Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2018

BÙI GIÁNG - NHÀ THƠ CỦA CÁC NHÀ THƠ

Bùi Giáng, cũng như các thi sĩ thiên tài, đều vượt quá mọi đóng khung. Tuy nhiên, nhà phê bình, vốn là một động vật thích phân loại, nên, một mặt để thỏa mãn mình, mặt khác để hiểu thi nhân, ít nhất là trên đại thể, thì có thể tiếp cận ông từ cạnh khía kiểu nhà thơ.

Bùi Giáng, tôi nghĩ là một thi sĩ - triết gia, một nhà thơ đồng thời là một nhà triết học. Thi sĩ - triết gia, khác với triết gia - thi sĩ, tồn tại trước hết với tư cách nhà thơ, sau đó mới đến nhà triết học. Kiểu nhà thơ này không phải đến Bùi Giáng mới có, mà từng tồn tại trong văn đàn thế giới như Goethe, Hoelderlin, Braudel, Tchutchev…, hay Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Tản Đà… ở Việt Nam.
Nhà thơ Bùi Giáng

Tiếp tục truyền thống thi sĩ - triết gia này, Bùi Giáng đã nâng tầm vóc của nó, ít nhất trong trường hợp Việt Nam, lên cao thêm một bước. Việt Nam vốn không phát triển lắm về triết học. Các tư tưởng triết lý, vì thế, phần lớn có nguồn gốc từ các nền văn hóa lớn bên ngoài. Việc tiếp nhận chúng thường theo nguyên tắc tương ứng chứ không phải đồng thời, như trường hợp Tản Đà đầu thế kỷ XX tiếp thu tư tưởng của các nhà triết học Ánh Sáng thế kỷ XVIII. Các thi sĩ - triết gia của Việt Nam, vì thế, xét trên cạnh khía thời đại, thường lỗi thời ít nhất một nhịp. Điều này hẳn ít nhiều ảnh hưởng đến tầm vóc và, do đó, tư thế đối thoại với thế giới.

Bùi Giáng, ngược lại, tiếp thu chủ nghĩa hiện sinh của J-P.Sartre, A.Camus, K.Jaspers… một cách trực tiếp và đồng thời, khi nó còn đang sống động và đang phát triển. Rồi từ triết học hiện sinh đi đến hiện tượng luận, sau đó hiện tượng luận hiện sinh của Heidegger. Bùi Giáng, chủ yếu, đi đến với triết học Heidegger bằng trải nghiệm riêng của mình. Từ cảm nghiệm vong thân đến với tự do, Bùi Giáng không hiểu triết học như một thầy giáo, mà sống triết học như một bậc thầy. Bởi thế, ông có đầy đủ tư cách triết gia, để phê phán Sartre trong Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, trao đổi thư từ học thuật với chính Heidegger và nhà thơ René Char. Quả thật, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có một nhà thơ Việt Nam sống cùng nhịp với các trào lưu tư tưởng lớn của thế giới đương đại.

Trước đây, trong thời tiền hiện đại/hiện đại, vẫn thấy những trường hợp thi sĩ và triết gia tuy có chỗ trùng, nhưng rốt cục, vẫn là hai con người riêng biệt. Như một sự phân thân. Còn ở Bùi Giáng thì cuộc đời, thơ ca và triết học là một, là một thứ tam diện nhất thể, đúng hơn tam vị nhất thể. Như con khỉ Mỹ Hầu Vương trở thành Tôn Ngộ Không sau khi ra khỏi lò bát quái của Thái Thượng Lão Quân, Bùi Giáng trở thành Bùi Giáng, một thi sĩ - triết gia, sau khi đã chưng cất được một hợp chất từ ba yếu tố cuộc đời - thi ca - triết học trong “nồi hầm” văn hóa thời đại có nhiệt độ cao và áp xuất lớn. Hơn nữa, ở thời hậu hiện đại, thi sỹ và/là triết gia cùng đưa ra những diễn ngôn mới, đúng hơn, diễn ngôn về diễn ngôn, không hề chịu một quy định trước nào, cũng không có tham vọng trở thành phổ quát, chỉ khát khao tỏ lộ cá tính riêng thuộc của mình. Hay, nói khác đi, cuộc đời của Bùi Giáng thi sĩ và tư tưởng gia, tuy là nhiều, nhưng đều dẫn đến một đích nhắm là tìm gặp cái Uyên Nguyên, cái Bản Nguyên trong thế giới vạn vật. Heidegger thường tụng ca thi gia và tư tưởng gia, những kẻ canh giữ ngàn đời cho ngôi nhà của tồn tại như/là/qua/bằng/bởi ngôn ngữ. Thế nên, Bùi Giáng, xuất nhập cả trong thân phận thi gia lẫn tư tưởng gia, chẳng qua cũng chỉ là những cách thế tuy khác nhau, nhưng đều dẫn trở về ngôi nhà của tồn tại.

Hợp chất của cái “nồi hầm” siêu tổng cộng các yếu tố văn hóa thời đại đó chính là cái mà Bùi Giáng gọi là tư tưởng hiện đại. Tư tưởng hiện đại, theo Bùi Giáng, trước hết là tư tưởng đương đại, mà trong thời đại của ông là hiện tượng học hiện sinh và, sau đó, là toàn bộ những điểm khả thủ của tư tưởng nhân loại không phân biệt đông tây kim cổ được nhìn từ tư tưởng đương đại. Bùi Giáng gọi động thái này là “trùng phục thu hồi”, một kiểu tiếp thu sáng tạo như ngày nay thường nói. Tư tưởng hiện đại, bởi thế, luôn là sự giao thoa giữa cái đương đại và cái đã qua, đưa cái đã qua trở thành đương đại. Nội dung của tư tưởng hiện đại của mỗi thời có thể mỗi khác, tùy theo sự thông diễn của người đương thời, nhưng cái gọi là tư tưởng hiện đại thì như một hằng số thời nào cũng có. Đó chính là sự “thiết lập Vĩnh Thể trên dòng Tồn Lưu” của Bùi Giáng.

Tư tưởng hiện đại của thời đại Bùi Giáng chính là hiện tượng học thông diễn mà thi nhân gọi là giải minh hay minh giải học. Sống, làm nghệ thuật cũng như làm học thuật, trước hết là phải thông (thông diễn, thông giao, tương thông, liên thông) đã, tức thâm nhập vào đối tượng, trở thành đối tượng, biến đối tượng thành một chủ thể, sau đó phải diễn (diễn giải, diễn dịch, diễn giảng, quảng diễn), tức trình bày cái thông của mình cho người khác. Thông diễn, như vậy, là một quá trình tham dự của một chủ thể vào một đối tượng để biến đối tượng đó thành một chủ thể mới, không chỉ với người khác mà cả với chính chủ thể trước. Thông diễn học, vì thế, là một khoa học chủ quan, hay nói khác vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Nó có khả năng biến một sự kiện (khách quan) thành một chân lý (chủ quan), bởi như Kierkegaard nói: chân lý là chủ quan. Với tư cách là trí tuệ cảm xúc, thông diễn học là phương thức nhận thức chủ yếu, phù hợp với cái nhìn thực tại mới của con người trong xã hội hậu công nghiệp, tin học và công nghệ cao.

Thơ Bùi Giáng thể hiện một cái nhìn thông diễn học rất rõ. Sự vật và con người trong thơ ông không bao giờ là tự thân, tự đầy đủ, mà luôn trong trạng thái đương - là, không hoàn kết, luôn ở thế tương giao, đối thoại với người đọc. Điều này đã được đề cập đến ở phần trước, khi nói về trò chơi ngôn ngữ, và còn đặc biệt rõ hơn trong các công trình nghiên cứu của Bùi Giáng, như Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, Con Đường Ngã Ba, Thi Ca Tư Tưởng, Đường Đi Trong Rừng… đầy những trích dẫn, vận dụng rất nhiều tri thức đông tây kim cổ từ các triết gia Hy Lạp cổ đại đến Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Đức Phật, các nhà văn, các nhân vật tiểu thuyết, thậm chí đến người thật như Kim Cương, Monroe, Phùng Khánh… Điều này cũng thể hiện rất rõ trong các tác phẩm biên dịch như Lời Cố Quận, Lễ Hội Tháng Ba của Heidegger, Mùi Hương Xuân Sắc dịch Heidegger, Nerval và Camus… Bùi Giáng sử dụng lối dịch - thông diễn. Kể cả khi dịch một tác phẩm văn chương, ông cũng dịch với một tinh thần đồng điệu, chứ không dịch câu chữ. Nhờ sự trái thói này, mà chúng ta có được những tuyệt phẩm dịch thuật như Hoàng Tử Bé và Cõi Người Ta. Tuy vậy, cách làm phá cách, không chịu tuân theo lề lối, đúng hơn là theo một thứ lề - lối - phi - lề - lối của tương lai, đã làm nhiều người không chịu nổi, nhất là những nhà nghiên cứu trường trại, hoặc những người có đầu óc chuồng trại.

Một trong những cách sống thể hiện sự nhất quán của thi cách và nhân cách Bùi Giáng đó là bệnh điên của thi nhân. Đành rằng xưa nay thiên tài và điên là chị em ruột. Nhưng cái điên của Van Gogh, của Dostoievski thì ai cũng nhận ra đó là bệnh. Chỉ có trường hợp Bùi Giáng thì mới có chuyện một điên mười ngờ. Bởi thế, tôi tạm gọi đó là điên - Bùi - Giáng. Người ta đã, và hẳn còn sẽ, tốn nhiều giấy mực để bàn về chuyện Bùi Giáng có điên thật hay không. Tạm gác sang bên vấn đề bất khả giải này, hay có giải được cũng có thể chẳng chứng tỏ dược nhiều điều, thì có thể thấy, Bùi Giáng trước hết là người ngộ chữ, thậm chí còn ngộ chữ có nòi. Khác với những kẻ mọt sách thường là nô lệ cho chữ có sẵn, người ngộ chữ tuy cũng đam mê chữ thái quá, nhưng lại thích đùa nghịch chữ, làm mới chữ. Sự thái quá là không bình thường, bị coi như một thứ bệnh, bệnh điên. Mà sáng tạo, nhất là sáng tạo văn chương nghệ thuật, thì bao giờ cũng thái quá, cũng không bình thường, cũng điên rồ. Điên - Bùi - Giáng, bởi thế, có thể xếp vào loại điên - nghệ - sĩ, một thứ điên mà không điên, không điên mà điên.

