ăn ở và giao thông đi lại ngày nay, tương tác mạng đang tăng dần lên; các mối quan hệ trên mạng đang dần trở thành một phần trong các quan hệ của con người: mạng không còn “ảo” nữa, mạng có những quan hệ bạn bè đích thực giúp đỡ nhau khi hoạn nạn ốm đau, chia sẻ với nhau những thời điểm đặc biệt (và cả không đặc biệt) của mỗi thành viên, trên mạng có những cuộc tranh luận học thuật nghiêm túc (lẫn thiếu nghiêm túc) mà những người tham gia không có quan hệ ngoài đời thực. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta phải nghiên cứu một cách nghiêm túc về môi trường “dân gian” này.

ThS. LÊ THỊ THANH VY
Nguồn: Vietstudies

Chú thích:

(1) Lynne S. McNeill (2013), Folklore Rules, Utah State University Press, tr.16.
(2) Xem thêm:
- Mamie Harmon (1949), “Folklore”, Funk and Wagnalls Standard Dictionary of Folklore, Mythology, and Legend, 2 vols., ed. Maria Leach, New York: Funk & Wagnalls, tr.399-400.
- Alan Dundes (1980), “Who are the Folk?”, Interpreting Folklore, Indiana University Press, tr.1-19. 
(3) Joseph Jacobs (1893), “The Folk”, Folk-Lore 4, tr. 233-238, dẫn theo Simon J. Bronner, Folklore the Basics, Routledge - Taylor & Francis Group, tr.18.
(4) Xem thêm Alan Dundes (1980), “Who are the Folk?”, Interpreting Folklore, Indiana University Press, tr.1-19 và Lynne S. McNeill (2013), “Types of Folk Groups”, Folklore Rules, Utah State University Press, tr.65-88.
(5) Có thể tra cứu trên Google với các từ khóa như “Internet meme”, “Viet Nam” để tìm hiểu thêm.

Tài liệu tham khảo
1. Bronner, Simon J. (2017), Folklore the Basics, Routledge - Taylor & Francis Group.
2. McNeill, Lynne S. (2013), Folklore Rules, Utah State University Press.
3. Viện Nghiên cứu văn hóa (2005), Folklore thế giới - Một số công trình nghiên cứu cơ bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Viện Nghiên cứu văn hóa (2005), Folklore thế giới - Một số thuật ngữ đương đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.



HOÀNG THANH HƯƠNG - NGUYÊN SƠ TÌNH YÊU BAZAN

Tập thơ Mùa gió hát của Hoàng Thanh Hương (NXB Văn hóa Dân tộc 2013) là cuộc dấn thân của tác giả và hành trình cuộc sống với những trải nghiệm nơi vùng đất bazan đầy nắng gió với những đêm xoang bất tận, những ché rượu cần say nối cơn say…

Thơ là những “tinh hoa phát tiết” từ những xúc cảm, từ những dư ba của cuộc sống vọng lại trong tâm hồn người nghệ sĩ. Nó là sự nguyên mộng không giống ai, không dễ bắt chước với vẻ đẹp dịu dàng, tinh khiết từ những con chữ không tính toan gì ngoài sự cống hiến cái đẹp cho xã hội. Vì vậy, thơ là sự tuôn trào tự do theo cảm xúc, theo nhịp rung cảm thổn thức của người sáng tạo. Và, “Mùa gió hát” là sự rung cảm, sự thăng hoa và cả sự mộng mơ say đắm, sự đau xót cho những điều đã và đang dần mất đi trên mảnh đất ba zan mà nhà thơ Hoàng Thanh Hương gói lại trong hành trình sống và hành trình thơ của mình.
Nhà thơ Hoàng Thanh Hương

Thơ của chị không quá đánh đố người đọc mà nó là sự gần gũi, sự hòa nhập giữa con người với thiên nhiên và cuộc sống! Người đọc dễ dàng đi vào thế giới văn hóa của những đêm lễ hội: “trăng ngủ trên tẩu cha đêm pơ thi/ người già kể khan/ lúc bổng như tiếng mùa sinh sôi/ lúc trầm như lòng sông mùa cạn” (Ia Pa mùa gió). Thơ Hoàng Thanh Hương tuôn trào tự do theo dòng cảm xúc không tuân thủ cấu trúc ngữ pháp truyền thống, nó phát ra như từ ý thức mà lại là vô thức vì vậy thơ chị ghi lại được những điểm bất chợt từ cảm hứng và những chắt lọc tinh từ cuộc sống.

