Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

THANH THẢO VỚI TRƯỜNG CA

Kẻ viết giống như người đi đường mà mỗi bước đi lại vung vãi tác phẩm của mình cho đời. Đến cuối đường, ai cũng cố lượm lặt những gì viết ra, tỉ mẩn sắp lại mong có tấm có món để đời. Số đông chỉ được mớ hổ lốn, đỡ hơn, thì được mẹt hàng xén. Dạng này khó thành tác giả (dù có thể có thẻ hội viên). Số còn lại, cực ít. Cái họ tung ra như những miểng vụn bừa bộn, đôi khi văng rất xa nhau, nhưng xem kĩ, mỗi miểng kia lại là một mảnh ghép của một bức tranh toàn vẹn. Chỉ dạng ấy mới thực là tác giả. Trường hợp lớn, thì họ đã là tác giả ngay từ miếng ghép đầu tiên.
Nhà thơ Thanh Thảo

Điều gì khiến những sáng tác rời rạc, rải rác, bề bộn kết thành một bức tranh duy nhất, những mảnh vỡ gắn thành nhất thể? Kẻ viết nào mới là tác giả ?

Mượn cách nói của Chế Lan Viên: kẻ ấy phải có cái lõi trầm trong ruột. Khi trong ruột đã có lõi trầm, thì mỗi cái được viết ra, dù rất không đâu, rất xa nhau cũng đều là một làn hương từ một thứ trầm duy nhất đó.

Lõi trầm ấy còn có thể là gì khác hơn một tư tưởng nhân văn riêng? Mỗi tác giả chân chính xuất hiện là sự cất tiếng của một tư tưởng nhân văn thực sự nào đó. Không có điều này, anh chỉ là kẻ a dua, là bản sao, là cái bóng của ai đó mà không tự biết, cái viết ra sẽ chỉ là những vay mượn, vá víu không tự biết (dù có thể rất hồn nhiên)

Phần cốt lõi nhất của tư tưởng nghệ sĩ là gì nếu không phải là những quan niệm riêng ? Quan niệm nào vậy ? – Quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ. Nếu quan niệm nhân sinh trả lời câu hỏi về hạnh phúc, thì quan niệm thẩm mỹ trả lời câu hỏi về cái đẹp. Cả hai tìm thấy nhau trong cùng một băn khoăn chung: thế nào là giá trị người, giá trị sống. Mỗi nghệ sĩ chân chính phải là một niềm băn khoăn, một câu trả lời. Tất nhiên, bằng sáng tác của mình. Băn khoăn ấy là cái lõi trầm trong ruột người nghệ sĩ. Dù có thể anh ta không ý thức rõ về nó, dù có khi bất lực trước nó. Kẻ viết có thành tác giả hay không, lớn hay bé, phụ thuộc vào điều anh có hay không mối băn khoăn ấy và tầm cỡ nó thế nào.

Trong thế hệ của mình, Thanh Thảo thuộc số ít người viết đã có băn khoăn như thế ngay từ sáng tác đầu tay:

Hạnh phúc nào cho tôi ?
Hạnh phúc nào cho anh ?
Hạnh phúc nào cho chúng ta ?
Hạnh phúc nào cho đất nước?
Những câu hỏi chưa bao giờ nguôi được.

                           (Thử nói về hạnh phúc)

Đó cũng là những câu hỏi đeo bám suốt đời thơ Thanh Thảo. Cho đến tận sáng tác gần đây nhất, trường ca Metro, sau 40 năm lăn lộn trường văn trận bút, câu hỏi ấy đâu đã chịu buông tha anh: “nhưng hạnh phúc là gì?”,”không ai đủ sức trả lời / dù còn cả cuộc đời trước mặt” . Cũng đeo bám như thế là băn khoăn khôn cầm về cái đẹp. Lúc này: “Cái đẹp là sự thật”, lúc kia: “Nhìn cái đẹp hiện diện, thơ linh cảm cái đẹp sẽ hiện diện”, chỗ khác:“Cảm giác về cái đẹp thường gắn liền với cảm giác nuối tiếc, nó hướng ta nhìn lại cái đã qua bằng cái nhìn sâu xa hơn”(Khối vuông rubich)v.v… Chúng là những băn khoăn song sinh, song hành. Cả hai thường nhập làm một trong niềm băn khoăn về giá trị sống, giá trị người:“Mong một ngày hiện rõ / chất thật mỗi con người”, “phải trả giá cho mỗi phẩm chất người / dù rất nhỏ” (Đêm trên cát)... Toàn bộ sáng tác Thanh Thảo, xét đến cùng, mượn cách hình dung của chính anh, cũng là một khối rubích, mà mỗi tiếng thơ tựa một ô màu, tất cả những ô màu ngỡ rất hỗn loạn, kì thực lại xoay quanh một cái trục bí mật duy nhất là mối băn khoăn ấy thôi.

Vỡ lẽ của Thanh Thảo cho mối băn khoăn ấy là gì? Cất công tìm kiếm, người đọc sẽ thấy ẩn trong thế giới nghệ thuật phong phú của anh hai chìa khóa: lấp lánh và lặng lẽ. Chơi chữ chăng? giật gân chăng? Không. Lặng lẽ tỏa sáng, lặng lẽ làm người, đó là cái đẹp và hạnh phúc, đó là giá trị sống, giá trị người theo quan niệm Thanh Thảo. Trong cái thế giới ồn ào đầy rẫy những bạo tàn, phàm tục, giả trá này, cái đẹp thuộc về sự lặng lẽ. Những tinh thể quí giá thường kết tinh trong lặng lẽ. Những phẩm giá cao quí thường lấp lánh trong lặng lẽ. Vẻ đẹp cứ lặng lẽ làm chính nó. Con người cứ lặng lẽ là mình. Không màu mè, không ồn ào, không phô phang, không diễn. Không được ai biết đến, không cần ai biết đến. Hiện diện thế là đẹp, được sống như thế là hạnh phúc. Lặng lẽ tỏa sáng là vẻ đẹp thiên nhiên, lặng lẽ làm người là vẻ đẹp nhân cách cuốn hút hồn thơ Thanh Thảo. Chẳng phải thế sao ? Ai đọc cũng có thể thấy vô vàn những hình sắc khi thì bất ngờ hực sáng, lấp lóa, lấp loáng, khi thì long lanh, lóng lánh, lấp lánh trong cỏ cây, sông nước, biển núi, mây rừng của thế giới thi ảnh Thanh Thảo, dù ở thời trận mạc hay thời bình, dù trong quá khứ lịch sử hay trong cuộc sống đương thời. Ai đọc cũng sẽ thấy những vẻ đẹp người mà Thanh Thảo cả đời say mê khám phá như lòng nhân hậu, đức hi sinh, đặc biệt là tính can đảm, trung thực, nghĩa khí của thế giới nhân vật trên mọi chặng thơ anh, dù của những người lính hay người mẹ, nghệ sĩ hay nghĩa sĩ, nhà thơ hay trẻ thơ… bao giờ cũng hiện ra trong lặng lẽ. Mỗi vẻ thiên nhiên ấy khác nào một giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng/ ! Mỗi chất người ấy khác nào một đạo hào quang ấp ủ trong cõi sâu lặng lẽ của con người ! Lấp lánh mà lặng lẽ, lặng lẽ mà lấp lánh, là giá trị cũng là hạnh phúc, vì thế, nó là vẻ đẹp thơ suốt đời Thanh Thảo. Ngay từ sáng tác đầu tay, nó đã đến với anh. Và anh sẽ cứ tìm kiếm nó, tôn vinh nó suốt cả đời thơ mình. Bởi thế, đó chẳng phải là cái trục bí mật của khối rubích thơ anh sao? chẳng phải cái lõi trầm trong hồn thơ anh sao?

***

Lõi trầm trong hồn thi sĩ chắc chắn sẽ nhạt hương nếu thiếu đi thành phần này: quan niệm riêng về thơ. Quan niệm thơ, quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ của chính kẻ viết bao giờ cũng đồng hành và chuyển hóa lẫn nhau để cùng làm nên cái lõi trầm bí mật của đời thơ tác giả. Có thể xem đó là tam vị nhất thể của một quan niệm nghệ thuật toàn vẹn ở một kẻ viết chân chính.