Bùi Giáng, trước hết, rất ý thức về cái điên của mình. Đây là một điều mà ở người điên thuần bệnh lý không bao giờ có. Kể cả với người lúc tỉnh lúc điên, vì khi ở trạng thái này thì anh ta lại quên hẳn trạng thái kia. Người điên, vì thế, không biết là mình điên, tức hoàn toàn bị vô thức điều khiển, và sẽ khăng khăng phủ nhận nếu có ai đó bảo mình điên. Bùi Giáng, ngược lại, làm rất nhiều thơ về sự điên của mình, như “Người Điên Uống Rượu”, “Ông Điên”, “Thơ Điên”, “Quá Khứ Của Anh”… Thậm chí Bùi Giáng còn sáng tạo ra cả thứ ngôn ngữ của người điên, mà, theo ông, ngôn ngữ què quặt của người tỉnh khó mà hiểu được nó, nhất là ngôn ngữ của người điên có nghề nghiệp:

Người điên ngôn ngữ điệp trùng
Giở chừng như mộng giở chừng như mê
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên

                     (“Người Điên”)

Không những xác định cái điên của mình, mà Bùi Giáng còn dấn thân quyết liệt vào nghề nghiệp điên. Bởi lẽ, thi nhân tìm thấy ở điên niềm hạnh phúc. “Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời”. Hạnh phúc là khi mình đồng nhất với mình. Điên là trạng thái trùng khít hoàn toàn giữa con người và bản thân hắn ta. Một sự trùng khít ở cấp độ bản năng, thực vật. Điên Bùi Giáng thì không hẳn là vậy. Ông vẫn nhận ra sự nghiêng lệch giữa mình và thế giới, và vì thế mà muốn co vào cái điên của mình như một vỏ bọc, để mình được là mình. Điên của Bùi Giáng, bởi vậy, chính là một thái độ sống, một cách tồn tại ở đời.

Như vậy, Bùi Giáng, ý thức hoặc vô thức, đón gặp sự điên của mình, để, một mặt vượt thoát khỏi mọi can thiệp của cái xã hội, vốn quyền uy và thực dụng, vào lối sống riêng của mình; mặt khác, bằng hành động điên rồ gửi sự minh triết đến cho mọi người, nhất là những con người bình thường. Hình ảnh Bùi Giáng ăn mặc lôi thôi lếch thếch, cổ đeo đầy ống bơ, giày dép, đứng ở ngã tư đường phố Sài Gòn, chỉ lối cho con người và xe cộ qua lại, gợi nhớ đến các nhà tiên tri cổ đại. Hoặc Bùi Giáng “nuôi” rất nhiều lợn đất, gà nhựa ở nhà và đi đâu ông cũng nhớ về cho chúng ăn. Và mỗi khi cho rằng loại gà lợn này đi chơi đâu xa, Bùi Giáng thường rải gạo dọc đường để cho chúng nhớ lối mà về nhà. Những cảnh tượng ấy, quả thực, cũng giống như một cuộc trưng bày nghệ thuật trình diễn hoặc sắp đặt giàu ý tưởng. Hay, đúng hơn, Bùi Giáng đang làm thơ. Một bài thơ bằng các vật liệu phi ngôn từ của loại thơ cụ thể.

Người điên cũng như người chứng ngộ đều cùng chung một cõi vô trí. Nhưng người điên thì ở bề dưới của trạng thái đó, còn kẻ chứng ngộ thì ở vùng trên. Di chuyển giữa hai đường biên đó, Bùi Giáng không bao giờ điên thật và cũng không bao giờ chứng ngộ, cảnh giới của thực tướng là vô tướng, chân ngã là vô ngã. Ông vẫn còn đặt một chân ở cuộc đời, vẫn đau khổ vì cuộc đời: “Anh đã định suốt thiên thu vạn kỷ/ Làm thằng điên rồ dại suốt thiên thâu/ Nhưng em ạ, dường như anh vô lý/ Lúc đoạn trường anh đứt ruột khổ đau”. Vì còn đau khổ nên ông vẫn cần ngôn ngữ, vẫn tin vào lời, dù lời của ông đã gần với không - lời, tư duy của ông đã gần với không - tư duy. Có lẽ, nhờ thế mà chúng ta có được một Bùi - Giáng - Tuyệt - Tự - Thi, một thứ thơ tuyệt vời ngôn ngữ (tự) và một nhà thơ không thể có người thứ hai nói dõi. Ông như một Bồ Tát không bước hẳn vào cõi vô ngôn, vô trí mà vẫn ở lại với Lời để cứu Lời.

Cuối cùng, như để lại một mật ngữ, trong Lời tựa cho cuốn Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, Bùi Giáng viết về F.Nietzsche như là để nối cái điên của mình vào cái “đại điên” của những vĩ nhân trong lịch sử: “Cái dịu dàng như hươu non đành chực bóp chết lòng mình để rống to như thú dữ. Nhưng lập tức lời nguyền rủa bốn phía vang lên. Và Nietzsche đã điên. Trước Nietzsche mấy chục năm, Hoederlin cũng đã điên. Cùng với bao kẻ khác đã điên. Để ngày nay… Để ngày nay chúng ta tụ hội về đây xôn xao nêu câu hỏi: Cớ sao mà điên? Nêu một cái rất ngây thơ tròn trĩnh.”

Như vậy, với việc đưa ngôn ngữ trở về với sự vật, rồi lại coi sự vật, trật tự sự vật, tức cuộc đời, tức thực tại chỉ là các trò chơi ngôn ngữ, tức thống nhất vào ngôn ngữ cả sự biểu đạt thực tại lẫn thực tại được biểu đạt, Bùi Giáng đã vượt qua chủ nghĩa hiện đại, mở một cánh cửa vào hậu hiện đại, để hôm nay, càng lúc càng đông nhà thơ trẻ, với những kích thước tài năng và tầm vóc tư tưởng khác nhau, chen chân qua khung cửa hẹp ấy. Nếu trước đây, Nguyễn Du mở ra thời kỳ trung đại cổ điển trong văn học Việt Nam, nâng nó lên ngang tầm khu vực Đông Á, còn Tản Đà vào những thập niên đầu thế kỷ XX đã mở đầu cho thời hiện đại, đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo thế giới, tuy có sự lệch thời gian, thì Bùi Giáng ở những mười năm cuối của cùng thế kỷ ấy đã đi đầu trong việc mở ra một thời đại mới cho văn học Việt Nam, văn học hậu hiện đại. Có điều lần này, ít nhất với trường hợp Bùi Giáng, sự phát triển của văn học Việt Nam so với thế giới không còn là sự phát triển tương ứng nữa mà là đồng thời, tức nhịp bước cùng thế giới. Và quan trọng là sau ông đã rậm rịch những chân bước khác. Bởi thế, theo cái cách mà Heidegger gọi Hoederlin, tôi cũng muốn vinh danh Bùi Giáng, cũng như Nguyễn Du và Tản Đà trước đây, những thi nhân làm thay đổi hệ hình tư duy nghệ thuật thời đại, không phải là “nhà thơ giữa các nhà thơ, mà là nhà thơ của các nhà thơ”.

Hà Nội, tháng 11-2011
ĐỖ LAI THÚY
Theo Tia Sáng

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018

NHÀ THƠ, NHẠC SĨ DIỆP MINH TUYỀN: ĐỜI MÌNH LÀ MỘT KHÚC QUÂN HÀNH

Là một nhà thơ (từng giữ cương vị Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM), song trên thực tế, Diệp Minh Tuyền lại được biết đến nhiều hơn trong tư cách một nhạc sĩ - tác giả của khúc tráng ca bất hủ "Hát mãi khúc quân hành" (được hát nhiều ở các buổi liên hoan hay các dịp lễ trọng), cũng như một số ca khúc rất được khán giả trẻ ưa chuộng: "Cánh hoa lưu ly", "Không dám dâu"...
Nhà thơ Diệp Minh Tuyền (1941 - 1997)

Nếu như đứng riêng rẽ, thơ Diệp Minh Tuyền chưa hẳn đã gây được dấu ấn đặc biệt đối với người đọc, song không hiếm bài lại nổi tiếng dưới hình hài một bài hát do các nhạc sĩ có "hạng" phổ nhạc, như các bài: "Tình Bác sáng đời ta" (nhạc Lưu Hữu Phước), "Màu cờ tôi yêu" (nhạc Phạm Tuyên), "Mùa chim én bay" và "Con đường có lá me bay" (nhạc Hoàng Hiệp)... Có thể khẳng định, Diệp Minh Tuyền là một hiện tượng khá kỳ lạ của làng văn nghệ Việt Nam...

Nhà thơ, nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền sinh ngày 18/8/1941 tạo TP Mỹ Tho, trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha anh - cụ Diệp Tư - từng là thủ lĩnh của Thanh niên Tiền phong Mỹ Tho. Mẹ anh là giáo viên. Năm lên 9 tuổi, Diệp Minh Tuyền được mẹ đưa vào sống cùng cha tại chiến khu Đồng Tháp Mười. Tại đây, mỗi tối thứ Bảy, cậu bé lại được cùng các bạn thiếu sinh quân hát vang những bài hát bừng bừng khí thế chiến đấu như "Tiểu đoàn 307", "Chiến sĩ Việt Nam"... Lòng yêu nước, yêu âm nhạc đã hòa quyện trong tâm hồn cậu bé, trở thành niềm vui sống. Sau này, khi Diệp Minh Tuyền được cùng các bạn nhỏ biểu diễn chung với nghệ sĩ Quốc Hương, cậu như tìm thấy thần tượng đích thực của mình. Hình ảnh người nghệ sĩ đội chiếc mũ rộng vành, ôm đàn ghita, say sưa hát những bài tráng ca kháng chiến đã trở thành một trong những hình ảnh ấn tượng nhất trong ký ức một thời của nhà nhạc sĩ tương lai.

Năng khiếu âm nhạc của Diệp Minh Tuyền phát lộ khá sớm. Thời kỳ là học sinh Trường Học sinh miền Nam số 14, mặc dù mới chỉ 13, 14 tuổi, cậu đã sáng tác ca khúc đầu tay "Em bé miền Nam", rồi tiếp đó là "Chiều Hạ Long" được thầy cô và bè bạn rất ngợi khen. Mặc dù đam mê âm nhạc và dự định thi vào Trường Âm nhạc Việt Nam, song nghe theo lời khuyên nhủ của cha, năm 1961, Diệp Minh Tuyền vào học khoa Ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, cùng lớp với các sinh viên sau này là những nhà văn, nhà thơ thành danh như Lữ Huy Nguyên, Anh Ngọc, Mã Giang Lân... Cũng tại đây, được sự động viên, khuyến khích của người bạn cũ Ca Lê Hiến (tức nhà thơ Lê Anh Xuân, bấy giờ theo học khoa Sử), Diệp Minh Tuyền bắt đầu làm thơ. Một số bài sau đó đã được tác giả đưa vào tập "Mùa nước nổi" xuất bản năm 1972. Ra trường, Diệp Minh Tuyền được phân công về Viện Văn học, làm việc ở tổ lý luận phê bình với nhiệm vụ chính là theo dõi mảng nghiên cứu phê bình thơ.