Hoàng Thanh Hương dìu người đọc vào những miền sâu trong tiềm thức tâm hồn, với những rung động nhẹ đến độ “gió lay sẽ đứt” trong một chiều ở khu nhà mồ: “Chiều quạnh quẽ ta ngồi trò chuyện/ Nghe hồn đi và giấc ngủ yên lành/ Đón cho cạn tình ta luyến tiếc/ Rượu ba năm thương đủ ba năm”(Viết ở khu nhà mồ). Nhà thơ trải lòng mình với thiên nhiên với cuộc sống trong ngôi nhà tâm hồn vĩnh cửu của mình. “Đêm với lửa với chiêng ta uống/ Hồn cạn đi rồi vĩnh viễn tạ từ/ Say và hát/ Và say và cạn/ Quanh nhà mồ tro cuốn tả tơi” (Viết ở khu nhà mồ). Đó là cõi vô biên mà gần gũi chan hòa với thiên nhiên nhờ vậy con người kết nối với tâm linh, với nét văn hóa đậm đà bản sắc của người bản địa đang dần mai một bởi cuộc sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa.

Mùa gió hát” là tiếng nói từ tâm hồn thổn thức của nhà thơ trẻ Hoàng Thanh Hương với vùng đất bazan. Và, “thứ đất dính người phải biết” ấy cứ bết bệt vào chị tạo nên sự bối rối, day dứt và cả sự thôi thúc nhà thơ cống hiến, trải lòng mình với nó. “Bazan/ nơi tôi không sinh ra nhưng lớn lên phổng phao quyến rũ/…./ tôi hi vọng thời gian, lòng người và những trái tim biết hát/ để rừng lại xanh, suối lại trong, sông hồ lại ắp đầy sóng sánh/ em gội tóc chiều sông ngực soi mặt sóng/ Những đường cong mềm làm mát mùa khô” (Bazan). Bazan đã thành một hình tượng lặp đi lặp lại trong “Mùa gió hát” trở thành một hình tượng cho thơ và cho tâm hồn của chị, nó như là sự hóa giải giữa những trạng thái hỗ trợ và đối nghịch nhau tạo nên sự hòa hợp khác lạ của ngôn ngữ cảm xúc tạo nên ám tượng nền nã đó mà cũng xa xót đến thắt lòng. Bazan trong chị đang biến đổi theo sự mất dần của những giá trị tâm hồn, những giá trị văn hóa, tâm linh đẹp đẽ đang dần bị xâm lấn, ngự trị trước cơn lốc xoáy hiện đại của xã hội. “một ngày mưa em về/ giày cao gót lên cầu thang chới với/ tóc thôi thơm mùi trời/ lũ em thập thò ngạch cửa/ lắc đầu nụ cười em vẫy gọi/ mẹ cha trố mắt nhìn… (phố đâu phải chốn dành cho những đứa con của làng một đời chân đất)” (Viết giữa mùa khô).

Tập thơ "Mùa gió hát" là cuộc dấn thân của tác giả và hành trình cuộc sống với những trải nghiệm nơi vùng đất bazan đầy nắng gió với những đêm xoang bất tận, những ché rượu cần say nối cơn say. Với sự đa ngôn của cảm xúc, sự phong phú của tâm hồn và sự đa cảm đến đa mang tác giả Hoàng Thanh Hương đã làm nên một bazan với những chiều sâu rất lạ trong hiện sinh phồn thực. Và cả những ký họa về cuộc sống, về quê hương dấu yêu bằng sự nhẹ nhàng, gợi mở rộng lớn của không – thời gian qua lớp lớp ngôn từ. Đó là sự gần gụi thân thương lại vừa êm đềm, xa vắng trong miền tâm tưởng đến nao lòng về quê hương: “Nằm lặng thinh nghe gió động sau vườn/ Lá lật phật đùa di da tiếng dế/ Mơ hồ bóng ai ngồi hầu lễ/ Tiếng chuông chùa xa xăm bên sông…” (Quê mình).  Hay “Ngoài phố còi xe inh ỏi/ Tiếng mua bán mời chào/ Tiếng bước chân tứ phía/ Qủa lắc đồng hồ binh boong” (Âm thanh). Mảng màu cuộc sống, tình yêu được đan xen trong tập thơ một cách khéo léo tạo nên bức tranh đẹp với nhiều mảng màu đan xen như những họa tiết quyến rũ trên tấm thổ cẩm bazan cuốn hút người đọc và người thưởng lãm.

Mùa gió hát” như một cuốn nhật ký của một tâm hồn đa cảm, là sự tao ngộ của ngôn từ, là biên độ của những cung đường đã qua, đã đến và cả sắp đi tiếp. Là sự gặp gỡ giữa những hoan ca, những thất vọng và hy vọng và cả sự đau đáu nao lòng đẫm ý thức tính nữ... Tất cả tạo nên một nốt ngân thương như hồn đang vơi… như câu hỏi tự vấn lòng của tác giả: “Em - Pleiku duyên định tự bao giờ?”.