Trong thơ, kẻ viết nào chỉ quen lối nằm mai phục để chộp từng ý tưởng, từng thi tứ đến từ đâu đó ngoài mình, kiểu ăn đong, chắc chắn không thể đi đường dài. Kẻ đi đường trường tựa như cây lớn, ít bận tâm ở cành nhánh, mà chăm lo nhiều cho gốc rễ. Ngay từ rất sớm, Thanh Thảo đã xem cái gốc của thơ chính là nhân cách thơ. Thơ là sự cất tiếng của nhân cách nhà thơ, đó là xác tín của thi sĩ này. Có nhân cách thơ, tất sẽ ra thơ, có gốc tất sẽ đâm cành. Khi nhân cách nhà thơ lên tiếng, đó đã là thơ rồi. Quan niệm này được anh phát biểu ngay từ đầu những năm 80 thế kỉ trước: “Thơ bắt đầu từ đâu ? Từ ý tưởng, thực tế, từ cái nhìn hay cảm xúc? Theo tôi, thơ phải bắt đầu từ chính nhân cách của nhà thơ, nó là xương sống của cả đời thơ. Sau đó tới tài năng và lao động. Dĩ nhiên chỉ có nhân cách không đủ thành thơ, cũng như chỉ có xương sống chưa đủ thành người. Nhưng sẽ ra sao nếu con người thiếu xương sống ? Đối với nhà thơ, nhân cách vừa là tiền đề, vừa là kết quả của tài năng và lao động. Có một quan hệ biện chứng giữa những điều này(…) Thơ kín đáo ngay ở chỗ nhà thơ khi viết buộc phải phơi trần tâm hồn mình trên trang giấy, ở chỗ nhà thơ không còn nơi trú ẩn nào khác cho nhân cách của mình, ngoài bộc lộ nó thành tâm”[1]. Đây không hẳn là một quan niệm độc đáo, song, chắc chắn là quan niệm đúng đắn. Đáng nói hơn, nó giúp ta lí giải được nhờ đâu thi sĩ có thể đi đường dài với thơ. Khi xem nhân cách thơ vừa là tiền đề, vừa là kết quả của tài năng và lao động, đồng thời thấy rõ có một quan hệ biện chứng giữa những điều này, Thanh Thảo không chỉ đem đến một cách hiểu riêng về nhân cách thơ mà còn hé mở một mong cầu: người thơ thứ thiệt phải sống thơ trước khi làm thơ. Đời sống hàng ngày của một nhân cách như thế, tự nó đã là sự chưng cất, sự kết tinh thơ rồi. Coi gốc của thơ là nhân cách thì trữ lượng thơ của một hồn thơ xem như đồng nhất với số phận người thơ. Chừng nào còn sống thơ, chừng ấy còn nguồn thơ. Phải có một nguồn thơ như thế mới có thể đi đường dài, mới có thể trường kì với trường ca.

Quan niệm về gốc của thơ thường nhất quán với quan niệm về sản phẩm thơ. Coi trọng việc sống thơ, Thanh Thảo cho rằng thơ là dòng sống thực của cá thể từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Một nhà thơ có nhân cách, chỉ cần nắm bắt và thể hiện được những dòng sống thực đó của mình, bản thân nó đã là thơ. Dù từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc kia có thể rất bất chợt, bất định, có vẻ hỗn loạn, nhưng mỗi khoảnh khắc ấy lại bật lên từ một gốc chung, xoay quanh một trục chung là nhân cách người thơ. Do đó, đời sống thực của một nhân cách thơ cũng có cấu trúc tựa hồ rubich. Chỉ cần thành thực phơi trải, tự nó đã là thơ thứ thiệt, thơ quí. Bởi nó là dạng thơ khước từ mọi trang sức thỏn mỏn thường tình. Và Thanh Thảo đã bình tĩnh đem đến cho thi đàn thứ thơ như thế. Người ta đã nhận thấy thơ anh là những dòng sống thực của chính tâm hồn anh. Một dòng sống đầy những đứt nối, bất chợt rất gần với quan niệm của các nhà siêu thực: “âm thanh vỡ vụn mảnh gương lấp lánh trong khuya / nước mắt nhà thơ độc hành / những vệt sao thấm nhanh vào cát/ cát vang khô khốc”,”hãy kêu tới đáy lòng Cao Bá Quát / bàn tay nhà thơ nắm chặt dòng sông / vung thành gươm trên cát bỏng”, “họ lấm láp sình lầy bước vào thơ Đồ Chiểu / họ để lại những vệt bùn làm vinh dự cho thơ”, “những cây bàng chợt rùng mình cảm thấy / một khung trời gãy gập của mùa đông”,”những con cá bơi cả vào giấc ngủ / những ngôi sao vàng óng ánh tiếng cười”, “trên khuôn mặt cày sâu những nếp nhăn nghèo đói / ta gặp lại niềm vui trong trẻo của nước mưa” … Nhưng, vẻ “siêu thực” nọ không hẳn xuất phát từ lí thuyết, mà có lẽ từ sự trải nghiệm thơ của bản thân anh nhiều hơn. Những vẻ đẹp sáng của thiên nhiên, của con người cứ lấp lánh trong âm thầm, long lanh trong lặng lẽ rồi bất chợt bừng lên vào khoảnh khắc nào đó, từng khoảnh khắc như thế cứ dệt nên dòng sống thực của hồn thơ, dệt nên mỗi bài thơ Thanh Thảo.

***

Một hồn thơ như Thanh Thảo không thể không bén duyên với trường ca. Bởi dòng sống thế kia chỉ thực sự thoải mái khi thả sức trong một hình thức phóng khoáng với một cấu trúc luôn mở thôi. Mà trường ca chính là một thể đầy hứa hẹn cho hình thức ấy, cấu trúc ấy. Quan niệm và nhân cách thơ của Thanh Thảo đã giúp anh thoải mái marathon với trường ca, mặc sức "đi tới biển" cùng trường ca.

Về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX đến giờ. Người ta đã đưa ra nhiều cách định nghĩa, định danh khác nhau. Người bận tâm phân định nó với những anh hùng ca và sử thi thời cổ. Người loay hoay khu biệt nó với thơ dài, truyện thơ, khúc ngâm. Gặp gỡ có, bất đồng có. Thái độ với trường ca cũng vậy: lắm người hoài nghi, khối người hài lòng, không hiếm người nghiện. Song, bất chấp những phân hóa, chia rẽ, trường ca vẫn cứ trường ca, cả trong nước lẫn ngoài nước. Từ quan sát của mình, tôi thấy khi thơ trữ tình muốn trình bày những suy cảm về những vận động lớn lao, thậm chí kì vĩ của đời sống bằng một hình thức lớn, khi ấy trường ca xuất hiện. Nói gọn hơn, khi thơ trữ tình muốn chiếm lĩnh thực tại ở cấp độ cái kì vĩ thì trường ca bắt đầu lên tiếng. Các trường ca hiện đại của ta manh nha từ thời Thơ Mới, lác đác trong cuộc chống Pháp, rộ lên suốt thời chống Mỹ và bội thu sau chống Mỹ, chẳng phải là một bằng chứng sinh động hay sao?

Không phải thi sĩ nào cũng có thể là tác giả trường ca. Không ít người định dấn thân vào thể này, sau đã bỏ cuộc. Người thì đã lên những đề cương tỉ mỉ cho các bản đại trường ca, cuối cùng đề cương hoen rỉ trong ngăn kéo. Người thì gắng kẽo kẹt cho hết một bản, rồi cạch đến già. Sự ấy cũng thường tình. Trong điền kinh, cùng môn chạy thôi, có người vô địch cự li ngắn, nhưng chìm nghỉm khi marathon. Trong trận mạc, có người giỏi đoản binh mà bí trường trận. Có tạng thơ chỉ sở trường ở những thể vừa vừa trung trung. Có tạng chỉ thực là nó ở những thể nhỏ nhỏ xinh xinh. Hễ họ bén mảng sang thể lớn là lập tức hẫng chân, cụt hơi. Ấy cũng là thường.

Do mấu chốt của trường ca là ở chữ “trường”, nên một tác giả trường ca, theo tôi, ít nhất phải có đủ “tam trường”: trường vốn, trường lực và trường hơi. Vốn trải nghiệm, vốn tri thức, vốn nhân văn phải dồi dào; năng lực sáng tạo hình thức trong ngôn ngữ phải sung mãn ; và phải nuôi được cảm hứng, cảm xúc thật bền, không đuối, không hụt, không cụt. Tam trường đó phải hiện ra thành kiểu tư duy trường ca. Không phải ai cũng có tư duy này! Người có tư duy trường ca thường phải xử lí thật biến hóa mối tương tác giữa những cặp đối cực sống còn này: cái bi - cái hùng, cái kì ảo - cái tả thực, cái kì vĩ - cái đời thường, tính hồn nhiên - tính tổ chức cao, cả đường bay - từng nhịp vỗ cánh… Ở đây, tay nghề rất quan trọng. Nhưng khối người sành sỏi mọi ngón nghề mà vẫn bại. Dường như hơn cả chuyện tay nghề, là chuyện tạng thơ. Trong khi tạng thơ này vất vả đến bế tắc trước những đòi hỏi phản trái đó, thì tạng thơ khác lại thoải mái tung hoành giữa những nguyên tắc gò bó khắt khe kia. Với họ, trường ca cứ tuôn trào dễ dàng như thơ ngắn, thậm chí, còn dễ hơn thơ ngắn. Cứ thế, họ thành cây trường ca, nhà trường ca. Tóm lại, kẻ viết phải có gốc trường ca mới mong thành cây trường ca.