Mặc dù một số bài viết đầu tay của Diệp Minh Tuyền ở thể loại này được dư luận ghi nhận là khá chững chạc, song điều ấy cũng không thể ngăn trở anh - chỉ 3 năm sau, đã kiên quyết xin được trở vào Nam chiến đấu. Là con của một cán bộ lão thành cách mạng, bình thường ra, Diệp Minh Tuyền đã có thể trở thành một nhà nghiên cứu với học hàm, học vị, song việc anh dứt áo ra đi đã cho thấy quyết tâm "chia lửa" với đồng bào quê hương của anh.

Người "vô tình" đưa dẫn Diệp Minh Tuyền đi đến quyết định này có lẽ là Lê Anh Xuân. Cũng tương tự như trường hợp của anh, Lê Anh Xuân là con một gia đình trí thức (cụ thân sinh là nhà giáo Ca Văn Thỉnh, người từng giữ chức Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong chính phủ kháng chiến). Mặc dù được cử đi nghiên cứu ở nước ngoài, song Lê Anh Xuân đã chối từ để được về quê hương chiến đấu. Và anh đã hy sinh trong đợt hai của cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968. Những bài thơ do Lê Anh Xuân sáng tác như "Nhớ cơn mưa quê hương", "Trở về quê nội", "Dừa ơi" đã thêm hối thúc nỗi nhớ quê trong Diệp Minh Tuyền. Quả đúng như sau này Diệp Minh Tuyền đã viết: "Dù rằng đời ta thích hoa hồng/ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng/ Ta yêu sao đồng quê non nước mình" và "Đời mình là một khúc quân hành/ Đời mình là bài ca chiến đấu...".

Với vóc dáng gầy gò, lại mang trong mình căn bệnh đau dạ dày, Diệp Minh Tuyền đã không quản ngại gian khổ, đạn bom, lặn lội vượt Trường Sơn vào chiến khu R, cùng anh em Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam sáng tác những tác phẩm thơ, nhạc động viên cán bộ, chiến sĩ dũng cảm chiến đấu, hy sinh, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những đóng góp của Diệp Minh Tuyền thật thiết thực, kịp thời. Sau này, nhà văn Thanh Quế, "hàng xóm" với anh thời kỳ ở Hà Nội đã kể lại: "Cuối năm 1978, tôi gặp Diệp Minh Tuyền. Sau một chầu nhậu đã ngà ngà say, tôi hỏi: Sao lâu nay anh không viết nhạc? Mắt Diệp Minh Tuyền sáng lên: "Có chứ. Có lẽ vì cậu ở Khu 5, cậu không rõ. Vô chiến trường tớ viết ca khúc "Người giao liên Trường Sơn" và lời bài hát "Tình Bác sáng đời ta" của Lưu Hữu Phước được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Giải phóng đấy chứ".

"Sao không thấy anh ký tên Diệp Minh?". "Tớ lấy tên là Thanh Tuyền, bậy quá, các cậu không biết hé. Giờ tớ còn đang viết nhiều nhạc...". Diệp Minh Tuyền quả là có duyên âm nhạc. Và dẫu thơ anh có hay, có bềnh bồng thế nào chăng nữa, cũng ít nhiều phải cộng thêm đôi "cánh nhạc" mới thực bay cao. Nhạc sĩ Trương Quang Lục từng cho hay: Năm 1979, hưởng ứng lời kêu gọi của tổ chức UNICEF, Ủy ban Năm Quốc tế thiếu nhi Việt Nam phát động cuộc thi sáng tác bài hát mới cho trẻ em. Cuộc thi gồm hai phần: Phần thi viết lời bài hát và phần thi phổ nhạc các bài thơ ấy. Kết thúc phần một, Ban giám khảo (do nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát làm chủ tịch) đã chọn được hai bài thơ: Đó là bài "Trái đất này của chúng em" (đã trở nên rất phổ biến sau khi được nhạc sĩ Trương Quang Lục phổ nhạc) của nhà thơ Định Hải và bài "Việt Nam, bầu trời này, mặt đất này" của nhà thơ, nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên thì kể, trong một chuyến bay, Diệp Minh Tuyền đã đưa cho ông một bài thơ vết về Đảng. Phạm Tuyên đọc, thấy rất hợp ý mình, đã quyết định phổ nhạc bài thơ. Bình thường, với những bài thơ chặt chẽ về niêm luật, việc phổ thơ sao cho vừa giữ được nguyên văn, mà vẫn thành một bài hát hay, là rất khó. Việc phổ thơ lục bát lại càng khó. Vậy mà Phạm Tuyên đã tài tình thực hiện được điều này. Thậm chí, nghe những câu: "Suốt đời lòng dặn giữ lời/ Đường dài muôn dặm chớ rời tay nhau" được nhấn đi nhấn lại mấy lần, ta thấy giữa tác giả phần lời và tác giả phần nhạc đã có một sự đồng cảm cao độ. Diệp Minh Tuyền là người đa tài. Điều này hẳn không mấy ai là không công nhận. Song điều ngạc nhiên nhất có lẽ chính là khả năng phân thân của anh.

Như ở đầu bài viết đã nói, ngoài sáng tác nhạc, anh còn làm thơ, viết phê bình văn học. Và ngay trong mảng sáng tác nhạc, tác phẩm của anh cũng đáp ứng được tâm lý của nhiều lứa tuổi. Sẽ thật khó hình dung khi người sáng tác nên bài hát nồng nàn, hào sảng, tha thiết, mang đậm chất anh hùng ca như "Hát mãi khúc quân hành", sáng tác nên những lời thơ nghiêm trang và giàu tính khái quát như "Màu cờ tôi yêu" lại là tác giả của những vần thơ hết sức xao xuyến, trữ tình như "Mùa chim én bay" (Khi gió đồng ngát thơm/ Rợp trời chim én liệng/ Cây nảy đầy chồi xanh/ Mây trắng bay yên lành/ Em chợt đến bên anh/ Dịu dàng như cơn gió nhẹ); đậm chất "áo trắng sân trường" như "Con đường có lá me bay" và nhí nhảnh như "Không dám đâu"... Ấy là chưa kể một tình tiết mà không hẳn đã nhiều người biết: Diệp Minh Tuyền còn là tác giả bản dịch phần lời ca khúc "Triệu bông hồng", vốn là bài thơ của nhà thơ Nga Andrei Voznesensky (đã tạ thế hồi tháng 6 vừa rồi).

Ai từng đọc bản dịch này của dịch giả Thái Bá Tân sẽ thấy sự tài hoa, khoáng hoạt của Diệp Minh Tuyền đã tạo nên một bản dịch thành công, xứng với sự trân trọng, hâm mộ của bạn đọc. Xin trích một đoạn của bản dịch do Diệp Minh Tuyền thực  hiện: "Chuyện một tình yêu anh họa sĩ/ Gởi trong tranh vẽ những vui buồn/ Lòng anh thầm yêu nàng ca sĩ/ Cô gái rất yêu bông hoa hồng" và "Tặng một đại dương hoa hồng thắm/ Cho nàng ca sĩ anh yêu thầm/ Và ngôi nhà xinh anh đã bán/ Bằng dòng máu nóng trái tim mình"... Sau ngày miền Nam giải phóng, Diệp Minh Tuyền chuyển về công tác tại Hội Liên hiệp VHNT TP HCM. Tại đây, anh không chỉ được tín nhiệm bầu làm Ủy viên BCH Hội Nhà văn thành phố mà còn được bầu giữ chức Phó tổng thư ký Hội Âm nhạc thành phố, kiêm Tổng biên tập tạp chí Sóng Nhạc.

Nhà thơ, nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền qua đời ngày 21/11/1997 tại TP HCM, sau một cơn tai biến mạch máu não. Ra đi ở tuổi 57, anh đã để lại sự tiếc thương trong lòng  bạn bè, người thân và hàng triệu khán giả, độc giả yêu thích thơ và nhạc của anh...

NGUYỄN CHÍ CƯỜNG
Nguồn: VNCA

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

U UẨN NGUYỄN BẮC SƠN

Khi nói về những nhà thơ hiện đại ở Bình Thuận, một trong những người được nhắc đến đầu tiên là Nguyễn Bắc Sơn. Thơ và tên tuổi của Nguyễn Bắc Sơn đã vượt khỏi ranh giới và vươn xa, được nhiều người yêu mến. Anh tên thật là Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1944 tại Phan Thiết. Từ năm 1972, khi thi phẩm "Chiến tranh Việt Nam" ra đời, Nguyễn Bắc Sơn đã trở thành hiện tượng thi ca của miền Nam. Nhiều người yêu thơ đã say mê những câu thơ hào sảng, thấm đẫm tình cảm, nhưng cũng đầy khinh bạc của Nguyễn Bắc Sơn. Qua thơ Nguyễn Bắc Sơn, nhiều người đã bắt gặp tâm trạng của mình - một thế hệ tuổi trẻ bị cuốn vào cuộc chiến đau thương, phi lý và không có lối thoát...
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn

Năm 1980, khi công tác tại Phan Thiết, tôi được quen biết và gần gũi Nguyễn Bắc Sơn. Ngày ấy, mỗi buổi sáng chúng tôi gồm: Mai Sơn, Mai Phong, Đỗ Quang Vinh... được gặp anh thường xuyên khi uống cà phê tại Du Lịch Thuận Hải trên đường Trần Hưng Đạo. Chúng tôi được ngồi nghe Nguyễn Bắc Sơn nói chuyện. Với vầng trán rộng thông minh, đôi mắt tinh anh và cặp tai to, vểnh, Nguyễn Bắc Sơn với kiến thức uyên thâm, anh có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hiện tại, thi ca. Chúng tôi ngồi yên, say mê nghe người anh lớn nói chuyện về "Ba ngàn thế giới"... Sau đó, nhiều năm, chúng tôi không còn gặp được và ngồi uống cà phê cùng anh. Mãi đến năm 1985, bất chợt tôi gặp lại anh tại La Gi. Lúc này, trông anh có vẻ ngoài lôi thôi và "bụi" hơn xưa. Gặp lại anh, chúng tôi mới biết: Suốt trong nhiều năm qua, anh thường đi lang thang. Có khi từ Phan Thiết anh đi cả tháng trời, lúc thì ở Tà Cú, lúc Tà Mon, lúc Suối Đó... không về nhà, làm cho gia đình anh rất lo lắng. Nhiều khi, bạn bè tìm được gặp anh, đưa anh về Phan Thiết, nhưng nửa chừng anh lại không theo xe đò về, tiếp tục lang thang. Dạo này anh thường nói nhiều, cũng có lúc ngồi im, râu tóc bơ phờ, điểm bạc, trông dáng vẻ khác người. Nhiều người vẫn yêu mến anh, nhưng cũng có người thầm nghĩ anh không bình thường, Nguyễn Bắc Sơn “ chập” !. Chúng tôi biết từ sau năm 1975 anh không còn làm thơ như trước và thường trốn gia đình đi lang thang không định hướng.Bạn bè thương anh,có người tặng anh một ít tiền ,để anh cà phê, đi xe …Nhưng khi, gặp người nghèo khó, anh liền móc túi, tặng lại cả, thế là anh rổng túi. Nguyễn bắc Sơn không bao giờ quan tâm đến chuyện tiền bạc!