HÀ CÔNG TRƯỜNG
Nguồn: NVTPHCM



Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018

ĐỐI THOẠI LÀ MỘT ỨNG XỬ VĂN HOÁ

“Những ngộ nhận, hiểu lầm của một số người do chưa đọc kỹ về sự chia sẻ của tôi trên facebook cũng là chuyện thường tình” - nhà thơ Phan Hoàng chia sẻ.
Nhà thơ Phan Hoàng

Từ một status của nhà thơ Phan Hoàng chia sẻ vui với bạn bè về công việc sáng tác thơ khó khăn của mình đã gây nên những hiểu lầm, ngộ nhận khi có người chưa đọc hoặc đọc không kỹ những điều anh tâm sự.

Một số người khác còn lợi dụng chuyện này để công kích, vu khống anh những điều ngoài văn chương. Nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn, báo Đất Việt đã có cuộc trao đổi với nhà thơ Phan Hoàng.

* Thời gian qua trên facebook “nổi sóng” vì có người cho rằng anh nói thơ trên facebook là thơ rác…

- Tôi không bao giờ nói thơ trên facebook (fb) là rác. Bởi trên fb có nhiều bài thơ, chùm thơ hay đáng đọc của các nhà thơ chuyên nghiệp lẫn không chuyên, trong đó có những bạn thơ thân thiết và quý trọng của tôi.

Đó là sự hiểu lầm, ngộ nhận về một status của tôi, hoặc có người thiếu thiện chí cố tình gán ghép và họ còn lấy ảnh của tôi gắn vào lời lẽ mà tôi không hề nói.

* Vậy sự thật thế nào về “thơ rác”, thưa anh?

- Tôi ít có được thời gian dành cho facebook, thi thoảng mới lên thấy có những bạn thơ quý mình đề nghị đăng thơ đọc chơi. Vì vậy tôi mới viết một status chia sẻ với họ. Tôi nói rằng mình làm thơ rất khó khăn, đôi khi viết một mạch vài chục câu nhưng rồi sửa chữa, xoá dần chỉ giữ lại được vài ba câu, mà sau đó đọc lại nữa thấy dở nên có khi xoá hết.

Thơ viết trên máy vi tính khi thấy dở xoá đi thì nó trở thành rác điện tử chứ gì. Tự mình đã thấy thơ dở, rác điện tử mà còn vô tình đăng lên fb sẽ gây “ô nhiễm môi trường”, thậm chí gây “ngộ độc” tinh thần người khác. Có những bài thơ lúc đầu tôi tâm đắc, đăng lên fb, nhưng sau đó đọc lại tự thấy dở quá nên tôi lặng lẽ rút xuống.

Thực ra những điều tôi chia sẻ chỉ nhằm tự răn mình, cảnh báo mình về sự nghiêm túc, khắt khe, cẩn trọng trong công việc sáng tác lẫn trình làng tác phẩm, cho dù đó là fb. Đây cũng là quan niệm xuyên suốt quá trình cầm bút của tôi, nhất là khi tôi tự biết mình viết chưa hay, chưa để lại dấu ấn gì đáng kể nên còn phải cố gắng.

* Có phải vì sự khắt khe với chính mình nên thấy anh ít đăng thơ, in thơ?

- Đúng vậy. Thơ với tôi là một không gian riêng biệt, một thế giới thiêng liêng của cái đẹp và sự hướng thiện. Ngoài những vần vè cho vui lúc trà dư tửu hậu, còn thơ đích thực thì không thể dễ dãi.
Tôi rất nghiêm túc, thận trọng trong công việc sáng tác. Có lúc 7 đến 10 năm tôi mới in một tập thơ, nhưng rồi đọc lại tự thấy không vừa lòng, thậm chí đôi lúc rất xấu hổ về những bài thơ mình đã viết đã in.

* Người sáng tác biết xấu hổ, khắt khe với chính mình là người cầu tiến. Anh nghĩ gì về những ý kiến không hay nhắm vào anh trên fb vừa qua?

- Những ngộ nhận, hiểu lầm của một số người do chưa đọc kỹ về sự chia sẻ của tôi trên fb cũng là chuyện thường tình. Tôi chỉ tự trách mình đã gây ra sự ngộ nhận đó chứ không trách ai.

Facebook nói riêng và mạng xã hội nói chung là một không gian mở mang tính văn hoá. Người biết dùng fb chuyển tải những thông điệp đúng đắn của mình là người ứng xử có văn hoá.