Thanh Thảo đã trường ca ngay từ cái đầu tay. Chẳng phải thế sao? “Thử nói về hạnh phúc” chào đời như một bài thơ ngắn, nhưng nó đã tràn đầy hơi thở trường ca rồi. Những trải nghiệm chiến trường ác liệt, bề bộn được soi chiếu, chưng cất bằng một tầm nhân văn cao, thể hiện trong những băn khoăn về hạnh phúc và giá trị người trước sự sống còn của đất nước, được phơi trải trong một hình thức mở của thơ dài. Đó chẳng phải là những nhịp thở hào sảng của trường ca đó ư ? Và chùm thơ kỉ lục gồm 13 bài được trình làng trên Tác phẩm mới, cũng như tập “Dấu chân qua trảng cỏ” tập hợp những bài thơ ngắn, về thực chất là những mảnh vỡ khác nhau của một bản trường ca. Có thể xem chúng như là những tiền thân, phân thân khác nhau của trường ca “Những người đi tới biển” được viết sau đó. Nói vậy không phải cố vơ vào cho đầy một ôm, mà chính bởi chúng mang một hơi thở chung, một phong độ sáng tạo chung, thuộc một kiểu tư duy chung với trường ca này và với cả những trường ca sau này của Thanh Thảo như “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, “Bùng nổ của mùa xuân”, “Khối vuông rubich”, “Đêm trên cát”, “Cỏ vẫn mọc”… và mới đây là “Metro”.

Tôi biết giới nghiên cứu đã chỉ ra nhiều đặc sắc của thơ Thanh Thảo. Đã có không ít luận văn cử nhân, thạc sĩ, luận án tiến sĩ ngữ văn đào sâu vào các bình diện khác nhau của trường ca Thanh Thảo như tư tưởng nhân dân, chất tự sự và chất trữ tình, yếu tố hiện thực và yếu tố triết luận, hình tượng và biểu tượng, ngôn ngữ và giọng điệu… Bản thân tôi cũng đã viết và hướng dẫn dăm ba cái. Nhưng đọc trường ca Thanh Thảo, nét tâm đắc nhất với tôi vẫn là việc xử lí cặp đối cực này trong tư duy của anh: tính hồn nhiên và tính tổ chức cao. Trong sáng tạo, hai gã này chúa là xung khắc nhau, thậm chí vật lộn nhau. Liệu có cọc cạch mâu thuẫn gì không nhỉ ?

Rõ ràng, một mặt Thanh Thảo xem thơ là dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, nghĩa là đề cao tính hồn nhiên gần như tuyệt đối của thơ. Mặt khác, anh lại được biết đến như một nhà cách tân hình thức, không ngừng săn tìm những cấu trúc mới cho mỗi bản trường ca. Nghĩa là liên tục tìm tòi ứng dụng và phát kiến những hình thái tổ chức tân kì cho thể loại, trong đó có cả những dạng tổ chức rất phức tạp, rất gò bó. Trái khoáy. Vậy mà vẫn đâu vào đấy. Lạ.

Có lẽ, trong các tay bút duyên nợ với thể loại đồ sộ này, Thanh Thảo là người coi trọng và dấn thân vào cấu trúc nhiều hơn cả, thành hơn cả. Khước từ những hình thái tổ chức quen thuộc của trường ca như kéo dài thơ ngắn ra thành trường thi, gia tăng sử kiện để thành sử ca, bám riết vào tự sự để thành truyện thơ, mượn hơi khan để thành khan đời mới, nương theo sân khấu để thành hoạt cảnh thơ, kết những thi khúc rời thành tổ khúc thơ, xâu các trường đoạn thành liên khúc thơ, pha trộn các thể mà thành một hỗn dung thể thức v.v…, Thanh Thảo đã bứt hẳn sang những địa hạt khác để nhập về những hình thái thật phá cách, như giao hưởng (Những người đi tới biển, Bùng nổ của mùa xuân, Trẻ con ở Sơn Mỹ, Đêm trên cát…), rubích (Khối vuông rubích), điện ảnh (Cỏ vẫn mọc), kịch (Trò chuyện với nhân vật của mình), gần đây còn tìm sang cả… metro (Metro). Toàn những cấu trúc lạ hoắc. Cứ y như một lối “chơi” sáng tạo, “chơi” cấu trúc.  Vậy mà, đọc vẫn vào. Người đọc vừa bị cuốn theo dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc của mạch thơ, vừa có khoái thú vì đang được dạo trong những công trình kiến trúc lạ, được thưởng ngoạn những cấu trúc tân kì. Nhờ đâu mà những phản trái lại hòa hợp được vậy ? Nhạc trưởng Thanh Thảo đã dùng chiếc đũa chỉ huy nào?  Tôi nghĩ rằng, chiếc đũa ấy chẳng thể là gì khác hơn một năng lực mạnh mẽ ở anh: năng lực phát giác sự hài hòa giữa cái hỗn loạn và cái trật tự.

Tìm kiếm trật tự cho cái hỗn loạn dường như là sở trường lớn của hồn thơ này. Trước hết là trong tư tưởng. Thơ Thanh Thảo, nhất là chất thơ của sự lặng lẽ, chẳng phải là vẻ đẹp của cái trật tự muôn đời giữa sự hỗn loạn đó sao? Chẳng phải toàn bộ thơ anh, nhìn từ mỹ học, chính là mong cầu khôn nguôi về một trật tự nhân văn trước cái loạn của thời chiến và cả cái loạn của thời bình nữa đó sao? Mong cầu ấy cũng là một cái trục bí mật của khối rubich thơ Thanh Thảo vậy.

Nhưng thôi. Hãy trở lại với chuyện hỗn loạn-trật tự riêng trong hình thức. Dòng sống thực vốn đầy những bất định, bất chợt, ngẫu nhiên, ngẫu hứng, ngẫu cảm… là hỗn loạn. Còn những hình thái cấu trúc lại là các dạng trật tự. Phóng túng trong trật tự, trật tự mà phóng túng. Chúng hòa hợp bằng cách nào? Giải pháp của Thanh Thảo: dòng sống thực luôn phải là hơi thở tràn trề trong sinh thể trường ca, còn trật tự vừa là bộ khung sườn ẩn vừa là những đường viền linh hoạt. Dòng sống thực (cảm xúc, ý tưởng, thi ảnh…) thì vẫn phóng túng hồn nhiên, còn tổ chức vĩ mô (cấu trúc hình tượng, cấu trúc chương khúc, hệ thống chủ đề…) trên toàn khối thì phải tuân thủ trật tự. Dường như đó cũng là dạng tổ chức phổ biến trong nhiều hình thức của sự sống thì phải ? Hẳn có người sẽ nghi ngờ về tính tự nhiên, chân cảm trong lối viết như vậy. Họ cho rằng cấu trúc gò bó thế dễ giết chết chân cảm hồn nhiên, và “chơi” cấu trúc thế liệu thơ có còn nghiêm túc? Họ quên rằng, nghệ thuật nghiêm túc nhất cũng ít nhiều mang tính trò chơi. Lí thuyết hiện đại chẳng nói vậy sao! Họ cũng quên rằng, trong âm nhạc chẳng hạn, còn gì gò bó hơn cấu trúc chặt chẽ của một bản giao hưởng ? Nhưng mỗi giao hưởng tuyệt tác vẫn cứ là dòng chảy tràn trề hồn nhiên của cảm xúc âm nhạc đó thôi. Hồn nhiên mà có tổ chức, phóng túng mà chặt chẽ, hỗn loạn mà trật tự, đó là thách thức muôn thuở của việc sáng tạo cái đẹp. Dường như, nghệ thuật chính là việc đi trên những lằn ranh mỏng manh giữa những điều phản trái đó ? Và tài năng chính là người xác lập được sự hòa hợp sống động cho những đối cực đó. Khỏi nói những bản trường ca thành công đã được ghi nhận và nghiên cứu nhiều của anh. Chỉ nói riêng cái vừa ráo mực chưa lâu và mang một dáng dấp hơi hậu hiện đại là “Metro”. Nghĩa lí nào trong cấu trúc này ?  Metro là con tàu chạy ngầm trong lòng đất. Nội điều đó đã có ý nghĩa khi nói về cái tâm thức Trường Sơn vẫn ngầm chảy trong lòng cuộc sống bề bộn, hỗn tạp này rồi. Tuy nhiên, cái đáng nói là, con tàu này có thể và luôn chạy được cả hai chiều trái nhau. Chính tính trái nhau này đã hấp dẫn nhà cách tân. Bằng sự nhạy cảm của một thi sĩ săn lùng hình thái tổ chức cho thơ, Thanh Thảo đã mượn nó để tổ chức nên trường ca “Metro” với hai dòng chảy trái chiều trong nội dung: dòng chảy tới của thời gian và dòng chảy ngược của kí ức. Đúng hơn là có hai dòng thời gian: thời gian sống (với tâm tư, thuộc quá khứ) và thời gian viết (với văn bản, thuộc hiện tại). Cả hai đan cài nhau trong dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc của tâm tư thi sĩ đang trầm mình trong những kỉ niệm Trường Sơn với những trăn trở về hạnh phúc, băn khoăn về giá trị sống qua việc duyệt lại những cái được cái mất của dân tộc, của thế hệ và của cá nhân mình trong và sau cuộc chiến. Vì thế, phức điệu mà rành rẽ, tán lạc mà mạch lạc, ngẫu hứng phóng túng mà vẫn theo điệu theo bè. Nói khác đi, anh vẫn lập được trật tự cho sự hỗn loạn. Và đấy chính là một hấp dẫn không nhỏ của bản trường ca này.