Đến năm 1995, nhà văn Đoàn Thạch Biền và bạn bè yêu mến anh đã tập hợp thơ của anh in và phát hành tập: "Ở đời như một nhà thơ Đông phương". Điều này làm anh và những người yêu thơ thấy đời ấm lòng. Tôi còn nhớ lần gặp anh trong quán cà phê, nghe anh nói nhiều chuyện mà thực sự không ai hiểu anh đang nói gì, có người lo lắng cho thần kinh của anh, nhưng chính lúc ấy có một ông đưa anh tập bản thảo thơ nhờ anh viết nhận định. Nguyễn Bắc Sơn đọc nhanh qua, chớp mắt anh lục trong túi áo lấy ra tờ giấy lộn và viết nhanh một bài thơ đưa cho người bạn:

"... Rừng sơ nguyên, mộng nguyên sơ
Đại Bi sư tử mần thơ động tình
Vốn xưa trái đất đồng trinh
Bây giờ quẫy cựa một mình đồng hoang
Thơ mi tiếng vọng rú ngàn
Như con nai tía như chàng du côn
Đọc xong tưởng "Lá hoa cồn"
Trôi ngoài Nam Hải, gác cồn Biển Đông..."

(Trích tựa tập thơ: "Rừng sơ nguyên" của Trần Yên Thảo)

Nhiều người trợn tròn con mắt cảm phục anh, riêng ông bạn già thì mừng như bắt được của quý khi nhận bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn. Ai dám bảo Nguyễn Bắc Sơn không bình thường? ... Và chúng tôi nhớ mãi hình ảnh lang thang lếch thếch của Nguyễn Bắc Sơn với nhiều u uẩn trong những chiều anh ngồi một mình bên Suối Đó. Mãi đến khi chúng tôi được đọc bài thơ "Cha và con" của anh, lòng bất chợt chùng xuống và yêu anh vô cùng. Nhiều thế hệ đã đồng cảm và thấy mình trong thơ Nguyễn Bắc Sơn …:

"...Cái ngu đần của kẻ thông minh
Là Cái đó chính là Cái đó
Bố qua đời đúng năm năm
Tôi viết bài thơ này
Để tâm sự cùng một người khuất núi
Thuở sinh tiền
Ông rất thương tôi
Và tôi rất thương ông
Nhưng hai chúng tôi
Đúng là hai người đàn ông có bề ngoài lãnh đạm
Bố tôi ước mơ làm cho loài người sung sướng
Và thế là ông từ tuổi thanh xuân
Cùng bạn bè đi làm cách mạng
Ông làm cách mạng chừng nào
Thì loài người càng thêm sặc máu
Tôi ước mơ cõi đời tốt đẹp
Và thế là tôi làm thơ ca tụng loài người
Tôi càng ca tụng chừng nào
Thì loài người càng xấu xa chừng nấy
Bi kịch của bố con tôi
Là bi kịch của hai thằng tây đen
Cùng đi kiếm con mèo đen
Trong đêm đen mù mịt
Các vị thánh hiền thời xưa
Bảo thế giới loài người
Giống như chiếc đuôi cong
Của loài chó
Chúng ta là những đứa trẻ con
Chổng khu vuốt chiếc đuôi này cho thẳng
Vuốt cho thẳng rồi
Thả tay ra là nó cong trở lại
Nếu mỗi chúng ta có làm điều gì tốt đẹp
Chẳng qua là để phát huy một tấm lòng son
Còn trái đất cứ ngày đêm sáng tối
Thịnh đã rồi suy
Suy rồi lại thịnh
Bố ơi bố đã ra về
Con ở lại làm thơ và chữa bệnh
Chúng ta đến nơi này để phát huy một tấm lòng son
Thành hay bại chỉ là chuyện vặt.
..."
Nguyễn Bắc Sơn không ngừng trăn trở về cuộc sống, nhiều người trong chúng ta ray rức và thương anh nhiều khi đọc những dòng thơ anh viết cho con anh:

"Ba không cực lòng khi bị đời khinh rẻ
Con đường ba đi đã chọn từ lâu
Nhưng khi nhìn những đám hoa râm trên đầu tóc nội
Ba đã khóc thầm khi nghĩ đến mai sau
Rồi mai mốt khi các con đã lớn
Hãy tìm trong trang nhục sử Việt Nam
Ðể thấu hiểu vì sao ba khổ cực
Vì sao nên đất nước lầm than."              

Chúng tôi vỡ vạc ra nhiều điều. Bài thơ như là một lời tâm sự và là thực trạng hoàn cảnh , nỗi lòng  của Nguyễn Bắc Sơn. Chúng tôi hiểu vì sao suốt những năm dài anh đi lang thang và có những chiều buồn u uẩn. Phải chăng anh bị chấn động tâm lý? Chúng tôi lại liên tưởng đến Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Tất Nhiên, Hemingway... Khi những thiên tài, những nghệ sĩ gặp những chấn động tâm lý trong cuộc sống thường đi lang thang, hay đi tu, thậm chí có người tự tử!... Và, chúng  tôi hiểu vì sao Nguyễn Bắc Sơn - anh có những chiều u uẩn và những tháng ngày lang thang vô định. Mãi đến những năm sau này anh mới trở về sống bên mái ấm gia đình trong tình yêu thương.

Nguyễn Bắc Sơn từ trần vào ngày 4 tháng 8 năm 2015 tại Phan Thiết trong sự tiếc thương của gia đình, bạn bè và những người yêu thơ anh.

Năm 2014, nhà văn Nguyên Minh đã thực hiện tạp chí Quán văn với chuyên đề chân dung thơ Nguyễn Bắc Sơn. Lúc này, sức khỏe anh đã yếu hơn trước nhưng anh rất vui và ấm lòng trước tình nghĩa của bạn bè và những người làm văn chương dành cho anh. Điều này chứng tỏ thơ hay sẽ sống mãi với đời.

Chúng tôi còn nhớ vào năm 2013, Nguyễn Bắc Sơn đã viết tặng Hoàng Minh Tuấn - người bạn nhỏ của mình một bài thơ:

"Con chim ăn trái Bồ đề
Còn anh rụng xuống cõi mê cuối đời
Mây bay đùa giỡn trắng trời
Một chàng thy sỹ ráng ngồi ngắm mây
Bệnh già chào đón vẫy tay
Linh hồn cũng sắp thành mây về trời
Ngồi nghe biển sóng xa rời
Anh em ở lại cõi đời cho vui."

Đi qua những thác ghềnh, trải qua những vui buồn, mật đắng của cuộc sống, Nguyễn Bắc Sơn đã an nhiên với cuộc đời. Bài thơ như một lời chia tay cuộc đời với một tâm thế thanh thản, đạt đạo của một thi sĩ đích thực.

… Đến bây giờ, Nguyễn Bắc Sơn đã đi vào cõi an nhiên được 3 năm. Mỗi lần , lên đỉnh gió Tân An – nơi anh đã từng đến trong những ngày đi lang thang, nhìn "mây bay đùa giỡn trắng trời", chúng tôi lại nhớ về hình ảnh u uẩn của Nguyễn Bắc Sơn ngày xưa ngồi trên đồi sim tím chiều hoang biền biệt !...



La Gi, 11/10/2017
LÊ NGỌC TRÁC

 Nguồn: Văn Chương Việt



Thứ Ba, 22 tháng 5, 2018

NHÀ VĂN ĐOÀN GIỎI: CÂY ĐẠI THỤ PHƯƠNG NAM

Nhắc đến Đất rừng phương Nam là nhớ đến Đoàn Giỏi, tuy nhiên, nhớ đến Đoàn Giỏi mà chỉ nhắc Đất rừng phương Nam e là còn nhiều thiếu sót. Đoàn Giỏi để lại khối lượng tác phẩm dồi dào, ở đủ các đề tài và thể loại, từ tiểu thuyết, truyện dài, đến truyện kí, bút kí, biên khảo, rồi thơ và kịch thơ...
Nhà văn Đoàn Giỏi

1. Nghĩa trang TP.Hồ Chí Minh một chiều giữa tháng Mười. Bầu trời màu chì, võng xuống, như không thể thấp hơn. Sau hồi tìm kiếm, đoàn anh chị em Nhà xuất bản Kim Đồng cũng tìm được mộ nhà văn Đoàn Giỏi. Khu số 5. Hàng thứ 7. Mộ số 11. Cách mộ ông không xa là mộ nhà thơ Thế Lữ, nhà báo Thép Mới, nhà toán học Lê Văn Thiêm…

Bộ sách 8 cuốn của nhà văn mới từ nhà in về được đặt lên mộ, gồm: Người thủy thủ già trên hòn đảo lưu đày, Trần Văn Ơn, Cá bống mú, Hoa hướng dương, Cuộc truy tầm kho vũ khí, Rừng đêm xào xạc, Những chuyện lạ về cá, Tê giác trong ngàn xanh, cùng với Đất rừng phương Nam đã xuất bản trước đấy.

Và rồi những nén nhang được thắp lên. Chúng tôi báo cáo “ông chủ” của Đất rừng phương Nam, rằng các sáng tác của ông đã trở lại, vẫn gần gũi và cần thiết cho đời sống văn học hôm nay. Đấy là sự thật. Hiện hữu. Rõ ràng. Không gì có thể lay chuyển.

Câu nói  quen thuộc nơi cửa miệng nhiều người viết, rằng thời gian công bằng lắm, bạn đọc thông minh và công bằng lắm, hình như không phải lúc nào cũng đúng. Ít nhất là với Đoàn Giỏi. Dường như nhiều tác phẩm văn chương của ông vẫn đang bị khuất lấp ở đâu đó.

27 năm kể từ khi ông mất (1989), và 15 năm kể từ khi ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001). Khoảng thời gian đấy đủ dài để thế hệ sau bình tĩnh nhìn lại những đóng góp của ông một cách đầy đủ nhất và thấu đáo nhất, điều mà đáng lẽ phải làm sớm hơn.  

2. Sinh thời, nhà văn Đoàn Giỏi lớn lên trong gia đình đại điền chủ ở Tiền Giang. Ông từng theo học trường Mĩ thuật Gia Định. Sau Cách mạng Tháng Tám, gia đình ông tự nguyện hiến hầu hết nhà và đất cho chính quyền. Rồi toàn quốc kháng chiến, Đoàn Giỏi và hai người anh em khác vào bưng biền theo cách mạng.