Tôi là người biết lắng nghe, học hỏi những điều hay, lẽ phải. Tôi cũng cự tuyệt những lời lẽ thô tục, vu khống, quy chụp ác ý nhằm những mục đích ngoài văn chương.

Nhà thơ lớn Lê Đạt từng nói rằng chúng ta nên tập thói quen “đối thoại” chứ không nên “đối thụi”. Đối thoại là một ứng xử có văn hoá. Lịch sử văn chương đã từng có những bài học đau thương vì thiếu đối thoại mà lại lao vào “đối thụi” đầy áp đặt.

* Có nhiều người khi đề cập về anh hay nhắc tới chức danh Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM. Xin hỏi thẳng anh, anh được lương bổng gì nhiều từ chức trách này?

- Với tôi đây chỉ là câu chuyện hội hè cho vui, dù cũng mất khá nhiều thời gian. Tôi không hề nhận bất cứ đồng lương nào từ chức danh Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM, thậm chí có những việc còn bỏ tiền túi hoặc ứng tiền trước.

Một khi hội viên tín nhiệm bầu mình lên, giao trách nhiệm thì mình cố gắng hoàn thành trong khả năng để không phụ lòng. Nhiệm kỳ này mình làm, nhiệm kỳ sau người khác làm, vì công việc chung xây dựng và phát triển hội nghề nghiệp, vậy là vui rồi.

* Không nhận lương ở Hội Nhà văn TPHCM thì thu nhập từ đâu anh sống?

- À, tôi là Trưởng đại diện miền Nam báo Văn Nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, rồi còn cộng tác thường xuyên với nhiều tờ báo và nhà xuất bản. Rất nhiều việc phải làm. Đó mới đích thực là “nồi cơm” của mình, cuộc sống của mình, chứ không phải là công việc hội hè để rồi có những lúc gánh chịu áp lực không đáng vì những chuyện linh tinh ngoài văn chương.

Vừa qua chương trình ra mắt tập tản văn “Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra” của anh được bình chọn là một trong mười sự kiện nổi bật nhất Hội Sách TPHCM lần thứ X. Hình như gần đây anh đi nhiều, viết nhiều nhưng chủ yếu viết báo, viết văn chứ ít làm thơ…

- Tôi vẫn luôn làm thơ và luôn tự xoá. Tôi không thể sống thiếu thơ. Tuy nhiên về mặt xuất bản gần đây thì tôi lại tập trung về ký sự nhân vật và tản văn. Ngoài tập “Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra” thì năm vừa qua NXB Văn hoá văn nghệ còn in tập “Sài Gòn đất thiêng khí tụ” và cả hai đang có kế hoạch tái bản.
Bên cạnh đó tập 2 bộ ký sự nhân vật “Sài Gòn đất lành chim đậu” do NXB Tổng hợp TPHCM ấn hành cũng đã ra mắt. Tôi đang lao vào viết một cuốn sách mới. Ngẫm lại thấy mình làm việc nhiều, mà rong chơi cũng dữ.

* Xin cảm ơn những chia sẻ chân thành của anh và cũng mong qua cuộc trao đổi này bạn đọc sẽ thông cảm hơn những “sóng gió” trên fb vừa qua.

TUYẾT MAI
Nguồn: Đất Việt,  4-2018



Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

GIỚI HẠN NÀO CHO TỰ TRUYỆN?

Khi nhắc đến tự truyện, nhiều nhân vật “bị” đưa vào đã đặt câu hỏi, rốt cục người viết tự truyện muốn viết về mình hay chỉ mượn tự truyện để viết về người khác?

Những tưởng cuộc tranh luận về tự truyện đã khép lại sau những câu chuyện không mấy vui vẻ xung quanh các tự truyện của nghệ sĩ như Thương Tín, Ái Vân… thì vừa qua, cuốn tự truyện của một cựu cầu thủ bóng đá lại làm bùng lên những tranh luận mới. Có giới hạn nào cho tự truyện, nhất là khi càng ngày càng xuất hiện nhiều tác phẩm gây phản ứng từ dư luận.

Lập lờ viết về mình - về người

Trong buổi ra mắt cuốn tự truyện có nhan đề Lê Công Vinh - Phút 89, cựu thủ quân đội tuyển bóng đá Việt Nam cho biết, anh viết cuốn tự truyện với mong muốn cuộc đời anh là một bài học kinh nghiệm cho những người trẻ đang và sắp bước chân vào con đường cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Quả thực, nếu nhìn ở một góc độ nào đó thì Công Vinh xứng đáng là một bài học như vậy.