Tổ chức cao mà vẫn hồn nhiên, hỗn loạn mà trật tự, kiểu hấp dẫn mang thương hiệu Thanh Thảo đó đâu chỉ ở trường ca này và đâu chỉ riêng ở trường ca !

***

Người đọc đã “phong vương” cho nhiều cây bút xứng đáng. Đã có Xuân Diệu vua Thơ Mới, Vũ Trọng Phụng vua phóng sự, Nguyễn Tuân vua tùy bút, Thạch Lam vua truyện ngắn trữ tình, v.v… Ở triều đại sau, bên cạnh những “vì vua” khác, như Nguyễn Duy vua lục bát, Nguyễn Huy Thiệp vua truyện ngắn, Lưu Quang Vũ vua kịch nói, vv… cũng có thể gọi Thanh Thảo là vua trường ca chứ sao ! Việc phong tặng cho một ai đó, đâu chỉ bằng vào việc người ấy chuyên chú hay viết được nhiều, mà quan trọng hơn cả là ở thành tựu thuộc về hàng đầu của họ.

Ném mình vào thể này mấy chục năm trời bền bỉ, quyết liệt, đến nay, gia tài trường ca của Thanh Thảo, nếu tính chi li, phải vượt con số chục bản. Con số ấy ở một thể loại như trường ca là chưa đồ sộ sao! Anh chỉ tuyển vào đây chín trường ca ưng ý nhất. Có lẽ, thế là đẹp. Đó có phải là chín nhánh cửu long của cùng một con sông trường ca Thanh Thảo không ? Có phải là chín bậc thang anh đã lần lượt bước qua để lên đài không ? Có phải là chín chiếc đỉnh bày trên sân chầu của nghiệp thơ anh không ? Mọi ẩn dụ có thể tới cũng có thể không. Nhưng có điều chắc: đó là chín thi phẩm đầy tâm huyết của một đời sáng tạo mà đứa con thi sĩ đã chọn ra như biện một mâm lễ vật thành kính dâng lên Thầy Má mình, Nhân Dân mình. Lời đề đầu tuyển tập đã nói cùng ta điều đó.

Cách làm tuyển thế, khiến tôi nghĩ tới chàng Lang Liêu xưa.

                                 Văn Chỉ - Làng quốc tế Thăng Long,
                Mùa Hè Kỉ Sửu
CHU VĂN SƠN

Nguồn: NVTPHCM

_________
[1] Văn học trong giai đoạn cách mạng mới, NXB Tác phẩm mới, 1984,  tr. 216-218




Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN TRẦN KIM TRẮC - ĐẠI THỤ CỦA VĂN CHƯƠNG NAM BỘ QUA ĐỜI

Theo thông tin từ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, nhà văn Trần Kim Trắc đã qua đời vào ngày 17-11-2018 tại nhà riêng trên đường Cống Lở, phường 15, quận Tân Bình. Tuy nhiên, vì lý do riêng nên gia đình không phát tang; vậy nên công chúng mới được thông báo cách đây hai ngày.
Nhà văn Trần Kim Trắc

Khi hay tin nhà văn Trần Kim Trắc, một trong những đại thụ của văn chương Nam bộ đã qua đời, hầu hết những người yêu mến ông đều không tránh khỏi cảm giác bất ngờ. Nhà văn Trần Kim Trắc sinh năm 1929 tại Chợ Gạo, Tiền Giang. Ngoài tên thật, ông còn sử dụng bút danh NT và Trần Kim dưới những tác phẩm của mình. Sự nghiệp văn chương của nhà văn Trần Kim Trắc được bắt đầu từ lúc ông 25 tuổi với truyện ngắn đầu tay được đăng báo là truyện Cái lu, đạt giải nhì giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam ngay sau đó.

Dù đến với văn chương khá muộn nhưng nhà văn Trần Kim Trắc có một quá trình lao động văn chương chăm chỉ và đều tay. Ông có nhiều tác phẩm đã xuất bản như: Cái lu(truyện ngắn, 1954), Cái bót (truyện ngắn in chung, 1989), Con cá bặt tăm (truyện ngắn, in chung, 1990), Ông Thiềm Thừ (truyện ngắn, 1994), Hoàng đế ướt long bào (tiểu thuyết, 1996), Trăng đẹp mình trăng (truyện ngắn, 1997), Học trò già (truyện ngắn, 1997), Con trai ông tướng (truyện ngắn, 1998),  Chuyện nàng Mimô (truyện ngắn, 1999)…

Nhà văn Trần Kim Trắc từng đạt các giải thưởng như: giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1945-1954 với truyện ngắn Cái lu, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 với tập truyện ngắn Ông Thiềm Thừ.
Nhà văn Trần Kim Trắc và bên người vợ của mình

Đặc biệt, vào năm 2012, lúc đó đã bước sang tuổi 83 nhưng nhà văn Trần Kim Trắc vẫn cho thấy sức lao động bền bỉ và dẻo dai bằng việc tham dự cuộc thi viết truyện ngắn chủ đề “Con người và cuộc sống hôm nay” do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức. Truyện ngắn Sài Gòn đắc địa của ông đã đạt đồng giải nhì (không có giải nhất) cùng với nhà văn Trương Anh Quốc.

Vào tháng 11-2015, với những giá trị quan trọng mà văn chương Trần Kim Trắc mang lại, NXB Trẻ đã ký hợp đồng mua bản quyền trọn đời tác phẩm của ông. Theo đó, bắt đầu từ tháng 11-2015, đơn vị này độc quyền sử dụng 19 tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc với khoản phí trả trước là 100 triệu đồng cùng số tiền nhuận bút trên mỗi tác phẩm được xuất bản, không tính phần trả trước. Ngoài ra, trong hợp đồng có điều khoản: sau khi nhà văn qua đời, gia đình ông tiếp tục hưởng nhuận bút các tác phẩm của ông do NXB Trẻ ấn hành.

Ông Nguyễn Minh Nhựt, Giám đốc NXB Trẻ chia sẻ về lý do mua bản quyền trọn đời tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc: “Nhà văn Trần Kim Trắc là một trong những nhà văn lớn, viết rất nhiều tác phẩm trong đó có nhiều tác phẩm viết về Nam Bộ cũng như viết về giới trẻ. Về mặt văn tài, ông là nhà văn lớn nhưng thái độ, lối sống của ông rất khiêm tốn, là bài học lớn đối với người làm nghề. Xuất phát từ những vấn đề đó, NXB Trẻ có một nguyện vọng đề đạt xin mua tác quyền trọn đời bộ tác phẩm của ông. May mắn thay NXB Trẻ được ông đồng ý giao quyền”.

Trước sự ra đi của nhà văn Trần Kim Trắc, ông Nguyễn Minh Nhựt không giấu được xúc động: “Tôi và các cán bộ, nhân viên của NXB Trẻ đều rất buồn khi những đại thụ đã từng gắn bó với NXB Trẻ lần lượt đã ra đi như nhà văn Sơn Nam, nhà văn Trang Thế Hy rồi lần này là nhà văn Trần Kim Trắc. Phía NXB không biết nói gì hơn ngoài sự chia buồn gửi đến gia đình nhà văn. Chúng tôi sẽ cố gắng chăm chút, xuất bản để những tác phẩm của ông sẽ còn ở lại với nhân gian, phục vụ độc giả”.