Ban đầu làm trong ngành an ninh, rồi thông tin, văn nghệ. Ông từng giữ chức Phó trưởng Ty Thông tin Rạch Giá. Sau hiệp định Genève - 1954, ở tuổi 29, Đoàn Giỏi tập kết ra Bắc, tập trung vào sáng tác nhiều hơn. Ông công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam rồi Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông là hội viên sáng lập Hội Văn nghệ Việt Nam, Ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa 1, 2 và 3.

Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi là cuốn sách có số phận đặc biệt. Tháng 2 năm 1957, Hội Văn nghệ Việt Nam đặt hàng ông viết một tác phẩm về thiếu nhi Nam bộ. Đến tháng 5, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nhắc lại “đơn hàng” và nhấn mạnh ý định “xuất xưởng” tác phẩm vào thời điểm thành lập NXB Kim Đồng, tháng 6 năm 1957. Lúc này Đoàn Giỏi mới chấp bút, trong vòng đúng một tháng.

Có giai thoại kể một tháng là từ khi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng hối thúc, chứ Đoàn Giỏi để nước đến chân mới nhảy, ông viết trong vỏn vẹn một tuần. Viết xong ngã vật ra ghế vì… kiệt sức. Đặc biệt nữa, Đất rừng phương Nam như độc giả ngày nay được tiếp cận khác với bản in đầu tiên khá nhiều.

Trước khi nhà văn mất, tác phẩm đã qua 8 lần tái bản, và mỗi lần đều được ông chăm chút, “nâng cấp”, lần cuối cùng là năm 1982, để có tác phẩm ưng ý nhất như hiện nay. Cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng, mang “phương Nam” đến với thiếu nhi thế giới, ở Liên Xô, Hungari, Đức, Cu ba, Trung Quốc… Nhất là khi đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn chuyển thể tác phẩm thành phim truyền hình nhiều tập Đất phương Nam thì độ phủ sóng của Đất rừng phương Nam ngày càng rộng hơn.

Nhắc đến Đất rừng phương Nam là nhớ đến Đoàn Giỏi, tuy nhiên, nhớ đến Đoàn Giỏi mà chỉ nhắc Đất rừng phương Nam e là còn nhiều thiếu sót. Đoàn Giỏi để lại khối lượng tác phẩm dồi dào, ở đủ các đề tài và thể loại, từ tiểu thuyết, truyện dài, đến truyện kí, bút kí, biên khảo, rồi thơ và kịch thơ.

Nhà thơ Cao Xuân Sơn chia sẻ: “Tôi và thế hệ tôi biết đến đất và người Tây Nam bộ trước hết là nhờ văn chương Đoàn Giỏi. Bên cạnh Đất rừng phương Nam là Tê giác trong ngàn xanh, Cá bống mú, Hoa hướng dương, Cuộc truy tầm kho vũ khí, Những chuyện lạ về cá… Nếu như nhà văn Vũ Hùng giúp “xóa mù” về không gian văn hóa, thiên nhiên Tây Nguyên, thì Đoàn Giỏi cho độc giả thế hệ tôi đắm mình trong hương sắc sông nước miền Tây Nam bộ.”

3. Chúng tôi về Châu Thành, Tiền Giang. Về nơi khởi nguồn và cội rễ của một Đoàn – Giỏi – văn – chương. Ông lớn lên từ đây. Và văn ông hòa trong không gian sinh thái này. Tất nhiên, do những biến thiên của thời cuộc nên khó mà úp các trang văn của ông cho vừa vặn với thực tại. Nhưng hồn cốt vẫn nguyên đấy.

Thật bất ngờ, mảnh đất này cũng là nơi sinh ra GS. TS Trần Văn Khê – nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền, có công lớn trong việc quảng bá văn hóa Việt Nam nói chung và âm nhạc cổ truyền nói riêng ra thế giới, rồi GS.TS. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam – nhà soạn nhạc đầu tiên của Việt Nam được mời giảng dạy ở nước ngoài và có nhiều tác phẩm được công diễn trên thế giới.

Trong ngôi nhà nhỏ, gọn gàng, nơi con hẻm be bé ở thị trấn Tân Hiệp, chúng tôi trò chuyện với cô Bùi Thu Hà - con dâu cố nhà văn và anh Đoàn Quang Minh – cháu nội nhà văn. Chắc hẳn lâu rồi mới có người gợi chuyện về một thời Hà Nội xưa cũ với cô.

Thuở ấy, nhà văn Đoàn Giỏi sống trong căn phòng ở phố Cổ Tân, Hà Nội. Cô nhắc nhớ về những thói quen, những kỉ niệm của nhà văn, thuở mới về làm con dâu ông. Rồi sau sự ra đi đường đột ở tuổi 64 của nhà văn, vợ chồng cô đưa cậu con trai 4 tuổi về lại Tiền Giang. Lần theo lời kể của cô Hà và anh Minh, tôi cảm nhận được sự chân chất, dung dị, sự gần gũi và hết mực trân quí gia tài chữ nghĩa mà nhà văn Đoàn Giỏi để lại, dẫu bây giờ trong nhà chẳng còn ai gắn bó nhiều với chữ nghĩa.

Nhớ lần đi tiền trạm về Tiền Giang trước đó. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi “dấu vết” của Đoàn Giỏi trên quê hương ông khá mờ mịt. Đặt câu hỏi sao đến giờ thành phố Mỹ Tho và cả tỉnh Tiền Giang vẫn chưa có con đường nào mang tên ông, một nhà văn có công “phổ cập” hình ảnh quê nhà khắp đất nước, ra cả thế giới? Thì nhận được câu trả lời: Những vị lãnh đạo đời đầu của địa phương còn chưa được đặt tên đường hết thì nhà văn Đoàn Giỏi còn phải… xếp hàng. Người ấy dẫn thêm soạn giả cải lương Trần Hữu Trang, họa sĩ Nguyễn Sáng đều được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật, cũng chưa có tên đường.

Thiết nghĩ, nhiều địa phương mơ có một Đoàn Giỏi, một Trần Hữu Trang hay một Nguyễn Sáng lắm. Đấy là những sứ giả văn hóa, như chứng minh thư, để chìa ra khi đến “xứ người”, để địa phương không bị tan lẫn khi hội nhập. Vậy mà...

4. Nếu thử so bề rộng các sáng tác với các nhà văn/ nhà thơ miền Nam tập kết ra Bắc, như Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Hoàng Văn Bổn, Hoài Vũ, Phạm Hổ, Nguyễn Thành Long, Thu Bồn, Nguyên Ngọc, thì Đoàn Giỏi không thua kém gì, thậm chí “áp đảo” một số đồng nghiệp. Nếu chọn mỗi tác giả một tác phẩm thì Đất rừng phương Nam sẽ là “đối thủ” đáng gờm đối với các tác phẩm khác, dự báo sẽ còn đi cùng năm tháng, vì chạm vào thiên nhiên và con người thì chẳng bao giờ sợ lạc thời hay lỗi mốt.

Đoàn Giỏi thuộc số ít nhà văn đi nhiều, viết nhiều nhưng cuối đời lại không thuộc về nơi đâu. Kiểu ở miền Bắc thì được xem là người miền Nam, về Nam thì lại được xem là người về từ miền Bắc, thuộc về miền Bắc. Có lẽ, điểm tựa duy nhất của Đoàn Giỏi là độc giả, qua các thế hệ, cả trong và ngoài nước. Bởi lẽ đấy mà NXB Kim Đồng trong lần tái bản loạt 8 cuốn sách của ông đã có nhiều hoạt động, đáng chú ý là buổi tọa đàm “Nhà văn Đoàn Giỏi – Đại thụ phương Nam”.

Nhiều tiếng nói của những người trong nghề, các nhà nghiên cứu giảng dạy văn học, của độc giả, đã cất lên, tri ân người vun đắp tâm hồn thiếu nhi nhiều thế hệ. Tất cả đều nhất trí: Văn chương Đoàn Giỏi vẫn nóng hổi hơi thở đương đại, với các vấn đề về môi trường, về thiên nhiên trong Tê giác trong ngàn xanh, Những chuyện lạ về cá, Rừng đêm xào xạc; với những chất liệu điện ảnh vốn bị xem là khan hiếm ở các tác phẩm văn học trong Hoa hướng dương, Cá bống mú; với yếu tố phiêu lưu vốn dĩ ít được xem là thế mạnh của văn chương Việt trong Cuộc truy tầm kho vũ khí, với bút pháp xây dựng chân dung nhân vật điêu luyện trong Trần Văn Ơn và Người thủy thủ già trên hòn đảo lưu đày.

5. Xin được kết lại bài viết, bằng dẫn lại nhận định của nhà thơ Chế Lan Viên, rằng: “Văn của Đoàn Giỏi luôn ngồn ngộn nguồn tư liệu và vốn sống mà tác giả chắt lọc. Là một nhà văn chịu khó tìm tòi nghiên cứu mọi chuyện một cách ngọn ngành, nên trang viết của ông thường rất góc cạnh, gồ ghề nhưng cũng đậm đặc chân tình như quê hương ông, miền đất hoang sơ và hào phóng miền Tây Nam bộ.

Đoàn Giỏi là một trong những người đầu tiên truyền bá ngôn ngữ Nam bộ hiện đại qua những tác phẩm của mình”. Đến đây thì sẽ chẳng có gì là vội vàng khi nói rằng, nhà văn Đoàn Giỏi là một trong những đại thụ của phương Nam.

Sài Gòn, 18.10.2016
VĂN THÀNH LÊ
Theo VNCA

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



CÕI NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ELENA PUCILLO TRUONG

Từ những góc nhìn sáng tạo, nhà văn Elena Pucillo Truong luôn có ý thức làm mới ngòi bút của mình để đem đến cho người đọc những khoảnh khắc thú vị bất ngờ của hiện hữu. Đằng sau mỗi câu chuyện về những điều tưởng chừng rất nhỏ của mỗi thân phận là những thông điệp về Cõi Người muôn màu, muôn vẻ, vừa quen vừa lạ. Thông điệp đó có lúc là lời cảnh báo, có khi là sự ngợi ca,  phê phán, đồng tình, lúc lại là nỗi ưu tư, niềm trắc ẩn, mong ước, tin yêu, hy vọng… và trên hết là tinh thần trân trọng những giá trị nhân văn, nhân bản với khát khao tha thiết hướng về những gì tốt đẹp nhất cho con người và vì con người…
Nhà văn Elena Pucillo Truong

Đi vào thế giới của truyện ngắn, có thể nói là đi vào những khoảnh khắc hiện hữu, ở đó hiện thực rộng lớn của cuộc sống đã được thâu tóm trong một cái nhìn cô đọng, đặc quánh những ưu tư của nhà văn về Cõi Người. Thế nên, khi bàn về truyện ngắn, không phải ngẫu nhiên, Edgar Allan Poe quan niệm: “Trong cấu trúc tổng thể của nó, không có một từ nào mà sự thể hiện khuynh hướng trực tiếp hoặc gián tiếp của nó không được nhà văn sắp đặt trước. Với ý nghĩa đó, bằng tài năng và sự chăm sóc kỹ lưỡng của nhà văn, tác phẩm như một bức tranh hiện lên với trọn vẹn màu sắc, đưa lại cho người đọc sự thỏa mãn đầy đủ nhất”.  Poe đã rất đúng khi xác quyết công phu của mỗi nhà văn khi kiến tạo truyện ngắn và hiệu quả lan tỏa, tác động không nhỏ đến bạn đọc của thể loại này. Truyện ngắn thường mang lại bức tranh về cuộc sống dài và rộng hơn khuôn khổ chật hẹp về mặt hình thức của nó, điều này có thể thấy qua  truyện ngắn của nhiều nhà văn như: John Steinbeck, Hemingway, Tchekop, Jane Joyce, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Lê Minh Khuê… Những truyện ngắn trong tập Vàng trên biển đá đen của Elena Pucillo Truong (do Trương Văn Dân dịch từ nguyên tác tiếng Ý) cũng không nằm ngoài quy luật sáng tạo này.
        