Trong tự truyện, Công Vinh đã cho thấy, anh không thật sự xuất sắc, không có tài năng thiên bẩm, nhưng sự cần cù khổ luyện đã mang lại cho anh thành công rực rỡ. Trong khi đó, cùng lứa với Công Vinh có nhiều cầu thủ tài năng hơn, xuất sắc hơn nhưng vì nhiều lý do đã không thể đi hết con đường sự nghiệp. Bài học lớn nhất mà Công Vinh nhắc đến trong sách là việc tránh né các chuyện tiêu cực, từ ăn chơi cho đến cờ bạc, phe cánh…

Thế nhưng, lẽ ra nếu chỉ dừng ở việc tái hiện cuộc đời của cá nhân Công Vinh, cuốn sách đã là một tác phẩm có ý nghĩa tích cực. Đằng này, Công Vinh đã dành quá nhiều trang sách để nhận định, đánh giá về các cá nhân khác và đa số là dưới cái nhìn tiêu cực. Lẽ dĩ nhiên, bị chê bai, phê phán như vậy thì không có gì lạ khi những người trong cuộc đã đáp trả mạnh mẽ. Nhẹ nhàng thì cho rằng Công Vinh hiểu sai vấn đề, như trường hợp Huỳnh Đức, HLV Alfred Riedl… Nặng nề hơn thì tố Công Vinh đặt điều, như trường hợp cầu thủ Tấn Tài.

Trong tự truyện có đoạn Công Vinh cho rằng, HLV Alfred Riedl thương cầu thủ Phan Thanh Bình như con và ưu ái nhiều. Thế nhưng, ông Riedl vừa tiết lộ là khi đó, dàn cầu thủ chỉ có Phan Thanh Bình nói tốt tiếng Anh, ông có thể trực tiếp trao đổi để nắm thêm tâm tư tình cảm cầu thủ. Có thể vì thế Công Vinh nghĩ ông thân Phan Thanh Bình hơn, nhưng ngoài Bình ra, ông biết nói với ai đây. Trường hợp Lê Huỳnh Đức cũng vậy, anh cũng cho rằng Công Vinh hiểu nhầm, khi đó HLV có nói với anh trường hợp Công Vinh mới nghỉ xong nên không gò vào tập mà để Công Vinh tự quyết nên mới nói câu mà Vinh hiểu là “mặc kệ mày” như thế!

Cuốn tự truyện của Công Vinh lại một lần nữa đặt lại câu hỏi về giới hạn của tự truyện. Bởi bản chất của tự truyện là kể lại cuộc đời, cuộc sống của bản thân tác giả mà trong đó điểm quan trọng là mối quan hệ với các cá nhân khác xung quanh. Thế nhưng, việc nhắc đến các mối quan hệ đôi khi là rất riêng tư sẽ có ảnh hưởng lớn đến người có liên quan. Đó là chưa kể việc nhắc lại đó rất khó để xác định đúng sai.

Cách đây không lâu, cuốn tự truyện của nghệ sĩ Thương Tín đã gây xôn xao dư luận bởi trong đó, anh nhắc đến các mối quan hệ với nhiều nhân vật nữ, điều đáng nói là hầu hết trong số họ giờ đã có gia đình, đã có hạnh phúc riêng và nhiều người không lấy gì làm vui vẻ khi những chuyện bồng bột, dại khờ thời tuổi trẻ giờ lại bị nêu ra trước bàn dân thiên hạ.
Cuốn tự truyện của ca sĩ Ái Vân cũng lâm vào cảnh tương tự khi chị nhắc đến những bi kịch cuộc đời do người chồng cũ gây ra. Mà người chồng cũ giờ đã có hạnh phúc riêng còn câu chuyện phòng the giữa hai vợ chồng ngày xưa, rất khó để xác định thật giả, đúng sai.

Khi nhắc đến tự truyện, nhiều nhân vật “bị” đưa vào đã đặt câu hỏi, rốt cục người viết tự truyện muốn viết về mình hay chỉ mượn tự truyện để viết về người khác?

Khó bị thu hồi

Trước những dư luận không vui xung quanh các cuốn tự truyện, ông Chu Hòa, Cục trưởng Cục Xuất bản, cho rằng nếu có kiện tụng thì tự truyện sẽ bị thu hồi. Tuy nhiên, theo nhận xét của một số luật sư, điều này khó thực hiện, bởi gần như không thể chứng minh tính đúng sai trong tự truyện. Như trường hợp tự truyện của Công Vinh, những câu nói riêng tư giữa hai người cách nay cả chục năm rất khó để xác định. Hay chuyện bạo lực trong phòng the giữa hai vợ chồng, trong một cuốn tự truyện khác, nếu ngày đó không có sự can thiệp của chính quyền, không lập biên bản… thì hàng chục năm sau sẽ không thể xác nhận.