HỒ SƠN
Nguồn: SGGP



NGUYỄN THỊ THANH LONG CÒN NỢ NỬA VÒNG TAY…

Sau tập Một milimét ấn hành năm 2011, đã thấy Nửa vòng tay vượt lên bằng nỗ lực sáng tạo đáng quý. Một Nguyễn Thị Thanh Long vượt qua cái bình thường đến với thi ca như một nét duyên…
Nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long

Đọc Nửa vòng tay (NXB Hội Nhà Văn) của nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long ta đã bắt gặp bài thơ Biển chiều ở trang bìa, hình như Thanh Long xếp bài thơ này xuất hiện đầu tiên thay lời tựa cho cả tập thơ như có dụng ý. Sau đó gặp ngay một Nửa vòng tay là tựa đề của tập thơ đã gợi mở cho ta thấy một thân phận, lương duyên, tình yêu, đất nước với bút lực dồi dào cùng cái duyên của tấm lòng thơ uyên nguyên vị tha:

Biển chiều nay xin đừng lặng thế
Hãy thét gào như buồm đã buông trôi
Thuyền nhổ neo còn nguyên bến đỗ
Nụ hôn òa
               chết đuối
                             giữa bờ môi

(Biển chiều)

Chỉ bốn câu thơ thôi chị đã gói trọn và điểm xuyết thân phận một cuộc tình của mình, hay của ai đó đi qua một quãng đời với nỗi niềm xót xa: Thuyền nhổ neo/ còn nguyên bến đỗ/ Nụ hôn òa/ chết đuối/ giữa bờ môi. Bài thơ chỉ bốn câu thôi mà người viết đã mã hóa hình tượng ngôn ngữ với một sắc thái riêng. Cũng là chia li, là nỗi đau nhưng nhà thơ không cho nỗi đau đó chết tức tửi mà cho cuộc tình ấy chết đuối ở bờ môiCái chết đuối ở nơi nông cạn nhất, đẹp đẽ nhất. Nhưng điều tan vỡ không phải lúc nào cũng bi ai mà được nhà thơ tìm thấy nụ hôn chết ở nơi thánh thiện lãng mạn.

Với bài thơ Nửa vòng tay, đây là lời tâm tình của người con Đất Tổ, đã gửi trọn tâm tư của mình với tất cả tình yêu thương trong từng con chữ, thi ảnh để người đọc cảm nhận được sự huyền ảo, lung linh:

Sợ tiễn anh rồi em khóc đấy
Trung du còn nợ nửa vòng tay
Phù sa sông Hồng ta lớn dậy
Hương bưởi Đoan Hùng mái tóc bay

(Nửa vòng tay)

Quê hương nơi được sinh ra, lớn lên, nơi nuôi dưỡng tâm hồn, chắp cánh ước mơ. Nơi thời con gái gội đầu bông bưởi. Nơi chia tay tưổi thơ trong trẻo sao mà chất chứa yêu thương đẹp đẽ đến thế… em khóc đấy/… nợ nửa vòng tay. Từ đây Thanh Long minh họa miền quê của mình, tình yêu của mình:

Để hoa mua tím triền vụng dại
Đồi chè bát úp ngọt môi say
Bắc cầu dải yếm thời con gái
Ai nỡ buộc hờ lạnh heo may

(Nửa vòng tay)

Đọc khổ thơ này ta thấy câu chữ được ẩn dụ mơ mộng, thi ảnh đẹp như tranh, khiến người đọc dễ liên tưởng đến ý nghĩ xa xôi.Ở triền vụng dại mà đồi chè chỉ như đôi bát úp ngược mà lại ngọt môi say /bắc cầu dải yếm/ ai nỡ buộc hờ/ lạnh heo may  thì quả là không còn gì bằng.Thử hỏi trên cõi đời này còn nơi nào, lúc nào thi vị hơn,thanh tao hơn chút lãng mạn ấy. Thanh Long tả thực nhưng ngôn ngữ được hình tượng hóa. Triền vụng dại/ bát úp /môi say/cầu dải yếm/ buộc hờ… là ta dã thấy sự ẩn hiện của ngôn từ mà Thanh Long đưa ta về với bao kỉ niệm đẹp đẽ ở vườn tình yêu nơi ấy lý trí của tâm hồn và lửa tình cứ cháy lên giữa khát khao trong con tim của lứa đôi.

Lạc vầng trăng ướt hôm mười sáu
Ngậm ngừng rừng cọ gối đêm thâu
Hong lời hen ước xanh màu lá
Mây cuối trời kia đã nát nhàu

Rừng cọ gối đêm thâu/mây nát nhàu. Phải chăng đó là cuộc chia li định mệnh của một mối tình đầu. thơ dại của bao thế hệ con gái, con trai làng quê Việt trước lúc đi xa? Bài thơ càng đọc càng gợi lại nỗi niềm riêng tư như có thân phận mình trong đó, cái thời trong veo, đẹp đẽ ấy mà bây giờ ít quá , khó gặp…
Nhà thơ Thanh Long viết về tình yêu, duyên nợ, thân phận gắn với quê hương, đất nước của nỗi lòng người xa xứ. Tập thơ Nửa vòng tay là tập hợp sự đa đoan, phức hợp của tình cảm, những liên hệ suy tư trên nẻo hành trình đan mê sáng tạo, khao khát vươn tới cái đẹp qua nhiều trải nghiệm. Câu chữ thường nhật ấy, đam mê ấy trên quãng hành trình đã hóa thành những câu thơ làm xốn xang tình cảm và rung động con tim người đọc:

Lại một lần không về trẩy hội
Hoa gạo ngập ngừng nhuộm đỏ tháng ba
Nguyên vẹn trong em màu sim tím quê nhà
Khánh Ngọc xưa thẹn tùng bối rối

(Hẹn mùa sau)

Người đi xa chưa trở về với lễ hội Đền Hùng có nhiều lí do, Thanh Long đã nói hộ mọi người và chính lòng mình, hẹn lại lần sau. Ở đây chốn linh thiêng khơi gợi tâm hồn để tác giả tạo nên tiếng tiếng tơ lòng níu kéo thời gian, hồn cốt quê hương: nhuộm đỏ tháng ba/ sim tím quê nhà. Và:

Em không về mưa rửa đền đừng vội
Bậc đá nào còn in dấu chân em
Gốc thiên tuế thêm một vòng chờ đợi
Rừng thông già no gió có buồn reo.
Tập thơ Nửa vòng tay của  Nguyễn Thị Thanh Long

Thanh Long thổi hồn vào câu chữ cho nên từ ngữ lắng đọng, dư vị ngọt ngào, biết chắt chiu ngôn ngữ bằng cái tình, cái nghĩa trong thơ. Ở trong thập niên đầu của thế kỉ này, có một số người viết tự cho mình là đổi mới câu chữ, họ nhân danh cái mới để lạ hóa thơ đến mức phản thơ, làm cho người đọc không hiểu tác giả viết cái gì. Họ cầu kì đến thô thiển ở chọn câu, chọn chữ. Đã có nhiều ý kiến phê bình cho rằng đó không phải là thơ. Thanh Long không làm thơ kiểu ấy mà vẫn mới, vẫn nguyên giá trị nhân văn, vẫn trong sáng mà gần gũi:

Có lần đêm tâm sự
đêm bị lạm dụng
thiên vị ngày
mười hai tiếng nâng niu

đêm buồn bị giam trong bốn xó nhà
đèn sáng trưng từ đầu hôm tới canh ba
bản ngã người đàn bà… đã thắng
trải lòng với đêm chân thực

bằng những ngôn từ dịu dàng
đôi khi hằn học
có vị mằn mặn và chát đắng cuộc đời
đêm giận hờn từ ấy bỏ tôi đi

(Đàn bà đêm)

Với lối viết dung dị, chất chứa bao hình ảnh, thơ Thanh Long sẽ ở lại với người đọc qua thử thách khắc nghiệt của thời gian, bởi thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo đích thực của cuộc sống. Hãy ghé thăm Chợ làng của Thanh Long để chiêm ngưỡng bức tranh tromg tình quê đẹp đẽ và chân chất đến mức độ nào:

Bà tôi đi chợ đầu làng
Mấy gian lều cũ vít hàng tre cong
Chợ làng họp buổi hừng đông
Mớ rau con cá bán trong tiếng chào
 Cháu đi xa chợ làng mình 
 Nhớ bà nhớ cả mái đình làng xưa
Bà về tròn bóng nắng trưa
Hàng cau nhún nhảy đong đưa dáng bà

(Chợ làng)

Có thể khẳng định rằng tâp thơ Nửa vòng tay của nhà thơ Thanh Long là cả một tấm lòng diệu vợi, là tâm tình của nỗi nhớ, là những lời tự sự trong quãng đời đi qua. Nửa vòng tay là những bức tranh đất nước, quê hương đẹp đẽ và sinh động. Thơ Thanh Long để lai ấn tượng sâu sắc như tiếng hát đẹp của một giọng nữ cao vượt lên trên bè trầm. Thanh Long khắt khe với câu chữ, đầy ắp tâm tư tình cảm. Xin trích hai khổ thơ của hai bài thơ mà Thanh Long viết về hôm qua và bây giờ:

Về Mã Đà
người ơi xin nhón bước
nhè nhẹ gót giầy bụm đất bùn loang
các chị các anh nằm ở nơi đâu
gọi nghĩa trang mộ không còn một nấm

(Mã Đà huyền thoại)

Và:

ngọn sóng nào cao hơn sóng nhớ
bát cơm thơm cõng bão tố Trừơng Sa
mùa vẫn chín trái bàng vuông thẫm đỏ
trong tim em con sóng ấp òa

(Trường Sa mùa vẫn chín)

Sau tập Một milimét ấn hành năm 2011, đã thấy Nửa vòng tay vượt lên bằng nỗ lực sáng tạo đáng quý. Một Thanh Long vượt qua cái bình thường đến với thi ca như một nét duyên. Chắc rằng khi Nửa vòng tay đến với bạn đọc ta sẽ bắt gặp nhà thơ Thanh Long ở độ chín giữa đỉnh điểm của thi ca trong nửa vòng tay duyên nợ.