Tập Vàng trên biển đá đen chỉ gồm mười bốn truyện, nhưng ngay từ những nhan đề của truyện đã gợi cho bạn đọc nhiều liên tưởng thú vị, hấp dẫn về cuộc sống, con người trong cõi nhân sinh. Đó là những câu chuyện mà ở đó ẩn chứa bao buồn vui của Cõi Người trần thế với đủ cả hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục mà mỗi phận số là một chứng nhân như: Con chim nhỏ trong lồng; Dải ruy băng màu tím; Phía sau sự thật; Búp bê bằng sáp; Chút hơi ấm cuối cùng; Trên đỉnh núi thiêng; Thư viết cho mẹ; Cuộc Săn mồi; Cuộc hẹn ở sân ga; Giấc mơ thu ngọt ngào; Đợi chờ; Món quà đặc biệt; Vàng trên biển đá đen; Dòng máu nhiễm độc.
    
Không viết về những gì lớn lao huyễn hoặc, xa lạ với cuộc sống con người, truyện ngắn của Elena như những lời tâm tình nhẹ nhàng thủ thỉ về những câu chuyện đời thường đang diễn ra đâu đây trong Cõi Người gần gũi:  Đó là sự rạn vỡ của cuộc sống gia đình nơi tưởng chừng là thành trì vững chắc của những tình cảm thiêng liêng, vậy mà giờ đây những tình cảm ấy cũng đang bị mai một, bị bào mòn; Đó còn là trạng thái cô đơn với những âu lo, khắc khoải của con người trong một xã hội còn quá nhiều điều bất ổn, với những nghịch lý buộc con người phải lựa chọn mà sự lựa chọn nào cũng dẫn đến bi kịch… Đây chính là một thông điệp hiện sinh mà các truyện ngắn của Elena thức nhận cho con người trước cạm bẫy của cái ác, cái xấu, cái giả dối, trí trá được ngụy trang bằng những mặt nạ nhân nghĩa mỹ miều mà nếu không cảnh giác với nó con người sẽ rơi vào hố thẳm…
       
Song, dù viết về những chuyện quen thuộc đời thường nhưng Elena luôn có cái nhìn tinh tế, đa diện, nhiều chiều với những phát hiện sâu săc, mới lạ về cõi nhân sinh trong sự chuyển động không ngừng của nó. Có lẽ chính điều này đã làm cho truyện của chị ấm nồng hơi thở cuộc sống, tạo nên sức hút riêng khó lẫn của ngòi bút Elena.
      
Nhìn tổng thể, truyện ngắn của Elena đã phác họa gương mặt xã hội công nghiệp như một bức tranh lập thể loang lổ, một khối vuông rubic hỗn loạn muôn màu, trong đó mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng trở nên lạnh lùng, rời rạc, nhiều giá trị của Cõi Người bị hủy hoại nghiêm trọng trong đó có nền tảng văn hóa gia đình. Với trải nghiệm cuộc sống sâu sắc, Elena đã thấu hiểu thân phận những con người sống trong bi kịch gia đình khi các thuần phong mỹ tục vốn là những giá trị truyền thống về văn hóa đã được tôn vinh ngày nào nay đang bị chà đạp không thương tiếc.  Nỗi đau ấy như những vi mạch thấm trong từng trang viết của nhà văn và bật lên những tiếng kêu thảng thốt giữa sa mạc cuộc đời mà đồng tiền được tôn thờ như một thứ “đạo”, còn tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái thì bị vùi lấp một cách tàn nhẫn. Nạn nhân của những bi kịch này không ai khác, họ là những bà mẹ, ông bố bị những đứa con mình từng hết mực thương yêu bỏ rơi trong cô độc.  Những truyện ngắn Con chim nhỏ trong lồng; Dải ruy băng màu tím; Chút hơi ấm cuối cùng để lại trong lòng người đọc bao day dứt, tiếc nuối, cay đắng, xót xa về sự rạn vỡ, mất mát tình cảm quá lớn giữa những người ruột thịt máu mủ trong gia đình. Truyện ngắn Elena đã khẩn thiết rung hồi chuông cảnh tỉnh đối với Cõi Người đang đứng trước thảm họa nhân tính bị hủy diệt bởi những tham vọng và đam mê vật chất tầm thường, như một thứ vi trùng hủy hoại tâm hồn nhân loại; Cõi Người trong truyện ngắn Elena là một Cõi Người mang đậm chất nhân văn - một chất nhân văn như những tia sáng soi chiếu, cứu rỗi lương tri con người đang chìm sâu trong tội lỗi.
       
Truyện ngắn của Elena đã vượt qua giới hạn của những phạm trù đạo đức luân lý của một dân tộc để vươn đến những giá trị nhân văn mang tầm nhân loại mà rõ nhất là tiếng nói hướng đến khát vọng tự do cho con người. Tác phẩm Con chim nhỏ trong lồng là một minh chứng cho vấn đề này.  Câu chuyện tái hiện sinh động trạng thái tâm lý u uất của một bà mẹ bị con trai và con dâu ruồng bỏ, ghẻ lạnh. Hình ảnh “con chim nhỏ trong lồng” đã cho thấy bi kịch đớn đau nhất của bà mẹ không chỉ ở sự đối xử ghẻ lạnh của con cái mà chính là nỗi đau bị tước đoạt mất tự do. Những đứa con ích kỷ, vô lương chỉ biết bản thân mình mà không hề quan tâm đến cảm xúc của Mẹ, bỏ mặc bà quay quắt trong bốn bức tường, trở thành một tù nhân trong chính ngôi nhà của mình. Bà cảm thấy “sống như một kẻ lạ mặt trong nhà của mình vì đứa con dâu mới thật là bà chủ, là người quyết định, và bằng thủ đoạn tàn nhẫn và nham hiểm nó còn cướp mất lòng yêu thương của đứa con trai rồi từng ngày, từng ngày nó còn xéo nát từng mảnh tim tôi”. Bà mẹ khốn khổ rơi vào thảm trạng cô độc triền miên, cảm giác “tôi sống mà như đã chết... sống như một kẻ lạ mặt trong nhà của mình” là cảm giác rợn ngợp, ghê sợ nhất đối với một con người mà đáng thương hơn, bà lại là một người mẹ nhạy cảm và rất giàu ân nghĩa.

Không phải ngẫu nhiên trong tác phẩm Con chim nhỏ trong lồng, hơn một lần chi tiết “chiếc khung hình” ghi nhận kỷ niệm tình yêu, tình cảm vợ chồng của bà mẹ được tác giả miêu tả lặp đi lặp lại: “cái mà tôi cần chính là chiếc khung hình đặt trên chiếc bàn nhỏ bên giường (…) tôi bỏ khung hình vào túi áo, đó là kho tàng của tôi”. Có lẽ, trong hoàn cảnh bi đát của thực tại bà mẹ chỉ còn biết nâng niu tấm hình duy nhất còn lại khi cùng “chồng đứng ôm nhau quay lưng về phía biển trong một buổi sáng rực rỡ ánh mặt trời”, như nâng niu một báu vật, như muốn lưu giữ một chút hạnh phúc cuối cùng còn lại trong Cõi Người mà bà trân quí để có thêm niềm an ủi và nghị lực tồn tại trong những ngày còn lại của cuộc đời. Elena đã rất tinh tế khi chia sẻ cùng nhân vật của mình những nỗi đau, sự tiếc nuối và khát vọng hạnh phúc vốn là những hằng số của phận người trong kiếp nhân sinh.. Với sự nghiệm sinh trong “bao nhiêu năm làm kiếp con người” (lời nhạc Trịnh Công Sơn) cùng với sự tinh tế của một người phụ nữ vốn mang trong tâm thức mình sự hợp lưu của hai nền văn hóa Đông – Tây, ELena muốn chia sẻ với chúng ta một thông điệp nhân văn của một tâm thức hiện sinh: Ai cũng có một thời tuổi trẻ hạnh phúc và cũng có một tuổi già sống trong lặng lẽ, cô độc. Và cuộc sống chính là hành trình đi đến cái chết. Qui luật ấy không có ngoại lệ. Vì thế, người trẻ hãy hiểu và trân trọng quá khứ của những người già, bởi đó là quy luật, rồi cũng sẽ đến lượt mình nếm trải… 

Một điều không thể không nói đến đó là sự sắc sảo của ngòi bút Elena trong miêu tả tâm lý của một bà mẹ bất hạnh. Sự căng thẳng, mệt mỏi, bức bối của bà mẹ được nhà văn tái hiện sinh động theo lược đồ tăng dần để khắc họa rõ hơn bi kịch mất tự do của bà mẹ. Bị dồn đẩy đến chân tường của sự cô độc, héo mòn giữa bốn bức tường, cuộc sống chẳng khác nào địa ngục, bà mẹ tội nghiệp giãy giụa mong tìm lối thoát khỏi vòng vây, sinh lực của bà mẹ như ngọn đèn dầu leo lét, cạn kiệt theo ngày tháng: “Tôi thấy khó thở và không ngủ được…Nhiều đêm tôi mò mẫm đi dọc theo tường nhà, như muốn tìm một lối thoát không hề có… Sự khiếp đảm và kinh hoàng đẩy tôi qua lại giữa những chồng gạch xây cao, như con chim bị nhốt trong lồng đang tuyệt vọng tìm cách vượt qua những chấn song để tìm tự do. Cũng như chim, ý thức về sự bất lực của mình, tôi đành phải qui hàng, rồi thẫn thờ và mệt nhọc quay lại giường ngủ. Mở to mắt, tôi trừng trừng nhìn bóng đêm rồi nước mắt cứ trào ra, ướt gối. Bằng những ngón tay run rẩy tôi siết chặt cái kho tàng của mình, phút giây chớp nhoáng của niềm hạnh phúc, như thể nó sẽ giúp tôi thoát khỏi nơi đây, giải phóng khỏi những niềm đau...”.  Giọng tự sự chậm rãi, với sự tưởng tượng phong phú, Elena đã hóa thân vào nhân vật, để dẫn dụ người đọc cảm nhận từng khoảnh khắc của sự tù túng, đớn đau tan nát cõi lòng và khát vọng tự do ở con người, dù đó chỉ là những mong ước trong tuyệt vọng…
  