Việc viết tự truyện là hoạt động mang đậm tính cá nhân và người viết sẽ chịu trách nhiệm, trước hết với chính mình, sau là với bạn đọc, với những điều mình viết ra. Trong cuốn Hồi ký Nghệ sĩ Kim Cương - Sống cho mình, sống cho người, nghệ sĩ chủ yếu nhắc đến cuộc đời mình với những phút đúng sai, những sai lầm, những trả giá… Thế nhưng bà tuyệt không phê phán, trách móc ai dù rằng đọc trong đó bạn đọc vẫn thấy được những phút giây giận dữ, bi kịch… Đây là một trong những cuốn tự truyện đẹp hiếm hoi hiện nay khi chứa đủ những thông tin chi tiết về cuộc đời tác giả.

Hiện tại, những tự truyện với mục đích tốt đẹp như của nghệ sĩ Kim Cương là hàng hiếm trong làng văn học. Nhiều người tìm đến tự truyện vì tiền, vì danh, vì thích được nổi tiếng sau một thời gian chìm nghỉm, hay đơn giản chỉ là để thỏa mãn, để ăn thua đủ với những “bóng ma” từ quá khứ…

TƯỜNG VY
Nguồn: SGGP


GẶP NGƯỜI HÁI MỘT GIẤC MƠ: LÊ KHÁNH MAI

Có lần, tôi vào Facebook của nhà thơ Lê Khánh Mai bất ngờ đọc được một khổ thơ về Hà Nội thật lạ, những hình ảnh và ẩn dụ như rút ra từ gan ruột của một người con Hà Nội tha hương. Tôi vội bình luận mấy câu để chia sẻ và dò hỏi duyên cớ nào mà Lê Khánh Mai lại viết về Hà Nội hay thế. Sau đó, Lê Khánh Mai chỉ nhắn lại với ý rằng, khi nào tôi vào Nha Trang thì sẽ được nghe kể, vì chuyện về Hà Nội của Mai dài lắm. Ngỡ nói đùa thế thôi. Vậy mà, mãi gần đây tôi mới có dịp vào Nha Trang, và cái hẹn ngỡ như bâng quơ hồi nào ấy thôi thúc tôi gặp Lê Khánh Mai. Chúng tôi đến Quán Văn nghệ, nơi mà Lê Khánh Mai đã uống cà phê ở đây suốt 30 năm qua.
Nhà thơ Lê Khánh Mai

1- Ký ức Hà Nội cuộn sóng Nha Trang

Ấy thế rồi, Lê Khánh Mai không biết bắt đầu như thế nào, bởi lẽ bao kỷ niệm về thủ đô ùa về như sóng biển vậy. Lặng đi một hồi rồi bất ngờ Mai đọc những câu thơ viết về Hà Nội mà tôi đã biết qua. Giọng chị nghẹn đi, vì nỗi nhớ của một thời tuổi trẻ dâng trào, những câu thơ day dứt làm sao: “Hà Nội trong tiền kiếp của tôi- ám ảnh đêm dài cơn mơ chăn nệm- căn nhà tập thể chín mét vuông- tôi chen nhau với sách vở, bếp dầu, chai lọ. Mẹ tôi gương mặt mùa đông góa bụa- thức dậy bốn giờ sáng, ra đi hun hút gió- đón chuyến xe đầu ngày...”

Mai kể, đó là những ngày theo cha mẹ ra tập kết ngoài Bắc, hồi năm 1954, khi mới có 7 tháng tuổi. Mai sáng tác bài “Hà Nội mùa đông đầu thế kỷ”, khi nhớ lại ngôi nhà tập thể mà gia đình ở tại 138A Giảng Võ, hồi 13 tuổi. Thế rồi, chính qua bài thơ Mai kể lại tuổi thơ côi cút co ro của mình cứ quẩn quanh với tem phiếu, xếp hàng mua thực phẩm và những tiếng còi báo động thời chiến. Đó là những ngày cả nước vào cuộc chiến đấu chống máy bay Mỹ ném bom Hà Nội.

Mai lại nhớ những ngày theo nhà trường đi sơ tán, khi ở Đan Phượng, khi đến Hưng Yên, sống với những người nông dân hiền lành chất phác. Chính những ký ức đồng quê này đã hiển hiện trong những bài thơ viết về người đàn bà, mà Lê Khánh Mai đã gây ấn tượng nặng trĩu tâm tư qua các hình ảnh “Người đàn bà lặng im như cát”, “Người đàn bà đi chợ”, hay “người đàn bà gom rác”, và “cho một người đàn bà”.