Thành phố Hồ Chí Minh cuối tháng 9.2013
NGUYỄN VŨ QUỲNH

TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ KHÁC:




NGUYÊN NGỌC: MINH TRIẾT CỦA RỪNG

Tôi bắt đầu đọc Nguyên Ngọc cũng đã khá lâu. Thú thực, các tác phẩm hư cấu của ông: Đất nước đứng lên, Mạch nước ngầm, Đất Quảng… không hấp dẫn tôi nhiều lắm. Có lẽ vì đó là những tác phẩm của một thời, và không phải là thời của tôi? Nhưng ký Nguyên Ngọc thì khác. Cũng được ông viết trong cái thời chiến tranh ấy, mà sao đến giờ đọc lại bài ký "Đường chúng ta đi" vẫn thấy gai người trước một thứ văn xuôi đẹp, vừa giàu chất thơ vừa hừng hực lời hiệu triệu.
Nhà văn Nguyên Ngọc

Tạng văn Nguyên Ngọc dường như chỉ phát huy đến tối đa năng lực và sức hấp dẫn của nó khi ông dùng đến thể ký. Tập ký gần đây nhất của Nguyên Ngọc, Các bạn tôi trên ấy (NXB Trẻ, 2013), viết về Tây Nguyên, gợi lên khá nhiều điều cần phải suy ngẫm. Nghĩ lại, và nghĩ tiếp.

Trong số hai mươi tư bài của tập ký, bài Nước mội, rừng xanh và sự sống là một bài khá lạ. Nguyên Ngọc không đưa người đọc vào không gian của cao nguyên Nam Trung bộ ngay, mà ông kéo người đọc xuống biển, đúng hơn là xuống vùng đất mấy trăm cây số ven biển Nam Trung bộ, nơi miên man những cồn cát lớn, nơi vốn mặc định trong ý nghĩ của rất nhiều người chúng ta là đất nghèo, nghèo xác nghèo xơ.

Có thật là thế không, có luôn là thế không, khi trong quá khứ, chính ở vùng đất này đã từng hiện diện một vương quốc Champa cực kỳ thịnh vượng? Sự thịnh vượng ấy từ đâu mà có? Câu trả lời: từ nước mội. “Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành. Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là “thổ”, những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất” (tr.44). 

Vậy đó, nước mội giúp người dân xứ cát phát triển sản xuất nông nghiệp. Nó cũng giúp họ phát triển hoạt động giao thương biển, khi ít nhất, dù muốn hay không, thương thuyền quốc tế khi qua các cảng biển ở đây vẫn phải cập bờ để “ăn” nước ngọt. Ngọn nguồn của nước mội ở đâu? “Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người Mẹ vĩ đại, bao dung mà tảo tần, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, để dành, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia” (tr.46). Từ xa đến gần, rốt cuộc rồi Nguyên Ngọc lại trở về với Tây Nguyên, quê hương tinh thần, vùng yêu (mà cũng là vùng đau) của mình.

Bằng các trang viết về Tây Nguyên trong tập sách, Nguyên Ngọc đã làm hiển lộ một Tây Nguyên với tất cả sự huyền ảo, mê đắm, đơn giản mà minh triết một cách đặc dị của nó. Có thể nói, xuyên qua những biểu hiện phong phú đến rậm rịt của đời sống, của văn hóa các tộc người Tây Nguyên, ông đã tìm thấy “yếu tố nền”, có ý nghĩa chi phối mọi dạng thức tồn tại ở nơi đây. Đó là Rừng. Tây Nguyên chính là rừng. Nguyên Ngọc khẳng định: “Ở Tây Nguyên, rừng là tất cả, bao trùm. Khởi nguyên là rừng. Chúa dạy: Khởi đầu là Lời. Ở đây, khởi đầu là Rừng. Nguyên lai là rừng. Rừng là bắt đầu và tận cùng của mọi thứ trên đời này. Như không gian, như thời gian, vô tận” (bài Người về Kông Chro, tr.177). 

Một không gian rừng, một thực thể rừng kỳ lạ và kỳ diệu. Nó tỏa ra một sức hút, một sức ám đến không thể cưỡng lại được đối với con người. Rải suốt các bài ký, Nguyên Ngọc đã kể cho ta biết, một cách thật thú vị, về nhiều con người bị rừng Tây Nguyên “ám” như thế nào: Nhạc sỹ Y Yơn, nghệ sỹ múa Giang Nga, họa sỹ Su Man, một ông phó tư lệnh quân khu người Hre, rồi Hruck – con trai anh hùng Đinh Núp v.v… toàn những người đang công tác sinh sống yên lành bình thường giữa cộng đồng, bỗng chốc biến mất. Họ “về rừng”, về chỉ để lang thang trong rừng vài ngày, rồi trở lại.

Thậm chí có những con người vốn sinh ra và trưởng thành trong một không gian xã hội khác hẳn, khi đến với rừng Tây Nguyên, lập tức bị chiếm lĩnh hoàn toàn, họ sống trong rừng Tây Nguyên như những người Tây Nguyên suốt hàng chục năm trời. Đó là trường hợp của các nhà dân tộc học Jacques Dournes (tác giả cuốn P’tao, một lý thuyết về quyền lực ở người J’rai Đông Dương) và Georges Condominas (tác giả cuốn Chúng tôi ăn rừng) – những “ông Tây” đã yêu Tây Nguyên và đã thực sự “sống Tây Nguyên”. Nhưng như vậy thì mới chỉ là sự ghi nhận rừng Tây Nguyên ở bề mặt, ở lớp vỏ. Một người gắn bó với Tây Nguyên hơn nửa cuộc đời - cũng là người, nói như nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, “đi rất rộng trong văn hóa, đi rất sát với cuộc sống, với nhân dân, và đi rất sâu trong tư duy” - như Nguyên Ngọc, ắt sẽ còn phát hiện từ đó nhiều điều hơn thế nữa.

Rừng là sức hút và rừng cũng là sức đẩy. Rừng là đam mê và rừng cũng là nỗi sợ. Nếu như tôi không nhầm, có lẽ Nguyên Ngọc là người đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến lúc này nhận ra rằng: “Con người Tây Nguyên là con người sống rất chông chênh, trên một ranh giới mong manh, bên này là rừng bên kia là xã hội. Họ luôn bị níu kéo giữa hai bên… Tây Nguyên chính là thế chông chênh kia, một thế chông chênh bền vững, một thế bền vững chông chênh” (bài Các bạn tôi ở trên ấy, tr.72).

Cái thế chông chênh ấy lý giải tại sao người Tây Nguyên, vẫn phải sống ở làng, nhưng lại có những lúc bất chợt tan biến mất vào rừng, lang thang vô định trong rừng, như một thôi thúc tự thân, không thể không thỏa mãn, cho dẫu họ luôn ám ảnh nỗi sợ bị sảy chân, bị rơi tõm vào cái âm u hoang dã của rừng.

Cái thế chông chênh ấy lý giải tại sao vào mùa Ninh Nông hàng năm, khi lúa đã gặt xong, mọi cư dân trong làng người Xơ Đăng lại bỏ tất cả nhà cửa, vật dụng, quần áo mà vào thật sâu trong rừng mươi ngày, nửa tháng, hái lượm tìm cái ăn, cọ đá vào nhau để làm ra lửa, dùng cái cây mà ném con thú… như người nguyên thủy, và năm nào cũng vậy. 

Cái thế chông chênh ấy cũng lý giải tại sao đi giữa rừng Tây Nguyên, thỉnh thoảng ta lại bắt gặp một khoảnh đất lạ, mang dấu vết của một nơi từng là làng: mấy cây mít, xoài, vài bụi ớt hiểm, mấy cây cà đắng, dăm cột nhà cháy… Người Gia Rai gọi đó là rngol, “Rngol là một khoảnh nhỏ con người đã mượn của rừng để thuần hóa làm làng, plei, làm văn hóa, nay lại trả về cho rừng, và hoang dã đang chiếm lại, rất nhanh. Cũng có thể một hôm nào đó con người lại đến đây, lại mượn thêm lần nữa, thuần hóa cho mình một đoạn khúc nào đó, rồi lại trả, cho thành rngol, rồi lại mượn, làm plei, và lại trả…” (bài Akhan, mùa xuân, tr.248). 