Kết thúc truyện ngắn Con chim nhỏ trong lồng là hình ảnh bà mẹ: “Thả mình bay qua khung cửa sổ, rơi tự do trong không khí. Trên môi tôi vẫn nở một nụ cười, thật ngọt ngào, để khỏi phải hét lên, sợ làm phiền người khác”. Cái kết khiến người  đọc bàng hoàng thương xót, đồng thời cũng nhận ra đây là kết cục không tránh khỏi của một tấn bi kịch trong một xã hội mà ở đó nhân vị con người không có chỗ đứng. Cái chết của bà mẹ có thể xem là một cách giải thoát (dù đó là cách giải thoát đầy tiêu cực), và cũng là một kết cục tất yếu trong một Cõi Người mà chính ngay cả những người ruột thịt cũng không  biết thương yêu nhau bởi mải mê chạy theo những thứ vinh hoa phù phiếm, vô nghĩa. Niềm tâm tư của bà Cụ khi tìm đến với cái chết để được tự do trong thế giới vĩnh hằng, để thoát khỏi những dằn vặt, khổ tâm và hơn nữa là để đỡ “làm phiền người khác” như cách bà suy nghĩ không khỏi làm lòng ta xa xót và trí ta không khỏi nhưng ưu tư về thân phận con người?!. Truyện ngắn Elena vì thế đã vượt lên khuôn khổ của những bài giáo huấn đạo đức thường tình để vươn đến một tầm cao triết luận mang màu sắc hiện sinh và phải chăng, đây cũng là cách xử lý  nghệ thuật đầy dụng ý để chuyển tải tư tưởng nhân văn của tác giả?!

Nếu Con chim nhỏ trong lồng khiến bạn đọc cảm thương sâu sắc cho thân phận một người mẹ bị chính con mình bỏ quên trong đơn độc thì Chút hơi ấm cuối cùng lại là một câu chuyện thương tâm về người cha bị con cái “lãnh đạm, khinh thường và bạc bẽo” và đây cũng là một dạng khác của bi kịch gia đình và bi kịch phận người trong sân khấu của Cõi Người đầy rối ren. Trong truyện tác giả tập trung khắc họa hình ảnh người cha khốn khổ chạy trốn khỏi những nơi “hoành tráng” (như bệnh viện, ngôi nhà của các con) nhưng hoang lạnh, thiếu vắng yêu thương. Trong sự tuyệt vọng tột cùng, người cha bấu víu chút “hơi ấm cuối cùng” bằng cách trở về quá khứ cùng giấc mơ hạnh phúc bên người phụ nữ mình yêu thương đã “không còn trên cõi đời này nữa”. Dưới ngòi bút của Elena chân dung người đàn ông bất hạnh hiện lên lúc chới với đắm chìm trong hoài niệm, khi u uất trở về thực tại  đầy day dứt, xót xa: “Em yêu ơi, em có biết sự cô đơn là một căn bệnh trầm kha?(...) Anh không thể tưởng tượng là em sẽ đau đớn như thế nào khi nhìn thấy những đứa con cười chế diễu khi nhìn những bức hình của chúng mình âu yếm bên nhau, chứng kiến những quyển sách yêu thích bị ném đi tung tóe. Chúng đã vứt đi mọi thứ, như loại bỏ mình, bởi vì sự hiện hữu của chúng mình lúc tuổi già đang làm phiền chúng (…). Đủ rồi! Anh không muốn phung phí những giây phút cuối cùng này để nghĩ đến những kẻ vô tình bạc nghĩa (…). Khô khốc và tham lam, đấy chính là những thứ mà các con đã trở thành (…) Nhưng nỗi đau lớn nhất vẫn là bị bao vây bởi đám diều hâu tham ác này, chúng đang chờ đợi và thèm rỏ dãi đoạn kết đời anh để thừa hưởng gia tài, rồi sau đó còn lớn tiếng rêu rao là đã ở kề cận cha mình cho đến phút lâm chung! Bọn khốn kiếp! Giả nhân giả nghĩa!”. Còn gì khổ tâm, phiền não hơn khi những người làm cha, làm mẹ nhận ra sự vô cảm, vô ơn, giả dối, tàn nhẫn của những đứa con mà họ đã đứt ruột sinh thành, nuôi nấng?!

Với cách xử lý nghệ thuật tinh tế, khéo léo, sử dụng phương thức tự sự kiểu độc thoại nội tâm, giọng điệu trần thuật khi nhỏ nhẹ, dịu dàng, khi giận dữ, đau khổ tác giả đã giúp bạn đọc hình dung rõ “con người bên trong con người” với thế giới tinh thần bị tổn thương đau đớn đến tê dại của người cha có những đứa con phản phúc, vô đạo. Truyện ngắn Chút hơi ấm cuối cùng đã lột mặt nạ những đứa con độc ác, tàn nhẫn, tột cùng vô liêm sỉ trong xã hội kim tiền láo nháo. Đồng thời, với trách nhiệm và lòng yêu thương con người, Elena gửi đến bạn đọc thông điệp mang ý nghĩa cảnh báo mạnh mẽ:  ma lực đồng tiền và những ham muốn, tham lam vật chất luôn ẩn tàng sức mạnh hủy hoại nhân tính một cách lạnh lùng, tàn khốc nhất;  nếu mỗi chúng ta không giữ bản lĩnh trước ám ảnh lấp lánh ma mị của đồng tiền, sự lôi cuốn của vật chất thì cuối cùng con người cũng chỉ là một con vật vô cảm, không có trái tim mà thôi, và cõi Người sẽ đến ngày tận thế!  

Ở thế kỷ XIX, nhà văn hiện thực vĩ đại người Pháp Honoré de Balzac (1799- 1850) cũng đã từng cảnh báo nhân loại về sức công phá khủng khiếp của đồng tiền đối với tình nghĩa cha con qua tiểu thuyết bất hủ Lão Gôriô. Thời nay, với cách thể hiện mới mẻ theo quan niệm của riêng mình qua những trang văn đầy cảm xúc, Elena Pucillo Truong khiến bạn đọc ghê sợ ma lực của đồng tiền và sự công phá của nó với những giá trị văn hóa tưởng như bền vững, thiêng liêng nhất. Và khi biết sợ cái xấu, cái ác có nghĩa là con người sẽ tìm về với cái thiện, cái đẹp, có ý thức trân trọng, giữ gìn những gì thuộc giá trị nhân văn và đây cũng là điều mà truyện ngắn của Elena thức nhận nơi người đọc. Và phải chăng đó chính là thành công và là niềm hạnh phúc lớn nhất của người cầm bút trong việc thực hiện thiên chức của mình!?  
    
Cũng đề cập đến vấn đề tình cảm gia đình nhưng trong Dải ruy băng màu tím Elena lại tìm cách cắt nghĩa một phương diện khác trong cách ứng xử của con cái với cha mẹ trong xã hội hiện đại: dù không vì tiền bạc tàn nhẫn chà đạp lên tình cảm gia đình nhưng nếu con cái không ý thức được hết trách nhiệm và niềm hạnh phúc khi được sống bên cha mẹ thì cuối cùng cũng sẽ chuốc lấy những ân hận, đau khổ.
    
Công cuộc mưu sinh, mải mê kiếm tìm tương lai, hạnh phúc trên xứ người khiến nhân vật “tôi” phải trả giá quá đắt. Sau mười năm bôn ba để trở thành “một người đàn ông trưởng thành và rất tự hào về những điều mình thực hiện”, khi trở về quê hương, xứ sở anh ta phải đối diện với tấn bi kịch gia đình hết sức đau lòng: “Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ... họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất. Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số... “ mất ngày...” “ từ trần ngày...”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi”. Lương tâm cắn rứt, nỗi ân hận muộn màng của người con khiến trái tim người đọc như bị bóp chặt trước bi kịch này: “Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có một mục đích. Còn bây giờ... Hình như tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu và không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi cũng bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà”...
    
Những dằn vặt khổ đau, trống rỗng, mất điểm tựa, mất niềm tin của nhân vật cho chúng ta thấm thía sâu sắc một kinh nghiệm sống: Gia đình, nhất là bố mẹ, cho dù ở đâu trong hoàn cảnh nào cũng luôn luôn là nguồn an ủi, động viên, là nơi tiếp thêm sức mạnh cho mỗi con người. Không còn cha mẹ và gia đình con người trở nên bơ vơ, mất phương hướng. Chính vì vậy, vòng cuốn của công việc mưu sinh có nghiệt ngã đến đâu chúng ta cũng không được xao nhãng, lãng quên sự gắn bó với gia đình, với những người thân của mình. Tiền bạc, sự giàu có không thể thay thế, không thể mua bán/đánh đổi/ lấy lại những gì thuộc về tình cảm quý giá của cuộc đời mỗi con người. Hãy trân trọng mỗi phút giây hiện hữu bên những người thân yêu trong gia đình, nhất là với những đấng sinh thành, bởi vì khi thời gian lấy đi sức khỏe và tuổi tác của cha mẹ thì mãi mãi những đứa con sẽ phải chia xa họ vĩnh viễn, và khi đó sự hối hận và những dòng nước mắt nhớ thương chỉ còn là trò diễn vô nghĩa của cuộc sống mà thôi! Thiết nghĩ, trong xã hội hiện đại ngày nay, khi con người ngày càng bị trói chặt vào vòng vây của công việc và tham vọng cá nhân thì lời nhắc nhở trên như một sự cảnh tỉnh, định hướng cho những lựa chọn mang tính văn hóa của mỗi người.

Tấn bi kịch sống trong cô độc và chết thảm thương của những bà mẹ, ông bố trong truyện ngắn Con chim nhỏ trong lồng, Chút hơi ấm cuối cùng, Dải ruy băng màu tím gợi bạn đọc suy ngẫm về trách nhiệm, tình yêu thương của con cái với cha mẹ lúc tuổi già, rộng hơn nữa là cách đối nhân xử thế bao dung, độ lượng, vị tha giữa con người với con người. Phải chăng, từ những câu chuyện dung dị nhưng đầy ý nghĩa này, Elena muốn chia sẻ với bất cứ ai đang sống trong Cõi Người: Khi nền tảng giá trị văn hóa gia đình bị phá vỡ, đồng thời sẽ kéo theo sự băng hoại của hàng loạt các giá trị văn hóa nhân văn khác. Do vậy, để yêu thương những gì lớn lao hơn, trước hết con người phải biết yêu thương những người thân trong gia đình của chính mình - và chỉ khi nào gia đình-tế bào của xã hội thực sự là chỗ dựa tinh thần, là nguồn sống của mỗi người thì mỗi người  mới có thể cảm nhận được hạnh phúc và những giá trị đích thực của cuộc sống mà thôi!
  