Bỗng nhiên, giọng Mai nghẹn lại khi kể đến chuyện người cha của mình, vì mộ của ông, có thời vẫn còn để ở nghĩa trang Yên Kỳ, Sơn Tây, Hà Nội đến mấy chục năm, sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất toàn quốc. Không bao giờ Mai quên được khi còn nhỏ, thường nghe cha gảy đàn măng-đô-lin và hát cho con gái nghe: “Quê tôi ở miền Nam, có hàng dừa biển xanh, có dòng sông uốn quanh...”. Những nỗi niềm thương nhớ người cha còn nằm lại đất Bắc, Mai đã có dịp bày tỏ khi gọi cha: “Vượt đường xa đến thăm cha, nghĩa trang Yên Kỳ đồi hoang trắng xóa, san sát mộ bia trải ra như phố, ngôi thấp ngôi cao, có tên, có số, cùng nổi chìm bao kiếp giầu nghèo...”

Hà Nội đã lưu giữ những ký ức mãnh liệt nhất, không chỉ là đạn bom, khói lửa mà đó là hình ảnh người cha trong tâm hồn Lê Khánh Mai. Thêm nữa đó là tình yêu đầu đời của Mai cũng nảy nở từ mái trường trung học Trưng Vương, trên phố Hàng Bài. Ngay cả cơn lũ khủng khiếp sông Hồng, năm 1971, gieo tai họa cho mọi người cũng đã hằn sâu trong ký ức thơ ca, với những câu thơ tưởng như tình cờ nhưng thực tế lại là tâm trạng liên kết đến không ngờ: “Hà Nội mùa đông đầu thế kỷ- bờ ngực tôi con đê sắp vỡ-run rẩy, lo âu, linh cảm, đợi chờ...” Và khi ấy nỗi hoài niệm trong Lê Khánh Mai, không thể giấu được trong cơn khát tình yêu thiếu nữ ngày nào ở thủ đô: “Hà Nội tái sinh- sao người không sống lại- tôi biết cất vào đâu quả tim mười sáu”.

Xem ra cái chất Thành đô đã ngấm vào dòng máu miền Trung này; không chỉ giọng nói, ngôn ngữ diễn đạt, mà đến cách nghĩ hay nét suy tư cảm xúc cũng rất Hà Nội cho dù Mai làm thơ về quê biển. Bởi nhà thơ đã viết trong một khổ thơ nhớ đất bắc, nhớ Hà Nội thật chân thành: “Bát cơm trung du tôi nhớ suốt đời- Lát chuối thơm bùi, hạt cơm đỏ ngọt- Đã nuôi tôi, đứa con miền Nam- Hai mươi năm sống trên đất Bắc- Với tấm lòng thơm thảo bao dung”. Đúng vậy, tính đến năm 1975, tốt nghiệp trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, Lê Khánh Mai đã là người Hà Nội đến 21 năm, trọn vẹn tuổi trẻ tràn ngập ước mơ của mình.

2- Người về với ngọn gió Tu Bông

Tôi đã nghĩ đúng khi chính nhà thơ Lê Khánh Mai cũng tự nghĩ trong cốt cách tinh thần của mình, một nửa cảm xúc trên nền phù sa đỏ sông Hồng. Cho dù mạch nguồn thơ ca ở thời sinh viên, chỉ là mộng mơ hồn nhiên, nhưng lại là cơ sở căn bản cho tư duy hình tượng phát triển khi bài thơ đầu tiên được in trên Tạp chí Văn nghệ Nha Trang, trong những ngày đứng trên bục giảng. Khi nhắc đến những ngày về, Lê Khánh Mai luôn nhắc đến quê hương của mình ở Tu Bông, nơi có một mùa gió khắc nghiệt, kéo dài tới ba bốn tháng, và mạnh như gió bão. Từ xa xưa, trong dân gian đã có câu “Mưa đồng cọ, gió Tu Bông” để nói lên sự vất vả của người nông dân vùng quê này. Lê Khánh Mai đã từ Hà Nội về với bao nỗi yêu thương và đã viết lên những câu thơ xót lòng: “Xa hai mươi năm, giờ trở lại Tu Bông- tôi đâu ngờ quê tôi nhiều gió thế- gió đầy ắp trong căn nhà của mẹ- giật mái tranh nghèo- giằng cây trái vẹo nghiêng- lúa xơ oằn rạp trên đồng- con gái Tu Bông suốt ngày tóc rối”.