Cứ thế, trên thực địa Tây Nguyên của mối quan hệ rừng, đại diện cho tự nhiên, và người, đại diện cho văn hóa, Nguyên Ngọc đã tiến tới một nhận thức mang tính biện chứng về quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên: “Văn hóa là sự cố gắng bứt ra của con người khỏi tự nhiên, bứt ra nhưng vẫn cứ phải dính liền, không chìm nghỉm trong ấy nhưng vẫn còn phải nhúng rễ rất sâu trong ấy, nếu không muốn khô khốc, cằn cỗi, chết rụi” (bài Các bạn tôi ở trên ấy, tr.72). Đây là một nhận thức quan trọng, theo tôi, quan trọng đến mức nó có thể và cần phải trở thành kim chỉ nam cho một định hướng phát triển bền vững về mọi mặt ở Tây Nguyên, và không phải chỉ ở Tây Nguyên. 

Trước hết, nó giúp ta hiểu rằng với con người thì tự nhiên chính là bào thai mẹ, là nguồn dưỡng chất, là cái Gốc. Cái cách mà chúng ta đã và đang làm với rừng Tây Nguyên – chặt và đào, hùng hục khai thác, tàn phá rừng đến cùng kiệt – không gì khác hơn, chính là hành động triệt hạ cái Gốc kia. Khô hạn và lũ lụt từ đấy mà ra. Và con người Tây Nguyên, khi không còn rừng nữa, còn có chỗ nào để họ thỉnh thoảng tan biến vào, tự làm mới lại tâm hồn mình bằng cách tắm gội trong ngọn nguồn nguyên thủy?

Còn có không gian nào để từ đó những lễ và hội, những nhà rông nhà dài, những đêm akhan miên man, những ché rượu cần, những cồng và chiêng, những cuộc diễn tấu Klong Put tự nhiên và đầy ngẫu hứng… tồn tại, vận hành trong một thể thống nhất, hữu cơ? Không ít lần Nguyên Ngọc đã lo sợ: “Tây Nguyên đang mất gần sạch rừng xanh rồi. Đại ngàn thì tuyệt đối không còn. Tất cả đang trống trơn, phơi ra đỏ ngầu đất trơ khô cháy. Con người ở đấy rồi sẽ ra sao đây? Thú thật, tôi chưa biết, chỉ lo sợ. Rất lo sợ” (bài Tây Nguyên, mùa lễ hội, tr.270).

Thứ hai, nhận thức trên sẽ giúp ta hiểu đúng về đặc điểm của văn hóa tộc người, tránh được những ngộ nhận, nhờ thế, không ứng xử sai và không dẫm phải vết xe đổ của sự áp đặt văn hóa. Trong tập bút ký này, Nguyên Ngọc đã nêu nhiều dẫn chứng chứng minh điều đó. Người ta xúc phạm đến người Tây Nguyên khi “cả gan” hỏi mua hoặc đặt làm tượng nhà mồ chỉ vì không hiểu rằng tượng nhà mồ không phải thứ làm ra để bán, người chế tác tượng (có thể là bất kỳ ai) không hề nghĩ mình là nghệ sỹ đang sáng tạo nghệ thuật, anh ta thậm chí còn không có chủ định làm ra pho tượng nữa kia. “Ở Tây Nguyên không có người nghệ sỹ chuyên nghiệp. Người ta không làm nghề nghệ thuật. Nghệ thuật tuyệt đối không phải một nghề. Nghệ thuật là đời sống, cách sống, thế thôi. Là hơi thở, là không khí… Ở Tây Nguyên, vậy đó, người ta làm nghệ thuật vì chẳng đừng được. Vì một khao khát tự bộc lộ, tự biểu hiện, tự bóc mình ra, đột ngột ập đến, không cưỡng lại nổi” (bài Tượng gỗ rừng già, tr.33, 34, 35). 

Người ta đã vô duyên, đã phí tiền của công sức khi làm và “đem cho” làng Tây Nguyên cái nhà rông đúng kiểu truyền thống, vì không hiểu rằng nhà rông phải do tự làng làm lấy, sống đời sống của làng, nó chính là linh hồn của làng. “Một cái nhà rông đem cho, dù người cho là ai, dù với thiện chí chân thành đến bao nhiêu và đẹp đẽ đến mấy, sao chép giỏi đến mấy kiểu nhà rông đúng nhất, cổ xưa nhất, vẫn là một ngoại vật, một dị vật trong đời sống của làng” (bài Nhà rông, hồn của làng, tr.57).

Cuối cùng, quan trọng hơn cả, nhận thức trên sẽ giúp ta hiểu đúng giá trị của văn hóa tộc người, từ đó tránh được sự kỳ thị (công khai hoặc ngấm ngầm) về văn hóa. Còn nhớ, vào những năm năm mươi của thế kỷ XX, trong một hội thảo quốc tế về chống phân biệt chủng tộc, nhà dân tộc học lừng danh thế giới Claude Levy Strauss trình bày một bản báo cáo có tên Lịch sử và chủng tộc (đã có bản dịch tiếng Việt, của Huyền Giang) trong đó ông nhấn mạnh: không có những nền văn hóa tộc người cao hơn hay thấp hơn, mà chỉ có những nền văn hóa tộc người khác nhau.

Đọc tập bút ký của Nguyên Ngọc, thấy rõ ràng văn hóa Tây Nguyên là một nền văn hóa khác biệt, và là một sự khác biệt cần phải, rất đáng được trân trọng, cho dẫu đó là sự khác biệt của một thiểu số. Có thể nói, Nguyên Ngọc đã trầm mình vào nó, quan sát, cảm nhận, đánh giá nó với tư cách của một người bên trong chứ không phải một người ở bên ngoài hay ở bên trên. Bởi thế, dễ hiểu tại sao ông đã viết, với đầy sự tự hào về vẻ đẹp của nhà rông Tây Nguyên, vẻ thanh nhã cao quý của già làng Tây Nguyên trong đêm kể sử thi.

Bởi thế, dễ hiểu tại sao ông đã viết, rất say sưa và đầy sự đồng cảm, về bản tính thích đi lang thang vô định của người Tây Nguyên, quan niệm của họ về cái sống và cái chết, đàn ông và đàn bà, hôn nhân và tình dục, làm và chơi, tích lũy và đem cho v.v… Phải đắm đuối với Tây Nguyên đến thế (đắm đuối nhưng tỉnh táo!) ông mới có thể làm được một sự liên hệ thú vị giữa lễ thổi tai với rượu cần, và nhận ra ở đó một triết lý:

Nhớ và quên, ngẫm mà xem, phải chăng nói cho cùng đó là hai lẽ sinh tồn tuy hai mà một, hai mặt chủ yếu không thể tách rời của công cuộc làm người ở đời. Không biết nhớ thì hiển nhiên không thể là con người rồi. Song sống mà không biết quên, không có những lúc biết quên đi đến mức “nẻ cả lỗ tai” thì cũng chẳng thể nào sống nổi trên cõi nhân gian biết mấy khổ đau, quá phức tạp và nhiêu khê này. Cuộc đời này, phải chăng lắm lúc cũng đáng quên biết bao nhiêu, quên phứt đi cho rảnh, cho rồi, mà ngẫm cho cùng cũng lại đáng sống để mà nhớ lấy biết bao nhiêu” (bài Lễ thổi tai và rượu cần, tr.314).

Đó là minh triết mà Nguyên Ngọc nhận được từ văn hóa Tây Nguyên. Minh triết của rừng.

HOÀI NAM
Theo Người Đô Thị

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

TÍNH HẬU HIỆN ĐẠI TRONG "HẠC VÀNG" CỦA PHAN NHẬT CHIÊU

Phan Nhật Chiêu từ lâu đã trở thành cái tên quen thuộc đối với những người nghiên cứu và yêu thích văn chương. Ông là dịch giả, nhà “Nhật học”, một “cư sĩ” gắn bó với Thiền và Phật giáo, là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu có giá trị…
Nhà văn Nhật Chiêu - Ảnh: Phan Hoàng

Hiện nay, Nhật Chiêu tập trung vào công việc sáng tác truyện ngắn - những truyện ngắn mang hơi thở của Hậu hiện đại. Hạc vàng là tác phẩm trích từ tuyển tập Người ăn gió và quả chuông bay đi.

Mưỡu

Cánh hạc vàng, cánh hạc vàng
Hư không bỏ lại, điêu tàn mang theo

Câu mưỡu đơn của thể thơ hát nói mở đầu truyện ngắn. Mưỡu là đề từ chăng? Để gợi nhớ về Thôi Hiệu chăng? Hay là để tìm kiếm hạc vàng của thời xưa cũ?

Nếu chúng ta phân tích một truyện ngắn, chắc hẳn công việc đầu tiên là giới thiệu tóm lược câu chuyện xảy ra trong đó. Nhưng thực sự là không thể làm như thế với Hạc vàng, bởi nó là Hậu hiện đại. Một trong những cơ sở của thủ pháp Hậu hiện đại là giải cấu trúc, nghĩa là phải phá vỡ, phải hóa giải cấu trúc - một hệ thống khép kín tồn tại trong những sáng tác văn chương. Hãy tự đọc tác phẩm và tùy anh, yêu hay ghét nó.