Khác với kiến tạo tiểu thuyết, lao động nghệ thuật để kiến tạo một truyện ngắn buộc nhà văn phải khéo léo xoay trở trên một “mảnh đất” chật hẹp. Chính vì sức khái quát bức tranh đời sống là nguyên tắc của việc kiến tạo truyện ngắn nên điều này đòi hỏi mọi yếu tố cấu thành tác phẩm phải chặt chẽ, cô đọng, phải được chọn lọc tới mức tinh xảo. Đây là công việc khổ sai của kẻ “phu chữ” (từ dùng của Lê Đạt). Đọc truyện ngắn của Elena, có thể nhận thấy nhà văn đã có ý thức “nén” câu chữ một cách tối đa để mang lại hiệu quả cho bạn đọc khi tiếp nhận tác phẩm. Những truyện Trên đỉnh núi thiêng, Đợi chờ, Cuộc hẹn ở sân ga, Món quà đặc biệt, Vàng trên biển đá đen, Dòng máu nhiễm độc… đã tuân theo quy luật khắc nghiệt này. Với những “mảnh vỡ” tưởng như rất nhỏ bé, truyện của Elena góp phần tạo nên chân dung đa diện của Cõi Người. Cuộc sống bộn bề đan xen nhiều cung bậc: niềm vui và nỗi buồn, hy vọng và thất vọng, cái ác và cái thiện, cái tốt và cái xấu, cao cả và thấp hèn… tất cả sẽ trở thành chất liệu để nhà văn thể hiện thái độ và suy tư của mình về thân phận, về cuộc đời. Và đây cũng là điều chúng ta cảm nhận được từ vũ trụ văn chương của Elena.

Với giọng kể chậm rãi, cuốn hút, hấp dẫn, nhiều tình tiết được dàn dựng bất ngờ, truyện ngắn Phía sau sự thật phát hiện và khẳng định một vấn đề có tính qui luật mà không phải trong cuộc sống ai cũng nhận ra, thậm chí nhiều khi có người còn bị bề ngoài hào nhoáng đánh lừa. Và qui luật này đã được Elena khái quát như một tất yếu: “Nhiều khi bề ngoài chẳng phải là sự thật”- không nên đánh giá con người chỉ qua bề ngoài, bởi đơn giản nhiều khi nó chỉ là những lớp mặt nạ được sơn phết mà thôi.

Búp bê bằng sáp là câu chuyện có dung lượng rất ngắn nhưng hàm súc và ấn tượng, tác giả tỏ thái độ châm biếm, không chấp nhận một kiểu phụ nữ bị biến thành con “búp bê bằng sáp” đẹp nhưng vô hồn, vô cảm, sống thụ động, thiếu cá tính, sống theo ý muốn của người khác chứ không phải sống cuộc sống của chính mình. Khi nhân vật nhận ra sự vô nghĩa của kiếp người: “Bây giờ thì tôi thực hoàn hảo cho anh! Một con búp bê để trưng bày cho người khác biết về sự giàu sang và vị trí xã hội của anh. Lạnh lùng. Tách biệt. Mang khuôn mặt  vô cảm như sáp  và không hề biểu lộ cảm xúc” thì cũng là lúc “tôi” tự kết thúc một cuộc đời làm “búp bê” cho kẻ khác nhào nặn.  Và phải chăng đây cũng là một tấn bi kịch của con người trong Cõi Người mà Elena đã thể hiện để làm phong phú cho bức tranh nhân thế trong thế giới văn chương của mình mà nếu không có sự quan sát cuộc đời tinh tế của một nhà văn giàu lòng nhân ái thì không dễ gì phát hiện được. Bởi trong xã hội hiện nay có bao người đang tự nguyện để người khác “nặn” mình thành một thứ “búp bê bằng sáp” để được hưởng những  hư danh rẻ tiền mà người đời ban phát. Truyện ngắn Elena vì thế có giá trị như một thứ “thuốc thử” để thanh lọc nhân cách và tâm hồn con người - giúp con người nhận ra chính mình để sống bản lĩnh, tốt đẹp hơn vốn là một phẩm tính mà văn chương đích thực hướng đến.

Với tấm lòng bao dung, nhân hậu, trong truyện ngắn của mình, Elena Trương bao giờ cũng dành cho những nhân vật phụ nữ bất hạnh một con đường mở - con đường để nhân vật tự nhận thức và sám hối. Trong tận cùng bi kịch là sự lựa chọn giữa sống vô nghĩa và chết có nghĩa, tác giả đã để cho nhân vật dám chết để khẳng định nhân phẩm của mình: “Những cánh hoa máu trên môi tôi và màu máu tươi lấm lem loang đầy trên cánh tay... và với nụ cười cuối cùng, tôi buông người xuống nệm, sẵn sàng cho màn diễn cuối. Máu chảy sẽ làm trái tim tôi băng giá”. Người phụ nữ này chọn cái chết để giải thoát mình khỏi “một cuộc hôn nhân được sắp xếp như tất cả những cuộc hôn nhân”, “lấy nhau mà không có tình yêu hay đam mê”- “Chết” ở đây không có nghĩa là kết thúc mà chết là sự giải thoát khỏi cảnh “cá chậu, chim lồng”, chết để vươn tới khát vọng và bầu trời tự do của riêng mình...

Truyện ngắn Trên đỉnh núi thiêng tái hiện những suy nghĩ và cảm xúc phức tạp của con người khi con người vượt qua được thử thách của chính mình. Có lẽ qua câu chuyện chinh phục độ cao “đỉnh núi thiêng” thành công của một cô gái trẻ tuổi, Elena muốn gửi đến chúng ta một thông điệp giản dị, quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ: Chiến thắng chính bản thân mình là chiến thắng khó khăn nhất nhưng cũng là chiến thắng mang lại cảm giác hạnh phúc, tự hào nhất!

Vàng trên biển đá đen là một phát hiện của tác giả về Cõi Người trên “cao nguyên đá”: “cuộc sống thật khó nhọc và đầy bi thảm”. Thiên nhiên trên vùng cao nguyên đá Hà Giang qua ngòi bút của Elena trở nên vừa quen, vừa lạ...vừa khắc nghiệt vừa nên thơ. Đây là một truyện ngắn cho thấy vốn sống phong phú của nhà văn Elena. Tấm lòng rộng mở và những quan sát đời sống tinh tế của chị thấm đượm một tinh thần nhân văn cao quý.

Có một điểm đặc biệt, trong truyện ngắn của Elena hình ảnh người Mẹ luôn trở đi trở lại: Thư viết cho Mẹ, Cuộc hẹn ở sân ga, Đợi chờ, Món quà đặc biệt. Trong mỗi câu chuyện, Mẹ hiện lên với nhiều dáng vẻ, tính cách khác nhau: hiền dịu, cô đơn, chịu thương chịu khó, tinh tế, khéo léo, nhẫn nhịn chịu đựng, hy sinh… chung quy, hình tượng Mẹ trong truyện ngắn Elena là sự kết tinh giá trị văn hóa vĩnh hằng: trong Cõi Người đầy khó khăn, vất vả, nhiều cạm bẫy, Mẹ luôn luôn là chỗ dựa tinh thần lớn lao nhất cho những đứa con, mẹ là niềm tin, là sức mạnh để con tự tin đi trên con đường nhiều thách thức, hướng tới tương lai. Ngay cả khi đã yên nghỉ ngàn năm, mẹ vẫn là bến đợi vĩnh viễn và duy nhất của mỗi con người…
       
A. Tônxtôi từng nhận định: “Truyện ngắn là một trong những thể tài văn học khó nhất. Về nội dung cũng như về tư tưởng, nó không khác gì tiểu thuyết…chỉ có điều do ngắn nên khó hơn…Truyện ngắn đòi hỏi một công phu lao động lớn”. Ngắn ở truyện ngắn đồng nghĩa với cô đọng, tinh chất - nhìn vào đó có thể thấy cuộc sống hiện ra với đủ sắc màu của nó. Sự thách đố ở đây là năng lực khái quát được bức tranh cuộc sống rộng lớn trong một dung lượng ngôn từ tối giản nhất! Truyện ngắn của Elena Pucillo Truong đã vượt qua những thử thách cam go ấy. Mỗi truyện ngắn trong Vàng trên biển đá đen là một “lát cắt” sinh động về đời sống, sự sáng tạo những kết cấu truyện chặt chẽ, cách trần thuật giản dị, ngắn gọn, tạo dựng tình huống một cách tài hoa đã mang lại sự hấp dẫn riêng có của truyện ngắn Elena Pucillo Truong. Mỗi truyện ngắn là một sự cắt nghĩa, một phát hiện mới, tinh tế về cuộc sống, con người trong xã hội hiện đại phong phú, phức tạp, đầy bất an, thử thách lòng người… 
    
Từ những góc nhìn sáng tạo, nhà văn Elena Pucillo Truong luôn có ý thức làm mới ngòi bút của mình để đem đến cho người đọc những khoảnh khắc thú vị bất ngờ của hiện hữu. Đằng sau mỗi câu chuyện về những điều tưởng chừng rất nhỏ của mỗi thân phận là những thông điệp về Cõi Người muôn màu, muôn vẻ, vừa quen vừa lạ. Thông điệp đó có lúc là lời cảnh báo, có khi là sự ngợi ca,  phê phán, đồng tình, lúc lại là nỗi ưu tư, niềm trắc ẩn, mong ước, tin yêu, hy vọng… và trên hết là tinh thần trân trọng những giá trị nhân văn, nhân bản với khát khao tha thiết hướng về những gì tốt đẹp nhất cho con người và vì con người… Những điều đó chính là cơ sở làm nên giá trị đặc sắc trong truyện ngắn của Elena Pucillo Trương và cũng là sức hút “vẫy gọi” bạn đọc đến với thế giới văn chương của Chị. Truyện ngắn Elena, vì thế là những sẻ chia của những tâm hồn đi tìm sự tri âm muốn vươn đến khát vọng chân thiện mỹ ở xã hội hiện đại đầy  biến động. Hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy những điều tốt đẹp ấy khi đến với tập truyện ngắn Vàng trên biển đá đencủa nữ văn sĩ Elena Pucillo Truong...

      Hà Nội, thu 2017
CAO THỊ HỒNG
Nguồn: NVTPHCM




BÀI MỚI ĐĂNG

NGUYỄN PHAN QUẾ MAI - HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...