Sau 15 năm dậy học ở trường Phổ thông, Lê Khánh Mai chuyển sang Sở Văn hóa, mới tập trung hẳn với sự nghiệp thơ ca. Cũng chính thời gian này chị xuất bản tập thơ đầu tiên. Đó là tập “Trái chín”, năm 1990. Đến lúc này, những quan niệm thi ca mới hình thành dần trong quá trình sáng tác của Lê Khánh Mai. Chồng chị, sinh thời cũng là bạn tri âm tri kỷ về thơ ca vì anh cũng làm thơ, nên có nhiều đồng cảm. Thơ Lê Khánh Mai ngày càng hay khi viết về quê hương đất biển, nhưng tôi nghĩ vẫn là mạch nguồn cảm xúc tài hoa của xứ Kinh kỳ mách bảo. Chính cái nét lãng mạn ấy mà Lê Khánh Mai đã có phong cách thơ có sự tìm tòi tinh tế trong câu chữ. Nhất là những bài thơ như: “Giấc mơ tôi hái”, “Đêm ở biển”, “Tâm khúc”, “Tôi sinh ra từ bùn”... Suy tư, nồng nàn, và sâu lắng, thơ Lê Khánh Mai là thế và chị trở thành hội viên Hội Nhà văn, năm 2002, cũng đầy sức thuyết phục ở chính phong cách thơ ca đó. Lê Khánh Mai còn là một tác giả nữ đầu tiên ở Nha Trang được kết nạp, lứa sau năm 1975. Với sức viết dẻo dai, hơn hai mươi năm qua, Lê Khánh Mai xuất bản được 6 tập thơ, và 3 tập văn xuôi, quả là sự thành công đáng nể phục với một cây bút nữ, nhưng lại hết sức bận rộn với công việc của một vị Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh như chị.

Giờ đây, Lê Khánh Mai đã chỉ còn dành tâm sức cho con cháu, sau khi về hưu cách đây 3 năm. Điều chị rất vui, khi cô con gái đã nối nghiệp văn chương của mẹ, cùng sinh hoạt trong câu lạc bộ văn học nữ với mẹ. Thật mẹ nào con nấy, tôi hay tin truyện ngắn của Khánh Linh, con gái chị được bạn đọc đón nhận như một cây bút trẻ đầy triển vọng của tỉnh Khánh Hòa. Nói đến các con, chị như hái được giấc mơ trong đời mình vậy. Chị đã viết: “Giấc mơ của tôi hái từ cơn giông- Không hình thù, màu sắc- Nhưng tôi biết nó rất mỏng manh và tơ non. Tôi nâng niu cất giữ trong ngăn tủ tâm hồn- như báu vật”. Rồi chị tự sự: “Có ai biết- tôi đã vặn kiệt sức mình để nuôi một giấc mơ”. Chị đã thể hiện đúng những gì mình nghĩ về thơ; là vẻ đẹp của tình yêu, ánh sáng trí tuệ và thế giới tâm linh.

3- Mơ giấc hẹn hò

Ấy thế rồi chuyện loanh quanh thế nào, khi bất ngờ Lê Khánh Mai lại hỏi tôi về bạn bè ở Hà Nội. Những kỷ niệm của hơn 20 năm vẫn lang thang ở đâu đó trong tâm tưởng nhà thơ, chúng mơ hồ nhưng lại khi ẩn, khi hiện, với những hình ảnh bậc cầu thang nhà tập thể ngắn tũn, nếu bước nhanh là vấp. Lê Khánh Mai nhớ lại, rồi đọc cho tôi nghe một câu thơ rất thú vị, rất Hà Nội: “Bạn bè ơi bốn phương trời lưu lạc- kem Bốn Mùa còn nhức tận chân răng”.

Chuyện với nhà thơ đất biển Nha Trang, nhưng trong lòng tôi thấy gần gũi làm sao, và tưởng như đang cùng chị ngồi bên nhà hàng Thủy Tạ Bờ Hồ Hoàn Kiếm vậy. Và tôi chợt nghĩ, biết đâu lại có ngày chúng tôi gặp lại nhau ở Hà Nội, vào hiệu kem Bốn Mùa, cùng ăn kem que, và lại cùng nhau nói chuyện về biển Nha Trang. Khi ấy, tôi đoan chắc Lê Khánh Mai lại nói về mùa gió đầy sức tàn phá ở quê chị, Tu Bông. Vì khi xa quê bao giờ cũng rưng rưng nỗi nhớ. Cũng như lúc này đây, chị lại nhớ về Hà Nội thật da diết, vì chị luôn luôn coi Hà Nội là quê hương thứ hai của mình, nơi đã nuôi dưỡng chị suốt hai mươi năm tuổi xuân.

VƯƠNG TÂM
 (Trích tập Nước mắt thời gian)


TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:




BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...