Nhật Chiêu không xây dựng một cốt truyện hoàn chỉnh có mở đầu và có kết thúc. Hạc vàng của ông chỉ là những phiến đoạn đặt cạnh nhau, không coi cái nào là trọng tâm, không có phiến đoạn nào là thứ yếu. Mười một phiến đoạn bình đẳng, ngang hàng nhau. Và cũng không hề xen vào một lời bình luận nào giữa chúng. Tính phiến đoạn là thủ pháp của nghệ thuật Hậu hiện đại.

Hậu hiện đại là trào lưu của cái nhìn, đưa ta về với thế giới như nó vốn là, không gán thêm bất kỳ ý nghĩa nào cho nó. Đây là mảnh đất của tự do: tự do tư tưởng, tự do sáng tạo, tự do sống…

Hạc vàng của Nhật Chiêu rất tự do, không bị gò bó trong một thủ pháp khu định nào. Hình thức biểu hiện của truyện ngắn này là sự góp mặt của rất nhiều thể loại: hát nói, văn xuôi, thơ tự do, lục bát, ca dao.

 “Mẹ ơi, đó là con vịt bị ốm à?
  Không phải đâu.
  Chắc là ngỗng con đang nhớ bố?
  Không phải.”

  “Nhất lung thiên địa tàng thân tiểu
  Hạc đã quên bay, cánh hạc vàng!
  Hạc vàng nhất khứ,
  Vĩnh cửu quy hồi”

Sự tìm kiếm những cách diễn đạt mới như trên làm cho hình thức tác phẩm Hậu hiện đại trở nên đa dạng.

Nhìn ở một góc độ nào đó, Hạc vàng giống như một bài hát nói chính cách mười một câu với kết cấu: mưỡu đầu – trổ đầu (gồm 4 phần 1, 2, 3, 4) – trổ giữa (5, 6, 7, 8) – trổ cuối (9, 10, 11). Trong đó, phần thứ mười (10) có chứa mưỡu hậu và câu keo:

  Hư không đâu, bóng dương tà?
  Mang mang cát bụi, còn ta với sầu
  Tan nghìn xưa, nát nghìn sau!

Đây chính là sự vận dụng nghệ thuật nhại đùa Hậu hiện đại của tác giả Nhật Chiêu. Hình thức nhại đùa không có ý phỉ báng hay giễu cợt, đơn giản nó chỉ muốn cho người đọc trong một lúc tìm thấy nhiều cách viết khác nhau về cùng một đối tượng.

Trong tác phẩm của mình, Nhật Chiêu đã sử dụng rất nhiều yếu tố nhại đùa.
Ông nhại lại bài thơ Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu.
 
Hạc vàng nhất khứ,
Vĩnh cửu quy hồi.

So với:
 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Ông đã dịch bài thơ nổi tiếng này sang tiếng Việt bằng thể lục bát, và giờ đây, ông cũng nhại lại bài dịch ấy của mình trong hai câu mưỡu ở phần đầu truyện ngắn:
 
Chở tiên đi, cánh hạc vàng
Bỏ hư không lại còn Hoàng hạc lâu

Trong bản dịch bài Đăng An Lục tây lâu của Triệu Hỗ, Nhật Chiêu viết:

Lầu gác ngày ngày mở tiệc chơi
Mây mưa ngầm đổi người ca múa
Sông núi không ngưng chén khóc cười

Thì trong Hạc vàng ông nhại rằng:
Mây mưa ngầm đổi
Người ca múa rồi
Giữa thinh không ấy
Nửa chừng cuộc chơi.

 Còn:

Xe xe, bụi bụi,
Ma ma, người người

Phải chăng tác giả muốn nhại lại Phản chiêu hồn của Nguyễn Du?
Hay hình ảnh con cò chết rũ trên cây trong ca dao Việt Nam đã trở thành “cánh hạc vàng chết rũ trong lồng”. Mà hình ảnh cái lồng mà ông nhắc đến ở đây và ở trong phần một của truyện ngắn phải chăng cũng là sự nhại đùa cái lồng trong sở thú nơi nhốt những anh hùng của chốn rừng xanh như trong thơ của Rainer Maria Rilke (bài Con báo), hay cũi sắt giam cầm sự oai nghiêm của chúa tể sơn lâm trong Nhớ rừng của Thế Lữ…

Sự nhại lại hướng người đọc đến cách đọc liên văn bản. Qua đó chủ nghĩa Hậu hiện đại cho rằng không có cái mới vì cái mới chẳng qua là sự tái sắp xếp những điều đã có từ xưa. Những cái nhại lại của Nhật Chiêu trong Hạc vàng không phải là cái mới hay chính là cái mới?
Trở lại với tính chất phiến đoạn trong truyện ngắn Hạc vàng. Mười một phần xếp ngang bằng nhau cho chúng ta mười một mảnh vỡ từ cuộc sống. Những đoạn đối thoại xuất hiện gần như trong tất cả các phần.

Mi có biết thành phố lớn này thật sự là lớn không?
Mi có biết trường Đại học này thật sự là vĩ đại không?
Mi có biết cái lồng dựng trước cổng Đại học này thật sự là cái lồng bao la không?

Đây là những đại tự sự nhai đi nhai lại với một lòng tự hào không giấu giếm để bắt ép hoàng hạc phải tỏ ra vui mừng khi được nhốt trong một cái lồng bao la, trước một cái trường vĩ đại của một thành phố lớn. Trong khi thế giới chỉ là một tinh cầu bé nhỏ! Trong khi hoàng hạc được xem là linh điểu xứ thần tiên! Nực cười thay cho sự bao la ấy.

Chim vàng một thuở
Rơi thì đã rơi!

Hạc vàng đã lạc giữa trần gian, nơi không thể trở về, nơi đầy rẫy lũ chim anh vũ nhảm nhí, nơi sự thay đổi đến không gì cưỡng lại được, nơi người và ma lẫn lộn.

Ta là Hạc Vàng. Như ta vẫn là.

Không gì là thật và không gì là giả. Hãy nhìn hạc vàng là hạc vàng. Hạc vàng đã đến như nó chính là, cớ sao không chấp nhận nó, cớ sao lại hỏi chuyện thần tiên.

Vị giáo sư bày tỏ tham vọng biến hạc vàng từ một “hình tượng” thơ ca thành một “hình ảnh” để giải phẫu kiếm tìm chân lý thơ ca. Hạc vàng đã sống cả nghìn năm.

Lời đề nghị của chủ gánh xiếc biến hạc vàng thành trò mua vui cho thiên hạ. Nhà thiết kế thời trang muốn đổi lấy những chiếc lông vàng thần tiên. Nhà sử gia muốn đưa hạc vàng vào “chính sử”. Cõi trần gian chỉ là những lời đề nghị thực dụng và thô thiển với cánh hạc thiêng liêng, cánh hạc của thi ca.

Hạc vàng bất tử. Bi kịch của những kẻ bất tử.

Và đến phần mười một, những cái kết thúc diễn ra, mơ hồ với câu hỏi lớn dành cho độc giả. Hạc vàng sẽ ra sao?

Trong thế giới mà vẻ bề ngoài vật chất luôn được quan trọng hóa: “thực sự lớn” hay “thực sự vĩ đại”.

Trong thế giới mà những kẻ nhảm nhí thường được đắc chí.

Trong thế giới bất định và hỗn loạn mà vẫn có những kẻ muốn đặt nó trong tầm kiểm soát, muốn biết hết, muốn đạt đến “chân lý tuyệt đối”.

Trong thế giới mà vẻ đẹp của thơ ca bị trần trụi hóa.

Trong thế giới chữ tiền choáng ngợp. “Ngàn năm bay mà không có một xu”.

Trong một thế giới thích phô trương. Thơ ca là “pô - em” hay “pô - anh” nhỉ?

Trong thế giới mà bằng cấp quan trọng hơn thực học. Buồn cười thay cho vị giáo sư của Tôi À À của trường Đại học vĩ đại kia, không nói được một câu cho rõ ràng mà cứ muốn đuổi bắt cho được nàng thơ trong hạc vàng.

Chỗ của hạc vàng không phải là ở trong lồng, dù là cái lồng bao la đến mấy. Chỗ của hạc vàng là bầu trời cao xanh tự do của thơ ca mà thiếu nó, hạc vàng cũng chỉ là, “một con chim, ờ nhỉ!”.

Có một nhà thơ xuất hiện, nhẹ nhàng mở cửa lồng. Bạn có thấy gì không? Câu chuyện Hạc vàng ngừng tại chỗ ấy.

LÊ THỊ HỒNG NHUNG
Khoa VH-NN ĐH KHXH&NV TPHCM

TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ KHÁC:



BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...